Soạn bài Thương nhớ mùa xuân giúp em chuẩn bị bài và trả lời đủ các câu hỏi ở trang 56 – 61, Bài 7 (Tùy bút, tản văn, truyện kí), sách Ngữ văn 11 Cánh diều tập hai. Đây là văn bản đọc mở đầu bài học, một trang tùy bút của Vũ Bằng viết về tháng Giêng ở Hà Nội khi nhà văn đang sống xa quê.
Nếu đã học lớp 7 sách Kết nối tri thức, em sẽ nhận ra phần lớn đoạn trích này từng xuất hiện dưới nhan đề Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt. Bản Cánh diều dài hơn, giữ thêm đoạn dạo chơi Hồ Gươm, cảnh nhà cửa sau Tết và trọn phần viết về trăng tháng Giêng; hệ thống câu hỏi cũng khác, tập trung vào đặc trưng thể loại tùy bút.
Tìm hiểu chung về văn bản Thương nhớ mùa xuân
Nắm vài nét về tác giả, hoàn cảnh ra đời và cách chia đoạn sẽ giúp em theo kịp mạch cảm xúc vốn rất tự do của bài tùy bút.

Tác giả Vũ Bằng
- Vũ Bằng (1913 – 1984), tên khai sinh Vũ Đăng Bằng, sinh ở Hà Nội, quê gốc ở Lương Ngọc (Bình Giang, Hải Dương).
- Ông cầm bút từ rất trẻ: mười sáu tuổi đã có truyện in báo, mười bảy tuổi ra mắt cuốn Lọ văn. Trước năm 1945, ông là cây bút quen thuộc của nhiều tờ báo ở Hà Nội.
- Sau năm 1954, ông vào Sài Gòn, vừa viết văn, làm báo, vừa bí mật hoạt động cho cách mạng. Năm 2007, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước ở lĩnh vực văn học nghệ thuật.
- Sở trường: truyện ngắn, tùy bút, bút kí. Tác phẩm tiêu biểu: Miếng ngon Hà Nội, Miếng lạ miền Nam, Bốn mươi năm nói láo, Thương nhớ mười hai. Đọc thêm về cuộc đời nhà văn ở bài chân dung Vũ Bằng.
Xuất xứ, thể loại
- Xuất xứ: đoạn trích là phần nói về tháng Giêng, nằm ở chương đầu của tập Thương nhớ mười hai; SGK in theo bản do NXB Văn học phối hợp với một hội chuyên nghiên cứu và dạy văn ở TP Hồ Chí Minh ấn hành năm 1989, có lược một vài đoạn (đánh dấu […]).
- Hoàn cảnh: theo lời giới thiệu trong SGK, tập tùy bút ra đời khi đất nước bị chia cắt, tác giả ở miền Nam, không thể trở về đất Bắc. Mỗi chương ứng với một tháng trong năm, ghi lại thiên nhiên, phong tục, nếp sống của người Bắc Bộ, qua đó kín đáo nói lên tình yêu Hà Nội và mong ước đất nước liền một dải.
- Thể loại: tùy bút – người viết ghi lại cảm xúc, suy tưởng của mình một cách phóng túng, đan xen kể, tả và bộc lộ trực tiếp.
- Phương thức biểu đạt: biểu cảm là chủ đạo, kết hợp miêu tả và tự sự.
Bố cục văn bản (3 phần)
- Phần 1 (từ đầu đến “mê luyến mùa xuân”): lòng yêu mùa xuân là điều tự nhiên, ai cũng có.
- Phần 2 (tiếp theo đến “mở hội liên hoan”): cảnh sắc, không khí xuân Hà Nội và sức sống mùa xuân khơi dậy trong lòng người.
- Phần 3 (còn lại): vẻ đẹp riêng của những ngày sau rằm tháng Giêng, đêm trăng tháng Giêng và nỗi nhớ của người xa nhà.
Soạn bài Thương nhớ mùa xuân – Chuẩn bị (trang 56)
Phần chuẩn bị yêu cầu em xem lại mục Kiến thức ngữ văn về tùy bút, đọc trước văn bản và đọc lời giới thiệu bối cảnh của đoạn trích.
