Ở TP.HCM có một con đường mang tên một nhà văn mà không ai tìm được mộ. Nguyễn Thi (1928 – 1968) là nhà văn quân đội, tác giả truyện ngắn Những đứa con trong gia đình và truyện ký Người mẹ cầm súng; ông hy sinh ở mặt trận Sài Gòn trong đợt hai cuộc tổng tiến công Mậu Thân, ngày 9/5/1968, chỉ còn sáu ngày nữa là tròn bốn mươi tuổi. Người miền Bắc, nhưng gần trọn đời cầm bút ông viết về nông dân Nam Bộ, và văn chương của ông được nhắc đến nhiều nhất chính ở chỗ ấy.
Nguyễn Hoàng Ca, Nguyễn Ngọc Tấn, Nguyễn Thi: ba cái tên của một đời người

| Tên khai sinh | Nguyễn Hoàng Ca |
| Bút danh | Nguyễn Ngọc Tấn (từ thời chống Pháp đến năm 1962), Nguyễn Thi (dùng ở chiến trường Nam Bộ từ 1962) |
| Năm sinh – năm mất | 15/5/1928 – 9/5/1968 |
| Quê | Xã Quần Phương Thượng (nay là xã Hải Anh), huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; nay thuộc tỉnh Ninh Bình |
| Thể loại | Truyện ngắn, truyện ký, bút ký, tiểu thuyết, thơ |
| Tác phẩm tiêu biểu | Hương đồng nội (thơ), Trăng sáng, Đôi bạn, Người mẹ cầm súng, Mẹ vắng nhà, Những đứa con trong gia đình, Ước mơ của đất (dở dang) |
| Giải thưởng, danh hiệu | Giải Văn nghệ Cửu Long giang (1949–1950); Giải thưởng Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu (1965); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (truy tặng, 2000); Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (truy tặng, 2011) |
| Trong SGK | Những đứa con trong gia đình, SGK Ngữ văn 12 tập hai (chương trình 2006) |
Ba cái tên tương ứng với ba chặng. Nguyễn Hoàng Ca là cậu bé mồ côi ở Hải Hậu. Nguyễn Ngọc Tấn là người lính tập kết ra Bắc, biên tập văn xuôi ở tạp chí Văn nghệ Quân đội và in những tập truyện đầu tay. Nguyễn Thi là cái tên ký dưới những trang viết từ chiến trường Nam Bộ sau năm 1962, cái tên đi vào sách giáo khoa. Bảo tàng Văn học Việt Nam cũng ghi ông là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957.
Từ Hải Hậu vào Sài Gòn: tuổi thơ lưu lạc và người cảm tử quân
Nguyễn Hoàng Ca sinh ngày 15/5/1928 ở xã Quần Phương Thượng, huyện Hải Hậu, một vùng quê ven biển nghèo của Nam Định. Cha mất khi ông chừng mười tuổi, mẹ đi bước nữa, cậu bé sống nhờ họ hàng. Theo những bài hồi ức đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng năm 2010, có thời gian ông theo một gánh hát rong để kiếm miếng ăn, làm đủ việc vặt sau sân khấu.
Năm 1943, một người anh họ đưa ông vào Sài Gòn. Vừa làm thuê vừa tự học, chàng trai mười lăm tuổi tiếp xúc với văn thơ lãng mạn và hiện thực thời ấy. Hai năm sau, Nam Bộ kháng chiến bùng nổ. Ông vào du kích xã Tân Thới Tứ (Hóc Môn), rồi theo trung đội cảm tử quân đánh Pháp ở cửa ngõ tây bắc Sài Gòn, sau về các đơn vị chủ lực miền Đông Nam Bộ.
Ở đơn vị, ông làm công tác tuyên huấn, cán bộ chính trị, vẽ tranh, viết báo tường, dạy hát cho lính. Tập thơ Hương đồng nội ra đời trong những năm này, ký bút danh Nguyễn Ngọc Tấn, và được giải thưởng Văn nghệ Cửu Long giang của Nam Bộ năm 1949–1950. Cũng ở miền Đông, ông gặp và cưới người vợ đầu, một cô gái từ nội thành Sài Gòn ra chiến khu.
