Nguyễn Duy (sinh năm 1948) là nhà thơ trưởng thành từ người lính thông tin thời chống Mỹ, tác giả Tre Việt Nam, Ánh trăng, Đò Lèn và nhiều bài lục bát mang giọng dân dã đến mức nhà phê bình Chu Văn Sơn gọi ông là “thi sĩ thảo dân”. Tên thật của ông là Nguyễn Duy Nhuệ. Năm 2007, ông được Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật; đến nay, ở tuổi gần tám mươi, ông vẫn đi đọc thơ khắp các tỉnh.
Ai yêu giọng thơ này có thể đọc tiếp bài thơ Thuốc lào.
Nguyễn Duy Nhuệ, đứa cháu ngoại ở Đông Vệ

| Tên thật | Nguyễn Duy Nhuệ |
| Năm sinh | 7/12/1948 (còn sống) |
| Quê quán | Xã Đông Vệ, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (sau là phường Đông Vệ, TP Thanh Hóa; từ 2025 thuộc phường Hạc Thành); quê ngoại ở vùng Đò Lèn, Hà Trung |
| Nghề nghiệp | Lính thông tin, nhà báo (báo Văn nghệ), nhà thơ |
| Thể loại | Thơ (nổi bật là lục bát), kịch thơ, tiểu thuyết, bút ký |
| Tác phẩm tiêu biểu | Cát trắng (1973), Ánh trăng (1984), Mẹ và em (1987), Về (1994), Bụi (1997) |
| Giải thưởng | Giải nhất thơ báo Văn nghệ 1972–1973; giải A của Hội Nhà văn cho tập Ánh trăng; Giải Mai Vàng 1997; Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật 2007 |
| Trong SGK | Ánh trăng (Ngữ văn 9 chương trình 2006); Đò Lèn (Ngữ văn 12 chương trình 2006, đọc thêm) |
Mẹ mất sớm, cậu bé Nhuệ lớn lên bên bà ngoại. Chính quãng tuổi thơ ấy về sau thành bài Đò Lèn, nơi nhà thơ tự gọi mình là đứa cháu mồ côi và nhớ lại người bà mò cua, bán trứng ở ga Lèn. Ông học cấp ba ở trường Lam Sơn (Thanh Hóa) và bắt đầu làm thơ từ đó; theo một bài trên báo Nông nghiệp và Môi trường năm 2026, bài thơ đầu tay của ông có tên Trên sân trường.
Từ dân quân cầu Hàm Rồng đến lính đường dây thông tin
Năm 1965, khi máy bay Mỹ đánh phá cầu Hàm Rồng, Nguyễn Duy là tiểu đội trưởng dân quân trực chiến ở khu vực cầu. Năm sau ông nhập ngũ, vào bộ đội thông tin, làm lính đường dây. Những trận ông đi qua có tên trong nhiều tiểu sử: Đường 9 – Khe Sanh (1968), Đường 9 – Nam Lào (1971), Quảng Trị (1972); sau chiến tranh, ông còn ra biên giới Tây Nam và phía Bắc những năm 1978–1979 với tư cách phóng viên mặt trận.
Từ năm 1971, người lính được cử đi học khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội, nhưng vẫn mang quân hàm. Đang là sinh viên năm thứ hai, ông đoạt giải nhất cuộc thi thơ của tuần báo Văn nghệ 1972–1973 với chùm bài Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Giọt nước mắt và nụ cười, Tre Việt Nam. Cũng năm 1973, tập thơ đầu tay Cát trắng ra đời. Hơi ấm ổ rơm, bầu trời vuông của căn hầm, cây tre gầy guộc mà chắc rễ: thơ ông khi ấy đã chọn những hình ảnh rất đời thường để nói về chiến tranh.
Bài Tre Việt Nam của ông là thơ lục bát, khác với bài bút ký Cây tre Việt Nam của nhà báo Thép Mới mà học sinh lớp 6 học; hai văn bản hay bị nhầm vì trùng hình ảnh.