Câu 1: Những điểm cần chú ý khi đọc văn bản tùy bút (trang 56)
Khi đọc văn bản tùy bút, cần chú ý: đề tài; kết cấu; những chi tiết gây ấn tượng; tình cảm, cảm xúc của cái “tôi” tác giả; ngôn ngữ giàu chất thơ; giá trị văn hóa được đề cập và mối liên hệ với cuộc sống hôm nay, với bản thân em.
Trả lời:
- Đề tài: mùa xuân đất Bắc, cụ thể là tháng Giêng ở Hà Nội, được nhớ lại từ phương xa.
- Kết cấu: đi theo dòng cảm xúc, từ nhận xét chung về lòng người với mùa xuân, đến mùa xuân Hà Nội, rồi khoảng thời gian sau rằm tháng Giêng mà tác giả yêu nhất.
- Chi tiết ấn tượng: mưa riêu riêu, cái rét ngọt; bàn thờ tổ tiên nghi ngút nhang trầm; bữa cơm thanh đạm sau Tết; vầng trăng tháng Giêng được ví với người thiếu nữ e lệ.
- Cái “tôi” tác giả: say mê, đắm đuối với mùa xuân, đồng thời mang nỗi nhớ quê khắc khoải của một người không được trở về.
- Ngôn ngữ giàu chất thơ: câu văn dài, nhịp nhàng, nhiều so sánh, điệp ngữ, câu cảm thán; từ ngữ gợi cảm giác tinh tế.
- Giá trị văn hóa: nếp sinh hoạt Tết cổ truyền, đạo hiếu với tổ tiên, sự đầm ấm của gia đình người Hà Nội – những điều vẫn đáng gìn giữ trong đời sống hiện nay.
Câu 2: Tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Vũ Bằng (trang 56)
Đọc trước văn bản Thương nhớ mùa xuân, tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Vũ Bằng.
Trả lời:
Em có thể ghi nhớ ba điểm. Thứ nhất, Vũ Bằng là người Hà Nội, gắn bó với nghề báo, nghề văn từ tuổi mười sáu. Thứ hai, từ năm 1954 ông sống ở Sài Gòn, cách biệt gia đình và quê nhà trong suốt thời gian đất nước chia cắt; chính nỗi xa cách ấy làm nên những trang hồi ức đầy thương nhớ như Thương nhớ mười hai. Thứ ba, văn ông nổi bật ở cảm giác tinh tế, giọng văn tài hoa và tình yêu sâu nặng với cảnh sắc, món ăn, phong tục của đất Bắc.
Đọc hiểu – Câu hỏi trong khi đọc (trang 57 – 60)
Các câu hỏi ở lề sách nhắc em dừng lại ở từng chặng cảm xúc của bài tùy bút.
Câu 1: Cách tác giả giới thiệu về tháng Giêng và mùa xuân (trang 57)
Chú ý cách tác giả giới thiệu về tháng Giêng và mùa xuân.
Trả lời:
Vũ Bằng mở đầu bằng một khẳng định giản dị như chân lí: “Tự nhiên như thế: ai cũng chuộng mùa xuân.” Liền sau đó, ông đặt tháng Giêng vào vị trí đặc biệt vì là tháng mở màn cho mùa xuân, nên càng được quý mến. Để thuyết phục, tác giả dùng chuỗi vế câu lặp lại cấu trúc ai bảo được, ai cấm được để so sánh tình yêu mùa xuân với những tình cảm không ai ngăn nổi: núi với nước, bướm với hoa, trai với gái, mẹ với con. Cách giới thiệu vì thế vừa có lí lẽ, vừa đầy cảm xúc, khiến người đọc thấy yêu mùa xuân là chuyện hiển nhiên.
Câu 2: Đặc điểm của cảnh sắc và con người Hà Nội vào mùa xuân (trang 58)
Cảnh sắc và con người Hà Nội vào mùa xuân có đặc điểm gì?
Trả lời:
- Cảnh sắc: “mưa riêu riêu, gió lành lạnh”; trời đất mang mang; đêm xanh vang tiếng nhạn; tiếng trống chèo vọng về từ làng xa; mặt hồ in bóng người qua lại. Đó là vẻ đẹp dịu dàng, ẩm ướt, hơi se lạnh rất riêng của miền Bắc.