Chín năm ở miền Bắc với bút danh Nguyễn Ngọc Tấn
Hiệp định Genève năm 1954 chia đôi đất nước, và chia đôi luôn gia đình nhỏ của ông. Ông xuống tàu tập kết ra Bắc; người vợ ở lại hoạt động nội thành, khi ấy đang mang thai đứa con gái đầu lòng. Theo hồi ức của nhà văn Trần Công Tấn trên báo Sài Gòn Giải Phóng, ông chưa một lần được gặp mặt đứa con gái ấy.
Ở miền Bắc, ông làm trợ lý văn nghệ rồi đội trưởng đội văn công Sư đoàn 330, sau đó về tạp chí Văn nghệ Quân đội biên tập văn xuôi. Bảo tàng Văn học ghi năm ông về tạp chí là 1957; bài hồi ức trên Sài Gòn Giải Phóng ghi tháng 12/1956. Hai tập truyện ngắn Trăng sáng (1960) và Đôi bạn ra đời ở đây, phần lớn là nỗi nhớ miền Nam của người tập kết. Năm in Đôi bạn cũng lệch nhau giữa các nguồn: Wikipedia tiếng Việt và báo Sài Gòn Giải Phóng ghi 1962, Bảo tàng Văn học ghi 1965.
Vẫn theo lời kể của Trần Công Tấn, năm 1960, khi hy vọng tổng tuyển cử thống nhất đã tắt và người vợ ở miền Nam đành dứt tình, ông lập gia đình mới với một cô gái nông dân miền Bắc. Nhà văn Phùng Văn Khai, người làm phim tài liệu về ông, còn kể đến truyện ngắn Im lặng viết về một người lính mắc bệnh tâm thần vì sức ép chiến tranh. Truyện in ra bị chê là bi quan, và ít lâu sau người viết nó lên đường vào Nam.
Trở về Nam năm 1962 và cái tên mượn của con trai
Năm 1962, ông tình nguyện trở lại chiến trường miền Nam. Cùng năm ấy, nhà văn Nguyên Ngọc cũng trở lại Khu V, nơi ông viết dưới bút danh Nguyễn Trung Thành. Theo nhà văn Trần Công Tấn, hai người cùng lên đường vào tháng 5/1962; Nguyên Ngọc dừng ở Khu V, còn ông đi thẳng vào Nam Bộ. Đường Trường Sơn kéo dài hàng tháng, ông bị kiết lỵ, ho ra máu mà vẫn giấu thầy thuốc để được đi tiếp.
Vào đến nơi, ông công tác ở Cục Chính trị Quân giải phóng miền Nam và tham gia sáng lập, phụ trách tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng. Từ đây những trang viết của Nguyễn Ngọc Tấn được ký tên Nguyễn Thi. Cũng theo hồi ức của Trần Công Tấn, đó là tên đứa con trai mới sáu tháng tuổi mà ông để lại ở miền Bắc lúc từ biệt. Vì vậy con đường ở Sài Gòn bây giờ, nói cho đúng, mang tên người con trai ấy.
Những năm 1963–1967 là quãng ông viết nhiều nhất. Ông xuống Mỹ Tho sau trận Ấp Bắc, về Bến Tre, Đồng Tháp Mười; có chuyến bị địch càn, người cùng đi là họa sĩ Huỳnh Công Thu hy sinh. Ông có mặt ở cả hai kỳ đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua của miền Nam, năm 1965 và năm 1967, và gặp ở đó những con người sau này thành nhân vật của mình. Bút ký, truyện ký, tiểu thuyết lần lượt ra đời: Ở xã Trung Nghĩa, Cô gái đất Ba Dừa, Sen trong đồng, Ước mơ của đất, Người mẹ cầm súng.
Người mẹ cầm súng, Mẹ vắng nhà và gia đình chị Út Tịch
Nhân vật nổi tiếng nhất của Nguyễn Thi có thật ngoài đời: chị Út Tịch (Nguyễn Thị Út), nữ du kích ở giồng Tam Ngãi, Trà Vinh, một người mẹ đông con mà vẫn thường xuyên ra trận. Ông gặp chị tại Đại hội Anh hùng lần thứ nhất năm 1965 và viết Người mẹ cầm súng. Bảo tàng Văn học gọi đây là tập truyện ký; vài tài liệu khác, kể cả Wikipedia, xếp nó vào tiểu thuyết. Tác phẩm được Giải thưởng Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu năm 1965, một giải mang tên nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu của đất Nam Bộ.
