Trong một thiên phóng sự của Việc làng, anh mõ băm một con gà luộc thành đúng 92 miếng đều nhau, vừa đủ chia cho ba mươi người có mặt. Người kể chuyện khen rằng muốn “dâng cho ông Mới ấy cái chức nghệ sĩ”. Lời khen nghiêm trang ấy mỉa mai cả một lệ làng, và cho thấy khá rõ phong cách sáng tác của Ngô Tất Tố. Ngô Tất Tố (1893 – 1954) là nhà nho xuất thân Hán học trở thành nhà văn hiện thực, viết về nông thôn Bắc Bộ bằng con mắt chính xác của nhà báo và giọng mỉa mai kín đáo của người đọc sách thánh hiền.
Nếu cần phần giới thiệu chung cho mở bài, em có thể lấy ý từ bài tìm hiểu tác giả, tác phẩm Tức nước vỡ bờ.

Một nhà nho cầm bút sắt
Ngô Tất Tố đi lên từ con đường khoa cử: học chữ Hán từ nhỏ, đỗ đầu xứ, rồi lỡ hẹn với chốn trường thi khi chế độ thi cử chữ Hán sắp tàn. Vốn liếng ấy theo ông suốt đời. Ông dịch Hoàng Lê nhất thống chí, tuyển dịch Đường thi, viết về Lão Tử và Nho giáo. Nhưng khi viết văn, ông lại chọn những thể loại rất mới với lớp nhà nho cùng thời: phóng sự, tiểu thuyết, tiểu phẩm báo chí, và một thứ tiếng Việt giản dị, gần lời ăn tiếng nói của người làng.
Cái nhìn của ông với nền học cũ vì thế rất tỉnh. Lời tựa Lều chõng, đăng trên báo Thời vụ năm 1939, viết về “lều” và “chõng”, hai đồ vật sĩ tử mang vào trường thi:
Chính nó đã làm cho nước Việt Nam trở nên một nước có văn hóa. Rồi lại chúng nó đã đưa nước Việt Nam đến chỗ diệt vong.
Hai câu ngắn, một khen một chê, nói hết thái độ của một người trong cuộc: hiểu và quý cái cũ, nhưng không bênh nó. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, trong Nhà văn hiện đại, xếp ông vào hạng nhà nho có óc phê bình, có tư tưởng mới, chính vì sự tỉnh táo ấy.
Con mắt phóng sự: có tên, có số, có cân lạng
Đọc Ngô Tất Tố, dễ nhận ra thói quen của người làm báo: cái gì cũng phải cụ thể đến con số. Trong Con gà thờ, lệ làng quy định người sắp lên lão phải biếu một con gà sống mã đỏ, chân vàng, luộc chín còn đủ bốn cân. Nhưng ít ai giữ đúng lệ; người ta đua nhau nâng lên năm cân, sáu cân, bảy cân, và cả làng còn truyền tụng một ông cụ đời Thiệu Trị, Tự Đức nuôi được con gà bảy cân rưỡi. Ông chủ nhà trọ của người kể, có ruộng, có trâu, có thóc ăn quanh năm, bỗng thành “rất vất vả” chỉ vì hai con gà.
Ở Nghệ thuật băm thịt gà, con số còn dày hơn: mâm xôi chừng bốn đấu gạo, hai chai rượu loại ba phần tư lít, hàng xóm tám mươi mấy suất mà hôm ấy chỉ ba mươi người có mặt, con gà băm ra 92 miếng. Ông không cần bình luận lệ làng là phiền hà hay vô lý. Những con số đặt cạnh nhau tự nói điều đó.
Đây là nét căn bản trong phong cách ông: thái độ của người viết nằm trong cách chọn và sắp xếp sự việc, ít khi nằm trong lời bình. Ngòi bút ấy được rèn qua hàng nghìn bài báo; các nhà nghiên cứu đã sưu tầm được hơn một nghìn ba trăm bài, ký dưới vài chục bút danh khác nhau.
Cái cười của nhà nho: mỉa mai mà vẫn thản nhiên
Ngô Tất Tố ít khi cười to. Cái cười của ông là cái cười kiểu nhà nho: giọng kể nghiêm trang, từ ngữ trang trọng, nhưng đặt vào chuyện vụn vặt thì thành mỉa mai. Gọi anh mõ băm thịt gà là “nghệ sĩ”, gọi cuộc tranh miếng ở đình là “nghệ thuật”, kể con gà biếu làng mà như kể một việc lớn của đời người.
Ngay tên các thiên phóng sự trong Việc làng đã có giọng ấy: Đôi giày mất dạy, Một tiệc ăn vạ, Góc chiếu giữa đình, Món nợ chung thân. Người đọc cười trước, rồi mới thấy đằng sau mỗi cái tên là một gánh nặng có thật đè lên người dân quê: tiền khao vọng, tiền phạt vạ, nợ nần vì một chỗ ngồi ở đình.

Tắt đèn: cái khổ tính bằng từng suất sưu
Nếu Việc làng cho thấy con mắt phóng sự thì Tắt đèn (đăng báo năm 1937, in sách năm 1939) cho thấy Ngô Tất Tố có thể dựng một cuốn tiểu thuyết bằng chính con mắt ấy. Toàn bộ bi kịch của nhà chị Dậu xoay quanh một khoản tiền cụ thể: suất sưu của anh Dậu, rồi suất sưu của người em chồng đã chết. Để có tiền, chị phải bán cái Tý cùng ổ chó mới đẻ cho nhà Nghị Quế. Cái khổ ở đây không mơ hồ; nó được đếm bằng đồng bạc, bằng đấu gạo.
Ngô Tất Tố cũng để ý cả tình làng nghĩa xóm giữa cảnh khổ. Đầu chương XVIII, khi anh Dậu bị trả về nhà trong tình trạng ngất lịm, hàng xóm kéo đến chật nhà, mỗi người một việc, người cạy răng, người đốt bồ kết, người chạy về lấy gạo sang cho vay. Rồi đến đoạn quen thuộc với học sinh, khi tên cai lệ cùng người nhà lý trưởng ập đến đòi trói anh Dậu. Chị Dậu đi từ lời van xin, sang lời cảnh cáo “Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ!”, rồi đến “Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!”. Chỉ qua cách xưng hô thay đổi, nhà văn cho thấy sức chịu đựng đã cạn.
Đoạn ấy còn có một câu rất “Ngô Tất Tố”: sức lẻo khoẻo của anh chàng nghiện “chạy không kịp” với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền. Giọng mỉa cai lệ vẫn bình thản như khi tả anh mõ ở đình. Ngay khi Tắt đèn in thành sách, Vũ Trọng Phụng đã gọi đó là “một áng văn có thể gọi là kiệt tác”.
Ba thể loại, một đề tài: làng quê Bắc Bộ
Nhìn cả sự nghiệp, có thể thấy Ngô Tất Tố đổi thể loại nhưng gần như không rời đề tài nông thôn. Mỗi thể loại soi một mặt của làng:
| Thể loại | Tác phẩm | Mặt nào của làng quê được soi rõ |
|---|---|---|
| Tiểu thuyết | Tắt đèn | Sưu thuế, cường hào, số phận một gia đình nông dân |
| Tiểu thuyết – phóng sự | Lều chõng | Khoa cử, đời sĩ tử, sự suy tàn của lớp nhà nho |
| Phóng sự | Việc làng, Tập án cái đình | Lệ làng, hủ tục, ngôi thứ chốn đình trung |
| Báo chí | Hàng nghìn tiểu phẩm, bình luận | Thói tham nhũng của quan lại, chuyện thời sự |
Điểm chung của cả bốn cột là sự am hiểu của người trong cuộc. Ông viết về trường thi vì chính ông từng lều chõng đi thi; viết về lệ làng vì ông sinh ra ở làng Lộc Hà, biết rõ từng nghi thức ở đình. Đó là lý do trang viết của ông có độ tin cậy gần như tư liệu, đến mức Việc làng vẫn được đọc như một nguồn hiểu về làng xã cũ.
Học Ngô Tất Tố trong sách giáo khoa: nhìn vào chi tiết
Văn bản của ông hiện có ở ba chỗ: Tức nước vỡ bờ (Ngữ văn 8 Cánh diều, đọc mở rộng), Nghệ thuật băm thịt gà (Ngữ văn 12 Kết nối tri thức) và Con gà thờ (Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo). Với hai thiên phóng sự, cách học hiệu quả là lập một bảng nhỏ: sự việc – con số – thái độ của người viết lộ ra ở đâu. Với Tức nước vỡ bờ, hãy theo dõi cách xưng hô của chị Dậu và những câu tả cai lệ.
Tài liệu trên Văn VN: soạn bài Nghệ thuật băm thịt gà, soạn bài Con gà thờ, Con gà thờ: tác giả, tác phẩm, soạn bài Tức nước vỡ bờ và phân tích Tức nước vỡ bờ. Tiểu sử ông, từ đầu xứ Tố đến những năm kháng chiến, có trong bài giới thiệu tác giả Ngô Tất Tố; danh mục tác phẩm xem ở những tác phẩm của Ngô Tất Tố. Cùng viết về người nông dân nhưng bằng giọng khác, có thể đọc thêm phong cách sáng tác của Nam Cao.