- Con người: rộn ràng, thanh lịch và tình cảm. Người ta khoác áo ấm đi dạo, ngắm hồ Gươm, vào chùa lễ Phật, nghe hát mừng xuân, lì xì “lấy may”; trong nhà, con cháu đoàn tụ trước bàn thờ tổ tiên, trên kính dưới nhường. Ai cũng như trẻ lại, thấy lòng mình cần yêu thương.
Câu 3: Cảm xúc của nhân vật “tôi” trước mùa xuân (trang 58)
Cảm xúc của nhân vật “tôi” trước mùa xuân thế nào?
Trả lời:
Nhân vật “tôi” say sưa, náo nức đến mức không kìm được. Mùa xuân khiến lòng người như có men say dù không uống rượu, khiến người ta “muốn phát điên lên” và “Ngồi yên không chịu được.” Sức sống trong người được ví với nhựa cây đang chực trào thành lộc non. Trở về nhà, đứng giữa hương trầm và không khí sum họp, “tôi” lại thấy ấm áp lạ lùng, trong lòng như có hoa nở, bướm bay. Đó là niềm vui sống mãnh liệt, trẻ trung, rất chân thành.
Câu 4: Tác giả bày tỏ cảm xúc gì ở phần 3? (trang 59)
Ở phần 3, tác giả bày tỏ cảm xúc gì về mùa xuân Hà Nội?
Trả lời:
Phần 3 mở ra bằng một tiếng reo: “Đẹp quá đi, mùa xuân ơi — mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến.” Tác giả vừa ngợi ca, vừa gọi mùa xuân như gọi người thân. Ông còn thổ lộ một tình riêng: yêu nhất quãng thời gian đã qua rằm tháng Giêng, khi Tết đã lui mà dư vị chưa tan. Cảm xúc ở đây lắng hơn phần trước: đó là sự trìu mến với cái êm đềm, bình dị của đời thường, xen lẫn nỗi nuối tiếc vì tất cả chỉ còn trong hồi ức.
Câu 5: Thời tiết đặc trưng của Hà Nội sau rằm tháng Giêng (trang 60)
Thời tiết đặc trưng của Hà Nội sau rằm tháng Giêng như thế nào?
Trả lời:
- Trời hết nồm; mưa phùn nhường chỗ cho mưa xuân, bầu trời không còn đục mờ mà đã lộ những vệt xanh tươi.
- Buổi sáng có ánh hồng nhè nhẹ rung rinh trên nền trời; ong đã bay đi tìm nhị hoa.
- Không nóng mà cũng chẳng rét: “Bảo là nóng ư? Không. Bảo là rét ư? Không.” Hơi lạnh chỉ còn “vương trên ngọn xoan đào”, còn đất vườn thì khô ráo, mịn màng.
- Đêm vẫn rét nhưng là cái rét dịu, đủ để đắp chăn mà ban ngày không cần áo ấm.
⇒ Thời tiết giao mùa dịu dàng, dễ chịu, được cảm nhận bằng nhiều giác quan rất tinh tế.
Câu 6: Điều đặc biệt của trăng tháng Giêng trong tâm trí tác giả (trang 60)
Trong tâm trí tác giả, trăng tháng Giêng có gì đặc biệt?
Trả lời:
Trăng tháng Giêng là trăng “non”, được ví với người con gái tuổi xuân mơn mởn. Theo tác giả, trăng tháng này đẹp hơn mọi tháng: sáng mà không rực rỡ như trăng thu, đẹp mà không nhợt nhạt như trăng tháng Một. Vẻ đẹp ấy giống cô gái trinh nguyên e ấp, thẹn thùng một mình. “Ánh trăng lúc ấy không vàng mà trắng như sữa, trong như nước ôn tuyền.” Nằm dưới trăng, nhà văn như nghe được tiếng trăng thì thầm. Trăng đã được nhân hóa thành một người tình dịu dàng, gắn với những đêm xuân bình yên của gia đình.