Từ cùng gia đình ấy, tháng 6/1966 ông viết Mẹ vắng nhà, kể về năm đứa con nhỏ tự trông nhau ở nhà khi mẹ đi đánh giặc: con Bé leo lên ngọn dừa ngóng tin mẹ, rồi bày trò làm cô giáo dạy các em dù chính nó chưa biết chữ. Câu chuyện đi xa hơn tác giả của nó tưởng. Theo báo Thanh Niên, năm 1972 truyện được dịch sang tiếng Nhật và in với tranh minh họa của họa sĩ Chihiro Iwasaki; năm 2008, NXB Phụ Nữ in lại bản tiếng Việt kèm 30 bức tranh ấy. Câu chuyện về gia đình chị Út Tịch sau đó được dựng thành phim Mẹ vắng nhà, bộ phim mà nhiều thế hệ khán giả còn nhớ.
Với tiểu thuyết Ước mơ của đất, ông làm theo cách tương tự: gặp chị Nguyễn Thị Hạnh ở Đại hội lần thứ hai năm 1967 rồi lấy chị làm điểm tựa cho nhân vật. Cuốn sách còn đang viết dở thì chiến dịch Mậu Thân bắt đầu.
Văn của người nông dân Nam Bộ cầm súng
Sách giáo khoa Ngữ văn 12 xếp Nguyễn Thi vào hàng nhà văn của nông dân Nam Bộ thời chống Mỹ. Danh xưng ấy đúng ở chỗ nhân vật của ông gần như đều là nông dân miền Đông, miền Tây: bộc trực, hồn nhiên, hay đùa, thương người, và căm thù giặc tới mức không cần giải thích. Nhưng nó dễ làm người đọc quên rằng chính người viết là dân Nam Định, chỉ sống ở Nam Bộ từ năm mười lăm tuổi.
Đọc kỹ, có ba điều làm nên giọng văn Nguyễn Thi:
- Tiếng nói Nam Bộ đặt đúng chỗ. Nhà văn Thanh Giang, người sống và làm tạp chí cùng ông những năm 1962–1967, nhận xét ông có tài dùng phương ngữ. Lời thoại của chị Chiến, chú Năm, của bầy con chị Út Tịch nghe như người thật nói, ngắn, gọn, nhiều khi ngang ngạnh mà vẫn có duyên.
- Đi vào ý nghĩ nhân vật. Truyện của ông hay kể qua dòng hồi tưởng, nhảy từ cảnh này sang cảnh khác như những đoạn phim cắt dựng. Những đứa con trong gia đình là ví dụ rõ nhất: cả câu chuyện hiện ra qua những lần tỉnh, ngất của một người lính trẻ bị thương.
- Không né cái chết. Ông viết chiến tranh với máu, xác người, mất mát cụ thể, nhưng đặt bên cạnh đó những chi tiết đời thường rất nhỏ: con đom đóm úp trong lòng bàn tay, cái bánh ú treo đầu súng của người mẹ đi đánh giặc về.
Cách viết ấy khiến văn Nguyễn Thi gần với các cây bút Nam Bộ cùng thời như Nguyễn Quang Sáng, dù xuất thân của hai người khác hẳn nhau. Đó là nhận xét của người biên tập bài này, không trích của ai.
Những đứa con trong gia đình trong chương trình Ngữ văn 12 cũ
Truyện ngắn hoàn thành tháng 2/1966, khi tác giả đang làm việc ở tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng. Truyện kể về hai chị em Chiến và Việt: cha bị giặc giết từ hồi Việt còn nhỏ, má vừa chết vì đạn pháo Mỹ. Hai chị em giành nhau đi tòng quân, được chú Năm đứng ra bênh, rồi trước ngày lên đường cùng khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú. Sau một trận đánh trong rừng cao su, Việt bị thương nặng, lạc đơn vị, và những ký ức gia đình trở về trong từng lần tỉnh lại.
| Bộ sách | Vị trí | Ghi chú |
|---|---|---|
| SGK Ngữ văn 12, tập hai (chương trình 2006) | Văn bản đọc văn, học kì II | Văn bản trích; câu hỏi hướng dẫn học bài ở trang 63–64 |
| Ba bộ Ngữ văn 2018 (Kết nối tri thức, Chân trời sáng tạo, Cánh diều) | Không có trong mục lục văn bản mà Văn VN đối chiếu | Vẫn hay gặp trong đề ôn luyện, đề đọc hiểu ngoài SGK |
Bài viết hỗ trợ trên Văn VN:
- Mở bài Những đứa con trong gia đình – các mẫu trực tiếp, gián tiếp, theo nhân vật Chiến, Việt, chú Năm.
- Kết bài Những đứa con trong gia đình – các mẫu tóm lược và mở rộng.
Khi giới thiệu tác giả trong bài văn, học sinh nên nhớ đúng mấy chi tiết hay bị nhầm: tên khai sinh là Nguyễn Hoàng Ca; Nguyễn Ngọc Tấn là bút danh trước, Nguyễn Thi là bút danh sau; ông là người Nam Định sống ở Nam Bộ, không phải người Nam Bộ gốc.
Ngã xuống ở Sài Gòn mùa hè Mậu Thân

Bận viết phần một Ước mơ của đất, Nguyễn Thi không tham gia đợt một cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân. Xong bản thảo, ông về Phân khu 2 ở Long An, theo các đơn vị đánh vào Sài Gòn trong đợt hai, mùa hè năm 1968. Tại cuộc tọa đàm về ông năm 2010, những người cùng thời kể lại rằng chính ủy phân khu muốn giữ ông ở lại vì tình hình quá ác liệt; ông từ chối, nói mình là chiến sĩ trước khi là nhà văn.
Ông theo một mũi tiến vào nội đô hướng đường Minh Phụng. Tin điện báo về căn cứ ghi ông hy sinh ngày 9/5/1968. Có người nói ông ngã ở ngã ba Thanh Lương, có người nói trên đường Minh Phụng; đến nay hài cốt ông vẫn chưa tìm thấy. Thứ gửi về căn cứ là chiếc túi vải với khẩu súng ngắn đã bắn hết đạn, cái bi đông đun nước pha trà, bản thảo phần một Ước mơ của đất, ba chương tiểu thuyết Ở xã Trung Nghĩa và một bút ký viết dở.
Tại cuộc tọa đàm năm 2010, người ta nhắc lại lời ông từng tự nhận: đời mình, từ tình thương mẹ, chuyện học hành, tình duyên cho tới sự nghiệp văn chương, đều lận đận và dang dở. Những năm sau chiến tranh, phần ghi nhận đến dần:
- Tác phẩm được tập hợp trong Truyện và ký Nguyễn Thi (Bảo tàng Văn học ghi năm 1969, nhiều tài liệu ghi 1978) và bộ Nguyễn Ngọc Tấn – Nguyễn Thi toàn tập 4 quyển, khoảng 2.700 trang, in năm 1996, gồm cả những trang lấy ra từ di cảo.
- Nơi ông ngã xuống được đặt tên đường Nguyễn Thi.
- Năm 2000, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
- Năm 2011, Nhà nước truy tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, cùng đợt với nhà thơ Lê Anh Xuân, tác giả Dáng đứng Việt Nam, người cũng hy sinh năm 1968.
Nhiều nhà văn mặc áo lính cùng thời, như Nguyễn Minh Châu, còn sống qua chiến tranh để nhìn lại nó từ một khoảng lùi. Nguyễn Thi thì không. Những gì ông để lại được viết ngay giữa trận, và nhiều trang dừng lại giữa chừng.
Hỏi nhanh về nhà văn Nguyễn Thi
Nguyễn Thi tên thật là gì?
Tên khai sinh của ông là Nguyễn Hoàng Ca. Nguyễn Ngọc Tấn và Nguyễn Thi đều là bút danh.
Nguyễn Thi quê ở đâu?
Xã Quần Phương Thượng (nay là xã Hải Anh), huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; theo địa giới sau năm 2025 là tỉnh Ninh Bình. Ông sống ở Nam Bộ từ năm 1943.
Nguyễn Thi mất năm nào, ở đâu?
Ông hy sinh ngày 9/5/1968 ở mặt trận Sài Gòn, trong đợt hai cuộc tổng tiến công Mậu Thân.
Những đứa con trong gia đình được viết năm nào?
Tháng 2/1966, ở chiến trường Nam Bộ, khi tác giả công tác tại tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng.
Xem thêm: