Trang cuối cùng đề ngày 20/6/1970. Hai ngày sau, người viết hy sinh trên đường núi ở Quảng Ngãi, và cuốn sổ nằm trong tay một người lính Mỹ suốt ba mươi lăm năm. Đặng Thùy Trâm (1942 – 1970) là bác sĩ, liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, người phụ trách bệnh xá huyện Đức Phổ thời chống Mỹ; hai cuốn nhật kí chị ghi trong những năm 1968 – 1970, in năm 2005 với tên Nhật ký Đặng Thùy Trâm, đã trở thành một trong những cuốn sách được đọc nhiều nhất ở Việt Nam đầu thế kỷ XXI. Chị không phải nhà văn; chị chỉ viết cho riêng mình.
Cô con gái đầu nhà bác sĩ Đặng Ngọc Khuê

| Tên | Đặng Thùy Trâm (người nhà gọi là Thùy) |
| Năm sinh – năm mất | 26/11/1942 – 22/6/1970 |
| Quê, nơi lớn lên | Sinh ở Huế, lớn lên ở Hà Nội |
| Nghề nghiệp | Bác sĩ, tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội năm 1966; phụ trách bệnh xá huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi (1967 – 1970) |
| Tác phẩm | Nhật ký Đặng Thùy Trâm (NXB Hội Nhà văn, 2005); bản tiếng Anh Last Night I Dreamed of Peace (2007) |
| Danh hiệu | Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (truy tặng, 2006) |
| Trong SGK | Nhật kí Đặng Thùy Trâm (trích) – Ngữ văn 12 Cánh diều, tập một, Bài 3 |
Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26/11/1942 tại Huế, là con cả trong một gia đình trí thức theo nghề y. Cha chị, ông Đặng Ngọc Khuê, là bác sĩ ngoại khoa; mẹ, bà Doãn Ngọc Trâm, là dược sĩ, giảng dạy ở Trường Đại học Dược Hà Nội. Dưới chị có ba em gái là Phương Trâm, Hiền Trâm, Kim Trâm và một em trai. Gia đình chuyển ra Hà Nội, và cô bé học Trường Chu Văn An, nổi tiếng học giỏi, hát hay.
Từ Đại học Y Hà Nội đến bệnh xá Đức Phổ
Tháng 7/1966, Đặng Thùy Trâm tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội loại ưu. Chị không nhận ở lại trường hay về một bệnh viện lớn mà theo khóa huấn luyện để đi chiến trường. Cuối năm 1966 chị lên đường; sau gần ba tháng hành quân, tháng 3/1967 chị đến Đức Phổ, Quảng Ngãi. Bà Tạ Thị Ninh, người sau này nhận làm em kết nghĩa, kể với Báo Văn Hóa rằng chính tháng ấy một cán bộ dẫn chị về ở nhà bà.
Chị được giao phụ trách bệnh xá huyện Đức Phổ, trên danh nghĩa là bệnh xá dân y nhưng phần lớn bệnh nhân là thương binh, bệnh binh. Bệnh xá phải di chuyển nhiều lần; theo Báo Văn Hóa, sau trận càn ngày 28/4/1969, nó được dời lên Hố Bầu Tây, thôn Nước Đang, xã Ba Trang, huyện Ba Tơ. Ở đó chị vừa chữa bệnh, vừa mổ, vừa mở lớp dạy y tá cho thanh niên địa phương. Ông Trần Đình Tâm, chiến sĩ đặc công được chị phẫu thuật cắt chân năm 1969 khi trong tay chỉ có thuốc tê, về sau vẫn có mặt ở những buổi tọa đàm về chị.
Ngày 27/9/1968, chị được kết nạp vào Đảng, gần sáu tháng sau trang nhật kí đầu tiên còn giữ được.
Ngày 22/6/1970 ở Khe Nước Lạnh
Đặng Thùy Trâm hy sinh ngày 22/6/1970, khi chưa tròn hai mươi tám tuổi. Theo Báo Văn Hóa và báo Sài Gòn Giải Phóng, nơi chị ngã xuống là Khe Nước Lạnh, xóm Đồng Lớn, thôn Nước Đang, xã Ba Trang, huyện Ba Tơ; nhiều tài liệu ghi gọn là Đức Phổ vì chị gắn với bệnh xá Đức Phổ. Chị trúng ổ phục kích trên đường từ vùng núi xuống đồng bằng; một số bài báo kể khi ấy chị đi tìm thức ăn cho thương binh.
Người dân chôn chị ngay tại chỗ. Sau chiến tranh, phần mộ được đưa về nghĩa trang liệt sĩ xã Phổ Cường, rồi năm 1990 gia đình đưa về Nghĩa trang liệt sĩ Nhổn ở Hà Nội.
Ba mươi lăm năm lưu lạc và lời dặn “đừng đốt”
Hai cuốn nhật kí, ghi từ ngày 8/4/1968 đến 20/6/1970, rơi vào tay quân đội Mỹ. Frederic (Fred) Whitehurst, khi ấy là chuyên viên quân báo ở Đức Phổ, đang đốt bớt những giấy tờ thu được bên một thùng phuy. Ông kể trên đài NPR năm 2006 rằng người phiên dịch đi cùng, trung sĩ Nguyễn Trung Hiếu, đã ngăn lại và nói với ông bằng tiếng Anh, đại ý: Fred, đừng đốt, trong đó đã có lửa rồi. Báo chí trong nước dịch câu này mỗi nơi một kiểu, nhưng ý thì như nhau. Sau này, câu ấy thành tên một bộ phim.