Đọc hiểu – Câu hỏi sau khi đọc (trang 61)
Sáu câu hỏi cuối bài giúp em khái quát đề tài, kết cấu, cái “tôi” tác giả và nét riêng của thể tùy bút.
Câu 1: Đề tài của văn bản (trang 61)
Đề tài của văn bản Thương nhớ mùa xuân là gì? Dựa vào đâu để em biết được điều đó?
Trả lời:
- Đề tài: mùa xuân (cụ thể là tháng Giêng) ở Hà Nội và miền Bắc, gắn với nỗi nhớ quê hương.
- Căn cứ: nhan đề có hai chữ “mùa xuân”; lời giới thiệu cho biết đoạn trích viết về tháng Giêng; toàn bộ hình ảnh, sự việc trong bài (mưa xuân, cái rét ngọt, Tết, rằm tháng Giêng, trăng tháng Giêng) đều xoay quanh mùa xuân đất Bắc.
Câu 2: Nội dung từng phần và mạch lô-gíc của văn bản (trang 61)
Xác định nội dung chính của mỗi phần trong văn bản Thương nhớ mùa xuân. Theo em, mạch lô-gíc chính gắn kết các phần của văn bản là gì?
Trả lời:
| Phần | Nội dung chính |
| Phần 1: từ đầu đến “mê luyến mùa xuân” | Khẳng định yêu mùa xuân là lẽ tự nhiên của lòng người, như mọi tình cảm thiêng liêng khác. |
| Phần 2: tiếp theo đến “mở hội liên hoan” | Mùa xuân Hà Nội: cảnh vật, thú chơi xuân, sức sống bừng dậy trong con người và hơi ấm gia đình đoàn tụ. |
| Phần 3: phần còn lại | Quãng thời gian đã qua rằm tháng Giêng: khí trời, nếp sống trở lại thường ngày, đêm trăng xuân và nỗi nhớ của người xa nhà. |
Mạch lô-gíc gắn kết ba phần là dòng cảm xúc, hồi tưởng của nhà văn hướng về mùa xuân: đi từ cái chung (ai cũng yêu xuân) đến cái riêng (“mùa xuân của tôi”, mùa xuân Hà Nội), rồi thu hẹp vào khoảnh khắc riêng nhất (sau rằm tháng Giêng). Càng về cuối, cảm xúc càng sâu, càng thấm nỗi nhớ thương.
Câu 3: Tình cảm, cảm xúc của cái “tôi” tác giả (trang 61)
Cái “tôi” tác giả trong văn bản thể hiện tình cảm, cảm xúc gì? Hãy dẫn ra một số câu văn thể hiện rõ tình cảm, cảm xúc ấy.
Trả lời:
Cái “tôi” của Vũ Bằng thể hiện tình yêu nồng nhiệt với mùa xuân, với Hà Nội và gia đình, đi kèm niềm nhớ khắc khoải của một người con buộc phải xa quê. Một số câu văn tiêu biểu:
- Niềm say mê: “Ấy đấy, cái mùa xuân thần thánh của tôi nó làm cho người ta muốn phát điên lên như thế đấy.”
- Tiếng reo trìu mến: “Đẹp quá đi, mùa xuân ơi — mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến.”
- Tình yêu riêng tư: “Nhưng tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng Giêng”…
- Nỗi nhớ của người xa xứ ở câu kết: người khách nằm ngửa nhìn trần nhà, mơ về những mùa xuân đã mất và thấy chúng xa xôi như thuộc về “một tiền kiếp xa xôi”.
Câu 4: Sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình trong văn bản (trang 61)
Phân tích sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình của thể loại tùy bút qua một vài biểu hiện cụ thể của văn bản Thương nhớ mùa xuân (ngôn ngữ, chi tiết, sự việc,…).
Trả lời:
- Yếu tố tự sự: tác giả kể lại các sự việc có thật trong nếp sống người Hà Nội: đi dạo hồ Gươm, vào chùa, lì xì ở rạp hát; lễ hóa vàng hạ màn điều trên bàn thờ; con trẻ lại đến trường; người làm kể chuyện tiền mở hàng, chuyện thua tam cúc; bà hàng xóm kể đi lễ chùa Trầm; vợ chồng rót rượu, bói Kiều đêm xuân.
