Bản thảo là văn bản của một cuốn sách, bài báo hay tài liệu ở dạng chép tay, gõ máy hoặc tệp trên máy tính, được soạn để đem in, tức là bản chưa thành sách. Người học tiếng Anh hay hỏi bản thảo tiếng Anh là gì: thường dịch là manuscript, còn khi chỉ một bản nháp đang sửa thì dùng draft. Trong sách thuốc Đông y, hai chữ này lại mang một nghĩa khác hẳn.
| Nghĩa thường dùng | Bản chép tác phẩm, tài liệu trước khi in, còn có thể sửa |
| Loại từ | Danh từ, gốc Hán Việt |
| Nghĩa thứ hai | Sách ghi chép về cây, con, vị thuốc (chữ 本草, như trong Bản thảo cương mục) |
| Tiếng Anh | manuscript (bản thảo để nộp in), draft (bản nháp) |
| Hay đi với | nộp bản thảo, duyệt bản thảo, bản thảo viết tay, bản thảo đầu tay |

Bản thảo: chặng giữa trang nháp và cuốn sách
Thử hình dung đường đi của một cuốn truyện. Tác giả viết nháp, gạch xóa, chép lại cho sạch. Đến lúc bản ấy đủ chỉn chu để gửi đi, người ta gọi nó là bản thảo. Nhà xuất bản đọc, biên tập viên sửa, tác giả chữa thêm vài lượt, rồi mới dàn trang và in. Cuốn sách cầm trên tay là bản in; còn tờ giấy hay tệp chữ đứng trước nó, dù đã sửa đến lượt thứ mấy, vẫn là bản thảo.
Wiktionary tiếng Việt (dẫn từ điển Việt–Việt của dự án Từ điển tiếng Việt miễn phí) giải nghĩa bản thảo là văn bản thảo ra để đánh máy hoặc đem in, với ví dụ bản thảo đã chuyển sang nhà xuất bản. Luật Xuất bản năm 2012 cũng định nghĩa theo hướng đó và kể đủ ba dạng: viết tay, đánh máy, hay soạn trên máy tính. Chi tiết cuối đáng để ý: tệp Word gửi qua thư điện tử cũng là bản thảo, chẳng cần mực hay giấy.
Từ này không chỉ dùng cho sách. Một công văn, một bài báo, một bài phát biểu trước khi chốt đều có thể gọi là bản thảo. Khi đã in thành sách, báo, tờ rơi thì vật ấy chuyển sang tên gọi khác, xem thêm phần ấn phẩm khác ấn bản ở chỗ nào.
Hai chữ “thảo” trong tiếng Việt
Chữ thảo 草 vốn nghĩa là cỏ. Từ đó người xưa mở ra nét nghĩa “viết sơ, viết nháp”: chữ thảo là lối chữ viết nhanh, khởi thảo là bắt đầu viết bản nháp, dự thảo là bản soạn trước để bàn, thảo hịch là soạn bài hịch. Bản thảo theo nghĩa thường gặp nằm trong họ từ này: một bản viết còn ở dạng sơ, chưa được in ấn định hình.
Nghĩa thứ hai thì giữ nguyên chữ “cỏ”. 本草, đọc là bản thảo hay bổn thảo, có nghĩa đen là “gốc cỏ”, dùng để gọi các sách dược liệu, vì phần lớn vị thuốc xưa là thảo mộc. Bộ sách nổi tiếng nhất mang tên này là Bản thảo cương mục của thầy thuốc Lý Thời Trân đời Minh, chép gần một nghìn chín trăm vị thuốc. Gặp cụm “sách bản thảo” trong bài viết về Đông y, nên hiểu là sách thuốc, chứ không phải bản nháp của một cuốn sách.
Bản thảo khác bản nháp, dự thảo và bản in ra sao?
Mấy từ này nằm sát nhau nên dễ dùng lẫn. Bảng dưới xếp theo thứ tự một văn bản thường đi qua.
| Từ | Chỉ cái gì | Câu dùng đúng |
|---|---|---|
| Bản nháp | Bản viết thử, chủ yếu cho riêng người viết | Em làm bản nháp ra giấy trước rồi mới chép vào vở. |
| Bản thảo | Bản đã tương đối hoàn chỉnh, gửi cho người khác đọc, duyệt, in | Tác giả nộp bản thảo cho nhà xuất bản từ đầu năm. |
| Dự thảo | Bản soạn sẵn của luật, nghị quyết, quy chế để đem ra lấy ý kiến | Dự thảo luật được đăng lên để người dân góp ý. |
| Bản in, ấn phẩm | Sản phẩm sau khi in, phát hành | Bản in lần đầu có vài lỗi chính tả. |
Ranh giới giữa bản nháp và bản thảo không cứng. Nhiều người viết vẫn gọi bản thảo là “bản nháp sạch”. Còn chữ đối lập rõ nhất với bản thảo là bản in: một bên còn sửa được, một bên đã thành hình.
Chuyện bản thảo “Cái lò gạch cũ”
Học sinh lớp 11 thường gặp một ví dụ rất rõ về khoảng cách giữa bản thảo và bản in. Truyện ngắn của Nam Cao viết năm 1941 vốn có tên Cái lò gạch cũ. Khi in thành sách lần đầu, nhà xuất bản Đời Mới ở Hà Nội đổi tên thành Đôi lứa xứng đôi. Đến năm 1946, in lại trong tập Luống cày, tác giả mới đặt tên là Chí Phèo. Một truyện, ba cái tên: cái tên trong bản thảo, cái tên nhà in chọn, và cái tên tác giả giữ lại. Bài giới thiệu truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao có kể kĩ hơn về hoàn cảnh ra đời này.
Với người nghiên cứu, bản thảo của nhà văn là tài liệu quý: nhìn chỗ gạch, chỗ thêm, có thể thấy tác giả đã cân nhắc từng chữ thế nào.
Một lưu ý nhỏ khi viết: đừng gọi cuốn sách đã phát hành là “bản thảo mới ra mắt”. Sách đã in thì đó là tác phẩm, ấn phẩm; chỉ khi còn nằm trên bàn biên tập, nó mới là bản thảo.
Bản thảo qua những câu dùng quen
Bản thảo tiếng Anh là gì?
Nghĩa nộp in thì dùng manuscript, ví dụ submit a manuscript là nộp bản thảo. Nếu muốn nói một bản đang soạn dở, còn phải sửa, thì dùng draft, như first draft là bản thảo đầu tiên. Nghĩa sách thuốc 本草 thường được để nguyên phiên âm Bencao.
Bản thảo là gì trong văn học?
Trong văn học, bản thảo là văn bản tác phẩm do chính tác giả viết ra trước khi in. Giới nghiên cứu văn bản học dùng bản thảo để đối chiếu các lần in, xác định câu chữ gốc và tìm hiểu quá trình sáng tác.
Bản thảo sách gồm những phần nào?
Thường có trang tên sách, phần chính văn chia chương, và tùy loại sách có thêm lời nói đầu, chú thích, tài liệu tham khảo. Mỗi nhà xuất bản có yêu cầu riêng về khổ chữ, cách trình bày khi nhận bản thảo, nên người viết nên hỏi trước khi gửi.
Bản thảo cương mục là sách gì?
Đây là bộ sách thuốc do Lý Thời Trân biên soạn thời nhà Minh ở Trung Quốc, ghi chép gần một nghìn chín trăm loại cây, con và khoáng vật dùng làm thuốc. Chữ “bản thảo” trong tên sách nghĩa là dược liệu, không liên quan tới bản nháp.