Sau 1975: Tìm thân nhân và tòa soạn Văn nghệ phía Nam
Hòa bình, Nguyễn Duy về làm báo Văn nghệ Giải phóng, rồi từ năm 1977 là đại diện thường trú của tuần báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) tại phía Nam, công việc ông gắn bó cho tới khi nghỉ hưu. Theo lời ông kể trên báo Nông nghiệp và Môi trường, sau ngày 30/4/1975 ông quen Trịnh Công Sơn ở Huế, được người nhạc sĩ dặn vào Sài Gòn nhớ ghé thăm mẹ mình, và chính tại ngôi nhà ấy ông viết bài Tìm thân nhân, in trên số Xuân 1976 của báo Văn nghệ Giải phóng.
Nhạc sĩ họ Trịnh có một câu tả bạn rất hay được nhắc: “Hình hài Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc trên đám đất hoang ấy”.
Những năm 1980, thơ Nguyễn Duy chuyển sang giọng thế sự. Bài Đánh thức tiềm lực viết năm 1983, đề tặng “anh Sáu Dân”, tức ông Võ Văn Kiệt, nhân dịp ông chuyển sang lo việc kinh tế. Ba khổ của bài này về sau được chọn làm ngữ liệu đọc hiểu trong đề thi Ngữ văn THPT quốc gia năm 2018; nhà thơ nói với báo chí rằng bài ấy chưa từng được dạy trong sách giáo khoa. Cùng giai đoạn, ông viết kịch thơ Em – Sóng (1983), tiểu thuyết Khoảng cách (1985 hoặc 1986 tùy nguồn) và bút ký Nhìn ra bể rộng trời cao (1986).
Ánh trăng, Đò Lèn và những tập thơ
Ánh trăng được viết năm 1978 tại TP Hồ Chí Minh: người lính từng coi vầng trăng là tri kỷ ở rừng, về thành phố có đèn điện thì quên trăng, đến lúc mất điện mới giật mình. Bài thơ in trong tập cùng tên (Nhà xuất bản Tác phẩm mới, 1984); tập này được giải A của Hội Nhà văn Việt Nam, SGK ghi năm 1984, Bảo tàng Văn học ghi tặng thưởng năm 1985. Đò Lèn được viết tháng 9/1983, cũng in trong tập ấy.
| Tập thơ | Năm | Ghi chú |
|---|---|---|
| Cát trắng | 1973 | Tập đầu tay, có chùm thơ đoạt giải báo Văn nghệ |
| Ánh trăng | 1984 | Có bài Ánh trăng, Đò Lèn |
| Mẹ và em; Đãi cát tìm vàng | 1987 | Mẹ và em cùng Cát trắng, Ánh trăng là ba tập xét Giải thưởng Nhà nước 2007 |
| Đường xa | 1989 (có nguồn ghi 1990) | |
| Quà tặng | 1990 | |
| Về | 1994 | |
| Vợ ơi | 1995 | Tập thơ viết cho vợ, tái bản năm 2020 |
| Bụi | 1997 | Giải Mai Vàng 1997 của báo Người Lao Động |
Văn VN có các bài đọc thêm về bài thơ Ánh trăng, bài thơ Đò Lèn và tuyển tập những bài thơ của Nguyễn Duy.
Lục bát của một “thi sĩ thảo dân”
Năm 2004, trong bài viết về thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Duy đăng trên VnExpress, Chu Văn Sơn nói ông cứ muốn gọi Nguyễn Duy là thi sĩ thảo dân. Chữ “thảo dân” ấy hợp nhất với mảng lục bát. Nguyễn Duy có hẳn những tập tuyển lục bát như Sáu và Tám (1994) và Tuyển thơ lục bát (2017). Vương Trí Nhàn nhận xét, đại ý, lục bát của ông không ngả về phía mượt mà của Truyện Kiều mà về phía câu đố, hát xẩm, giọng tàng tễu của dân gian. Những bài như Tre Việt Nam, Đò Lèn hay Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa đều cho thấy cái giọng ấy: chữ quê, nhịp nói thường, mà vẫn giữ đúng luật thơ lục bát.
Một số trang gán cho ông biệt danh “ông thánh thơ ngông”; chúng tôi không tìm được nguồn nào cho biệt danh này. Danh xưng “thi sĩ thảo dân” thì có xuất xứ rõ, như đã nói ở trên.
Thơ ra khỏi trang sách: lịch thơ, giấy dó, thúng mủng
Cuối thập niên 1990, Nguyễn Duy tuyên bố gác bút thơ (Wikipedia ghi năm 1997) để làm một việc lạ: in thơ lên lịch. Theo báo Sài Gòn Giải Phóng, từ năm 1999 mỗi năm ông làm một bộ lịch thơ theo một chủ đề, lần lượt là thúng mủng giần sàng, lá trong vườn quê, nhân vật rối, cố đô Huế, tranh tố nữ, côn trùng và cỏ dại. Chu Văn Sơn còn kể về những cuộc triển lãm ông viết thơ lên chính đồ vật nhà quê như thúng, mủng, nong, nia, chum, vại.
Năm 2005, ông mở triển lãm Thơ Thiền Lý – Trần: 30 bài thơ Thiền thời Lý – Trần do ông dịch ra lục bát, in trên giấy dó khổ lớn kèm ảnh do chính ông chụp, phần tiếng Anh làm cùng Nguyễn Bá Chung và Kevin Bowen. VnExpress khi ấy cho biết ông chuẩn bị dự án từ cuối năm 2000, và có ba năm phải nằm dưỡng thương sau một tai nạn giao thông.
Ánh trăng, Đò Lèn trong chương trình Ngữ văn cũ và đề thi 2018
Trong chương trình Ngữ văn 2006, Nguyễn Duy có hai bài thơ; sách Ngữ văn mới (Kết nối tri thức, Chân trời sáng tạo, Cánh diều) theo mục lục chúng tôi đối chiếu chưa chọn văn bản nào của ông.
| Văn bản | Sách – vị trí | Bài liên quan trên Văn VN |
|---|---|---|
| Ánh trăng | Ngữ văn 9, tập 1 (chương trình 2006) | Phân tích Ánh trăng; Mở bài Ánh trăng; Kết bài Ánh trăng |
| Đò Lèn | Ngữ văn 12, tập 1, bài đọc thêm (trang 147–149, chương trình 2006) | Phân tích, cảm nhận Đò Lèn |
| Đánh thức tiềm lực (ba khổ) | Ngữ liệu đọc hiểu, đề thi Ngữ văn THPT quốc gia 2018 | — |
Theo Vương Trí Nhàn và nhiều tài liệu khác, Tre Việt Nam cũng từng được đưa vào sách giáo khoa phổ thông, nhưng chúng tôi chưa xác định được chính xác sách nào, lớp nào.
Giải thưởng Nhà nước 2007 và chuyến đọc thơ xuyên Việt
Năm 2007, Nguyễn Duy được Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật với ba tập Cát trắng, Ánh trăng, Mẹ và em. Bảo tàng Văn học ghi ông có 13 tập thơ, 3 tập bút ký và 1 tiểu thuyết; một bài báo năm 2026 đếm được 18 tập thơ, tính cả các tuyển tập.
Tháng 4/2025, đúng dịp 50 năm thống nhất, ông bắt đầu chuyến đọc thơ xuyên Việt mang tên bài thơ cũ Tìm thân nhân, khởi hành từ TP Hồ Chí Minh. Năm mươi năm sau bài thơ viết ở nhà Trịnh Công Sơn, người lính đường dây năm nào vẫn đi tìm thân nhân bằng thơ.