- Yếu tố trữ tình: chen giữa những sự việc ấy là các câu cảm thán, lời gọi (“Ới ơi người em gái…”, “mùa xuân ơi”), những so sánh giàu cảm xúc (trăng như thiếu nữ, cái rét “tình tứ nên thơ”). Cái “tôi” có lúc xưng “tôi”, có lúc chuyển sang “anh”, “mình” như đang tâm tình với người đọc.
- Sự hòa quyện: sự việc được kể không nhằm tạo cốt truyện mà để làm nền cho cảm xúc. Chi tiết người làm nói chuyện Tết vừa là cảnh sinh hoạt, vừa toát lên niềm vui thanh bình; chi tiết người khách xa nhà ở cuối bài vừa là một hành động, vừa là tiếng lòng nhớ quê. Nhờ đó, bài văn vừa cụ thể, sống động, vừa thấm đẫm chất thơ.
Câu 5: Chi tiết về Hà Nội để lại ấn tượng đặc biệt (trang 61)
Chi tiết nào về thiên nhiên (hoặc phong tục, con người) Hà Nội trong văn bản để lại ấn tượng đặc biệt đối với em? Vì sao?
Trả lời:
Em ấn tượng nhất với bữa cơm sau Tết. Khi những món ăn ngày Tết đã vãn, “thịt mỡ dưa hành đã hết”, gia đình trở lại mâm cơm đơn sơ với cà om, thịt thăn điểm tía tô, canh trứng cua có vắt chanh. Chỉ vài món quen thuộc mà gợi được cả mùi vị, màu sắc lẫn cảm giác thanh mát. Chi tiết này cho em thấy người Hà Nội thưởng thức mùa xuân không chỉ bằng hội hè mà bằng cả những điều nhỏ bé, đời thường. Nó cũng làm em hiểu vì sao người xa quê nhớ nhất lại thường là bữa cơm nhà. Mỗi dịp Tết qua, em cũng thấy bữa cơm giản dị của mẹ ngon lạ thường, nên đọc đoạn này em rất đồng cảm.
Câu 6: Giá trị văn hóa dân tộc trong văn bản (trang 61)
Em hiểu thêm được những gì về giá trị văn hoá dân tộc thông qua văn bản Thương nhớ mùa xuân?
Trả lời:
- Đạo hiếu, lòng biết ơn tổ tiên: bàn thờ gia tiên với nhang trầm, đèn nến là trung tâm của ngày Tết; lễ hóa vàng tiễn ông bà khép lại những ngày xuân.
- Nếp gia đình: con cháu sum họp, “trên kính dưới nhường”, vợ chồng gắn bó từ thuở nghèo khó – nét đẹp của gia đình truyền thống.
- Phong tục và thú vui ngày xuân: đi lễ chùa, xin xăm, lì xì “lấy may”, bói Kiều đầu năm, đánh tam cúc, mời trầu, biếu trà.
- Văn hóa ẩm thực: từ thịt mỡ dưa hành ngày Tết đến bữa cơm thanh đạm sau Tết, thể hiện sự tinh tế, hài hòa với thời tiết.
- Lối sống thanh lịch của người Hà Nội: biết thưởng thức thiên nhiên, trân trọng cái đẹp nhỏ bé.
Những giá trị này vẫn còn nguyên ý nghĩa: giữ nếp nhà, nhớ cội nguồn và biết sống chậm để cảm nhận vẻ đẹp quanh mình.
Kết luận
Trong Thương nhớ mùa xuân, nhà văn không chỉ vẽ lại tháng Giêng đất Bắc bằng những cảm giác tinh tế mà còn gửi vào đó cả tấm lòng của người con xa xứ. Khi soạn bài, em nên bám vào mạch cảm xúc ba phần, chú ý cách tác giả đan kể, tả với lời bộc bạch – đó chính là đặc trưng của tùy bút mà Bài 7 hướng tới.
Xem thêm:
- Soạn bài Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt (Ngữ văn 7)
- Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt: tác giả, tác phẩm, bố cục
- Tóm tắt Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt
- Soạn bài Ai đã đặt tên cho dòng sông?
- Những tác phẩm tiêu biểu của Vũ Bằng