Fred giữ hai cuốn sổ, mang về Mỹ năm 1972, với ý định một ngày nào đó trả lại cho gia đình người viết. Ông học tiến sĩ hóa học, làm việc cho FBI; người anh em của ông, Robert Whitehurst, cũng là cựu binh, về sau tham gia dịch cuốn nhật kí.

Tháng 4/2005: cuốn nhật kí về nhà qua một chiếc đĩa CD
Tháng 3/2005, hai anh em Whitehurst mang nhật kí đến một hội thảo ở Trung tâm Việt Nam của Đại học Texas Tech và trao bản gốc cho trung tâm lưu giữ. Ở đó họ gặp Ted Engelmann, nhiếp ảnh gia, cựu binh, người sắp sang Việt Nam. Engelmann nhờ Đỗ Xuân Anh, nhân viên văn phòng Quaker ở Hà Nội, tìm được bà Doãn Ngọc Trâm. Cuối tháng 4/2005, ông đến nhà, mở trên máy tính bản chụp nhật kí lưu trong một chiếc đĩa CD cho mẹ và các em chị xem; ngày 30/4/2005 ông cùng gia đình đi viếng mộ chị.
Như vậy, thứ về Việt Nam năm 2005 là bản sao, còn bản gốc vẫn ở Texas Tech. Tháng 8/2005 anh em Whitehurst sang Hà Nội gặp gia đình; tháng 10 cùng năm, gia đình sang Lubbock xem tận mắt hai cuốn sổ. Báo Lào Cai năm 2026 cho biết gia đình chủ động để bản gốc ở Mỹ, vừa vì điều kiện bảo quản, vừa như một chứng tích bác bỏ mọi nghi ngờ rằng cuốn nhật kí là ngụy tạo.
Một cuốn sách, một bộ phim, một bệnh xá mang tên chị
Bà Kim Trâm chép lại bản nhật kí, và Nhà xuất bản Hội Nhà văn in Nhật ký Đặng Thùy Trâm trong năm 2005. Sách bán hàng trăm nghìn bản ngay trong năm đầu; báo Sài Gòn Giải Phóng năm 2025 ghi tổng số đã phát hành hơn nửa triệu bản trong nước và ở nhiều nước. Báo Anh The Independent gọi đây là “Nhật ký Anne Frank của Việt Nam”. Bản tiếng Anh Last Night I Dreamed of Peace do Andrew X. Pham dịch, Harmony Books (New York) in tháng 9/2007.
Năm 2009, đạo diễn Đặng Nhật Minh làm phim Đừng đốt, Minh Hương đóng vai Thùy Trâm. Phim nhận Bông Sen Vàng tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 16 và sáu giải Cánh diều vàng 2009, trong đó có phim truyện xuất sắc nhất. Ngày 20/2/2006, Chủ tịch nước ký quyết định truy tặng chị danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; cuối năm ấy, bệnh xá Đặng Thùy Trâm được dựng ở thôn Nga Mân, xã Phổ Cường, Đức Phổ bằng tiền bạn đọc báo Tuổi Trẻ góp, có phòng trưng bày kỷ vật và tượng chị đội nón, đeo túi cứu thương.
Năm 2025, em gái chị, bà Đặng Kim Trâm, biên soạn cuốn Đặng Thùy Trâm và cuốn nhật ký thứ ba (Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam), in những trang chị viết hai năm cuối ở Đại học Y và lúc chuẩn bị đi B.
Ba trang nhật kí được chọn vào SGK Ngữ văn 12
| Văn bản | Sách – bài học | Các ngày được trích | Bài học trên Văn VN |
|---|---|---|---|
| Nhật kí Đặng Thùy Trâm (trích) | Ngữ văn 12 Cánh diều, tập một – Bài 3 (Nhật kí, phóng sự, hồi kí) | 20.7.1968; 1.1.1970; 19.5.1970 | Soạn bài Nhật kí Đặng Thùy Trâm Tác giả, tác phẩm, bố cục |
Đoạn trích mở đầu bài học về các thể loại ký. Ba ngày được chọn cho thấy ba mặt của người viết: một bác sĩ quá tải giữa thương binh và lớp học y; một cô gái hai mươi bảy tuổi nghĩ về tuổi trẻ, về hạnh phúc riêng chưa trọn; một người con xa nhà đọc thư mẹ. Trang ngày 1.1.1970 có câu chị tự trả lời mình:
Ước mơ bây giờ là đánh thắng giặc Mỹ, là Độc lập, Tự do của đất nước.
Khi học, nên chú ý những dấu hiệu của thể nhật kí: ghi ngày tháng, người viết xưng “mình”, “con”, kể việc trong ngày xen với suy nghĩ riêng, không có ý định công bố. Chính sự riêng tư ấy làm nên sức nặng của văn bản. Một cuốn sách cùng thế hệ, cũng là nhật kí của một người trẻ hy sinh ở chiến trường, là Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc, được in cũng vào năm 2005.