“Y học là người vợ hợp pháp của tôi, còn văn chương là nhân tình.” Câu đùa ấy nằm trong lá thư ngày 11/9/1888 một bác sĩ trẻ người Nga gửi nhà xuất bản A. Xu-vô-rin. Người viết thư là Sê-khốp. Sê-khốp (Anton Pavlovich Chekhov, 1860 – 1904) là nhà văn, nhà viết kịch Nga, bậc thầy truyện ngắn của văn học thế giới, đồng thời là một bác sĩ hành nghề suốt đời. Ông để lại hàng trăm truyện ngắn và bốn vở kịch mà sân khấu khắp thế giới vẫn dựng đến hôm nay; học sinh Việt Nam đọc ông qua Một chuyện đùa nho nhỏ trong sách Ngữ văn 10.
Cháu nội một nông nô tự chuộc thân

| Tên đầy đủ | An-tôn Páp-lô-vích Sê-khốp (Антон Павлович Чехов) |
| Bút danh thời trẻ | Antosha Chekhonte, Người không có lá lách và nhiều bút danh khác |
| Năm sinh – năm mất | 29/1/1860 (17/1 theo lịch cũ) – 15/7/1904 (2/7 theo lịch cũ) |
| Quê | Thành phố cảng Ta-gan-rốc bên biển A-dốp, miền Nam nước Nga |
| Nghề nghiệp | Bác sĩ, nhà văn, nhà viết kịch |
| Tác phẩm tiêu biểu | Truyện ngắn: Cái chết của viên chức, Anh béo và anh gầy, Con kỳ nhông, Phòng số 6, Người trong bao, Người đàn bà có con chó nhỏ; kịch: Hải âu, Cậu Va-nhi-a, Ba chị em, Vườn anh đào |
| Giải thưởng | Một nửa giải Pu-skin của Viện Hàn lâm Khoa học (1888) |
| Trong SGK | Một chuyện đùa nho nhỏ (Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập 2) |
Ông nội Sê-khốp là một nông nô đã dành dụm tiền để chuộc tự do cho cả gia đình vào năm 1841, gần hai mươi năm trước khi chế độ nông nô ở Nga bị xóa bỏ. Cha ông mở một cửa hàng tạp hóa ở Ta-gan-rốc, sùng đạo, nghiêm khắc, hay đánh con. Cậu bé An-tôn lớn lên giữa quầy hàng, giờ kinh và những trận đòn, một tuổi thơ chẳng mấy êm đềm.
Năm 1876, cửa hàng phá sản, người cha trốn nợ lên Mát-xcơ-va, cả nhà kéo theo. Cậu thiếu niên mười sáu tuổi ở lại Ta-gan-rốc ba năm một mình, dạy kèm để tự nuôi thân và học cho xong trung học, còn gửi tiền về cho gia đình.
Antosha Chekhonte và những truyện vui viết cho báo
Năm 1879, Sê-khốp lên Mát-xcơ-va học trường y của Đại học Mát-xcơ-va. Gia đình nghèo, anh sinh viên y năm thứ nhất bắt đầu viết truyện vui, truyện ngắn, mẩu chuyện châm biếm gửi cho các tờ báo hài hước để kiếm tiền, ký những cái tên như Antosha Chekhonte, Người không có lá lách. Mỗi truyện chỉ dài vài trang, phải nộp đúng hạn và phải buồn cười. Trong mấy năm ông viết hàng trăm truyện như thế.
Chính khuôn khổ chật hẹp ấy rèn cho ông khả năng nói nhiều điều trong ít chữ. Những truyện như Cái chết của viên chức (anh viên chức hắt hơi vào gáy ông tướng rồi xin lỗi mãi đến chết), Anh béo và anh gầy, Con kỳ nhông đều ra đời thời kỳ này: cười đấy, nhưng là cái cười trước thói luồn cúi, sợ hãi của con người nhỏ bé.
Bước ngoặt đến năm 1886, khi nhà văn lão thành Đ. Grigorovich viết thư khuyên chàng trai trẻ hãy coi trọng tài năng của mình, đừng phung phí nó vào những truyện viết vội. Sê-khốp bắt đầu viết chậm hơn, ký tên thật. Năm 1888, truyện vừa Thảo nguyên in trên một tạp chí văn chương nghiêm túc, và tháng 10/1888, tập truyện Lúc chạng vạng được Viện Hàn lâm Khoa học trao một nửa giải Pu-skin.
Bác sĩ – nhà văn: từ đảo Xa-kha-lin đến Mê-li-khô-vô
Tốt nghiệp năm 1884, Sê-khốp hành nghề y song song với viết văn đến cuối đời. Câu đùa về người vợ và người tình ở đầu bài còn một vế sau: chán người này thì ông sang ngủ ở nhà người kia; lộn xộn thật, nhưng đỡ buồn chán, và chẳng bên nào thiệt gì.
Năm 1890, đang nổi tiếng, ông làm một việc khiến bạn bè sửng sốt: vượt qua toàn bộ nước Nga, phần lớn bằng xe ngựa và tàu thủy, đến đảo Xa-kha-lin ở Viễn Đông, nơi đày tù khổ sai. Ba tháng trên đảo, ông tự tay lập hơn mười nghìn phiếu điều tra dân số cho tù nhân và người dân định cư. Cuốn sách Đảo Xa-kha-lin in sau đó là một công trình khảo sát xã hội hơn là một tác phẩm văn chương, và đã khiến dư luận chú ý đến chế độ lao tù ở đây.
Năm 1892, ông mua điền trang Mê-li-khô-vô ở phía nam Mát-xcơ-va, đưa cả nhà về ở. Ở đây ông khám bệnh miễn phí cho nông dân, làm bác sĩ phụ trách một khu vực khi dịch tả lan đến, góp tiền xây trường học cho trẻ em trong vùng. Những năm ở Mê-li-khô-vô cũng là quãng viết khỏe nhất: Phòng số 6, Hải âu và hàng chục truyện ngắn.
Ngắn gọn là chị em của tài năng
Trong lá thư ngày 11/4/1889 gửi người anh trai A-lếch-xan-đrơ, cũng là người viết văn, Sê-khốp có câu về sau thành châm ngôn của nghề viết: ngắn gọn là chị em của tài năng. Truyện của ông thường không có cốt truyện ly kỳ, không có kết thúc bất ngờ kiểu O. Hen-ri. Chuyện xảy ra rất bình thường: một chuyến đi, một bữa ăn, một cuộc chuyện trò; cái làm người đọc day dứt là những gì nhân vật không nói được với nhau.
Ông cũng tránh rao giảng. Nhà văn, theo ông, không phải là quan tòa phán xét nhân vật, mà là người làm chứng khách quan. Vì thế cuối truyện Sê-khốp, người đọc thường được để lại với một câu hỏi hơn là một bài học. Một lời khuyên khác, ông nhắc nhiều lần với những chữ hơi khác nhau, lần sớm nhất là trong thư ngày 1/11/1889 gửi nhà văn trẻ La-da-rép Gru-din-xki: không được đặt lên sân khấu một khẩu súng đã nạp đạn nếu không ai định bắn nó. Giới viết văn gọi đó là “khẩu súng của Sê-khốp”: chi tiết nào đã đưa vào thì phải có lý do để có mặt.
Nhiều người đặt ông cạnh Mô-pa-xăng, bậc thầy truyện ngắn Pháp cùng thời; nếu Mô-pa-xăng chuộng những tình huống rõ nét, kết thúc dứt khoát, thì truyện Sê-khốp thường dừng ở lưng chừng, như cuộc đời vẫn tiếp diễn sau trang cuối.
Bốn vở kịch cho Nhà hát Nghệ thuật Mát-xcơ-va
Đêm 17/10/1896, vở Hải âu ra mắt ở nhà hát A-lếch-xan-đrin-xki tại Xanh Pê-téc-bua và thất bại nặng. Hai năm sau, Nhà hát Nghệ thuật Mát-xcơ-va do Xta-ni-xláp-xki và Nê-mi-rô-vích Đan-sen-cô lập ra dựng lại Hải âu và thành công vang dội. Con chim hải âu từ đó thành biểu tượng in trên rèm sân khấu của nhà hát.
| Vở kịch | Công diễn ở Nhà hát Nghệ thuật Mát-xcơ-va | Câu chuyện |
|---|---|---|
| Hải âu | 1898 | Những nghệ sĩ trẻ và già, tình yêu lệch nhau, khát vọng nghệ thuật |
| Cậu Va-nhi-a | 1899 | Một người đàn ông nhận ra mình đã phí cả đời phục vụ một vị giáo sư tầm thường |
| Ba chị em | 1901 | Ba cô gái ở tỉnh lẻ mơ mãi về Mát-xcơ-va mà không bao giờ đi được |
| Vườn anh đào | 1904 | Một gia đình quý tộc sa sút mất vườn anh đào vào tay con trai một nông nô cũ |
Kịch Sê-khốp gần như không có xung đột lớn. Nhân vật uống trà, nói chuyện thời tiết, trong khi đời họ lặng lẽ đổ vỡ. Lối viết ấy, khi được Nhà hát Nghệ thuật dựng với lối diễn tự nhiên, đã thay đổi sân khấu thế kỷ XX. Năm 1901, Sê-khốp cưới nữ diễn viên Ôn-ga Knip-pe của nhà hát này.
Một chuyện đùa nho nhỏ trong SGK Ngữ văn 10 và hai cái kết
Truyện Một chuyện đùa nho nhỏ in lần đầu ngày 12/3/1886 trên tạp chí hài hước Con dế (nhiều tài liệu tiếng Việt gọi là Dế mèn), ký bút danh Người không có lá lách, đúng thời Sê-khốp còn viết truyện vui. Một chàng trai rủ cô gái tên Na-đi-a trượt xe trượt tuyết từ trên đồi xuống; giữa tiếng gió rít, cô nghe như có ai thì thầm “Tôi yêu em, Na-đi-a” mà không biết là thật hay do gió. Cô cứ đòi trượt mãi để nghe lại câu ấy.
Điều thú vị là truyện có hai kết thúc. Bản năm 1886 kết thúc có hậu: hai người cưới nhau. Năm 1899, khi sửa lại tác phẩm cho bộ tuyển tập do nhà xuất bản A. Mác-xơ in, Sê-khốp sửa rất nhiều và viết lại đoạn cuối: chàng trai rời thành phố, Na-đi-a lấy chồng, đã có ba con, còn câu thì thầm năm xưa thành kỷ niệm đẹp nhất đời cô. Sách giáo khoa dùng bản sửa năm 1899. So hai cái kết, người đọc thấy rõ Sê-khốp đã đi từ truyện vui sang truyện tâm trạng như thế nào.
| Bộ sách, vị trí | Bài học trên Văn VN |
|---|---|
| Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập 2, Bài 7 (Quyền năng của người kể chuyện) | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm · Tóm tắt · Phân tích |
Truyện được chọn vào bài học về người kể chuyện vì nó kể ở ngôi thứ nhất, và người kể chính là kẻ “đùa”, nhìn lại trò đùa của mình sau nhiều năm. Bản dịch tiếng Việt trong sách là của Phan Hồng Giang, in trong tập Truyện ngắn Sê-khốp (NXB Cầu Vồng, Mát-xcơ-va, 1988).
Ly sâm-panh cuối cùng ở Ba-đen-vai-lơ
Sê-khốp mắc bệnh lao từ lúc còn trẻ, nhưng là bác sĩ, ông lại lảng tránh bệnh của chính mình. Năm 1898 cha ông mất; ông mua đất ở I-an-ta bên bờ biển Đen, nơi khí hậu ấm hơn, dựng ở đó ngôi nhà về sau gọi là Nhà Trắng và từ năm 1899 chuyển hẳn về sống để chữa bệnh lao. Vợ ông ở lại Mát-xcơ-va với nhà hát; hai người sống phần lớn qua những lá thư.
Đầu tháng 6/1904, ông sang thị trấn nghỉ dưỡng Ba-đen-vai-lơ ở miền Nam nước Đức. Theo hồi ức của Ôn-ga Knip-pe, đêm 15/7/1904 (2/7 theo lịch cũ), lần đầu tiên ông tự bảo gọi bác sĩ; bác sĩ đến, ông nói to bằng tiếng Đức rằng mình sắp chết. Rồi ông cầm ly sâm-panh, mỉm cười bảo đã lâu lắm rồi mình không uống sâm-panh, uống cạn, nằm nghiêng xuống và lặng đi, năm bốn mươi bốn tuổi. Thi hài ông được đưa về Mát-xcơ-va bằng tàu hỏa, chôn ở nghĩa trang Nô-vô-đê-vi-chi.
Ta-gan-rốc, Mê-li-khô-vô, I-an-ta và ngôi nhà ở Mát-xcơ-va nay đều là bảo tàng Sê-khốp. Còn những truyện ngắn ông viết, nhiều truyện chưa đầy mười trang, vẫn được các nhà văn đời sau, từ Nga, Anh, Mỹ đến Việt Nam, đọc như sách giáo khoa của nghề viết truyện ngắn.
Xem thêm: