Tháng 2/1887, khi tháp Ép-phen vừa khởi công, một nhóm văn nghệ sĩ Pa-ri ký thư phản đối tòa tháp mà họ cho là vô ích và quái dị; trong danh sách có tên Guy đơ Mô-pa-xăng. Guy đơ Mô-pa-xăng (Guy de Maupassant, 1850 – 1893) là nhà văn Pháp thế kỷ XIX, học trò của Gu-xta-vơ Phlô-be, được coi là một trong những người đặt nền cho truyện ngắn hiện đại, với hơn ba trăm truyện ngắn và sáu cuốn tiểu thuyết viết trong vỏn vẹn khoảng mười năm. Học sinh Việt Nam biết ông qua truyện Bố của Xi-mông (Ngữ văn 7, 8).
Tuổi thơ bên bờ biển Ê-tơ-ra

| Tên đầy đủ | Henri-René-Albert-Guy de Maupassant; SGK phiên âm Guy đơ Mô-pa-xăng (một số tài liệu viết Mô-pát-xăng) |
| Bút danh khác | Joseph Prunier, Guy de Valmont, Maufrigneuse |
| Năm sinh – năm mất | 5/8/1850 – 6/7/1893 |
| Quê quán | Vùng Noóc-măng-đi, miền Bắc nước Pháp; khai sinh tại lâu đài Mi-rô-mê-xnin, xã Tua-vin-xuy-a-rơ, gần Điếp |
| Thể loại | Truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký du lịch, thơ, kịch, báo chí |
| Tác phẩm tiêu biểu | Viên mỡ bò (1880), Một cuộc đời (1883), Ông bạn đẹp (Bel-Ami, 1885), Sợi dây chuyền, Hoóc-la (1887), Pi-e và Giăng (1888) |
| Trong SGK hiện hành | Bố của Xi-mông (Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo; Ngữ văn 7 Cánh diều) |
Ngay nơi sinh của ông cũng có hai cách ghi. Giấy tờ chính thức ghi lâu đài Mi-rô-mê-xnin gần thị trấn Điếp; Thư viện Quốc gia Pháp (BnF) cho rằng nhiều khả năng ông chào đời ở nhà ông bà ngoại tại Phê-cam. Cha ông, Gustave de Maupassant, là người đã xin tòa án Ru-ăn cho thêm chữ “de” quý tộc vào họ năm 1846, theo mong muốn của vợ. Mẹ ông, Laure Le Poittevin, là người phụ nữ đọc rộng, mê Sếch-xpia, và là bạn từ thuở nhỏ của nhà văn Gu-xta-vơ Phlô-be.
Người cha ăn chơi, có lúc thô bạo với vợ. Khoảng năm 1860, hai ông bà ly thân, việc khá hiếm và dễ mang tiếng thời ấy. Bà Laure đưa hai con trai, Guy và cậu em Hervé, về sống ở ngôi nhà Les Verguies tại Ê-tơ-ra, giữa biển và đồng quê. Những năm này là quãng tự do nhất đời ông: theo dân chài ra khơi, nói tiếng địa phương với nông dân. Biển, vách đá Ê-tơ-ra và người dân vùng Cô (Caux) đi vào hàng chục truyện sau này.
Năm mười ba tuổi, cậu bị gửi vào trường dòng ở I-vơ-tô. Cậu ghét không khí tu viện, làm thơ và cuối cùng bị đuổi học năm 1868 vì mấy câu thơ phóng túng, rồi chuyển sang trường trung học ở Ru-ăn. Cũng quãng thời gian này, cậu thiếu niên Guy cứu nhà thơ Anh Swinburne khỏi chết đuối ở Ê-tơ-ra; Wikipedia ghi chuyện xảy ra năm 1868, còn niên biểu của BnF ghi mùa hè năm 1866.
Lính pháo binh năm 1870, viên thư ký bộ Hải quân
Đỗ tú tài văn chương tháng 7/1869, ông lên Pa-ri học luật thì chiến tranh Pháp – Phổ bùng nổ. Chàng trai hai mươi tuổi ra trận, làm ở bộ phận hậu cần rồi chuyển sang pháo binh, theo đoàn quân rút chạy trước quân Phổ ở Noóc-măng-đi. Năm 1871 ông thuê người đi lính thay và rời quân ngũ. Cái nhìn về chiến tranh như một thứ phi lý, nơi dân thường bị cuốn vào những biến cố ngoài sức mình, về sau là sợi chỉ đỏ của cả loạt truyện: Viên mỡ bò, Hai người bạn, Mẹ Xô-va, Cô Phi-phi.
Từ năm 1872, ông làm thư ký ở Bộ Hải quân, ban đầu không lương, rồi chuyển sang Bộ Giáo dục công cộng nhờ Phlô-be giới thiệu. Ngày làm công chức, tối viết, Chủ nhật và ngày nghỉ chèo thuyền trên sông Xen ở Ác-giăng-tơi với bạn bè. Thế giới những viên chức nhỏ với đồng lương còm, những ông trưởng phòng hách dịch, những cuộc đi chơi ngoại ô cuối tuần được ông ghi lại trong rất nhiều truyện về Pa-ri.
Bảy năm học viết bên Gu-xta-vơ Phlô-be
Phlô-be quen Mô-pa-xăng từ khi cậu mới mười bảy tuổi, nhưng phải từ khoảng năm 1873 việc dạy dỗ mới thực sự bắt đầu. Ông đọc bản thảo, góp ý từng câu văn, rèn cho cậu học trò một văn phong và một cái nhìn của riêng mình. Người học trò trẻ coi Phlô-be như cha đỡ đầu văn chương; Phlô-be thì dẫn cậu vào giới văn sĩ: ở căn hộ của ông tại Pa-ri, Mô-pa-xăng gặp Dô-la, Tuốc-ghê-nhép, Ét-mông đơ Gông-cua và An-phông-xơ Đô-đê.
Truyện ngắn đầu tiên được in, Bàn tay người bị lột da, ra đời năm 1875 dưới bút danh Joseph Prunier. Hai năm sau, ngày 2/3/1877, ông biết mình mắc bệnh giang mai từ nhiều năm trước, căn bệnh sẽ định đoạt phần đời còn lại. Tháng 12/1879, tạp chí La Réforme in truyện Bố của Xi-mông (Le Papa de Simon). Đó vẫn là quãng học việc.
Viên mỡ bò và một đêm thành danh
Tháng 4/1880, Dô-la và năm nhà văn trẻ chung nhau in tập truyện Những buổi tối ở Mê-đăng, mỗi người một truyện về chiến tranh 1870, sau này được xem như tuyên ngôn của chủ nghĩa tự nhiên. Truyện của Mô-pa-xăng là Viên mỡ bò (Boule de Suif): một cỗ xe ngựa chở mười người rời Ru-ăn bị quân Phổ chiếm, trong đó có một cô gái điếm bị những hành khách tự cho mình là đứng đắn ép phải chiều tên sĩ quan Phổ để cả đoàn được đi tiếp, rồi lại bị chính họ khinh miệt. Truyện thành công vang dội và đưa tác giả ba mươi tuổi ra khỏi bóng tối. Phlô-be kịp khen đó là một kiệt tác trước khi đột ngột qua đời ngày 8/5/1880.
Viên mỡ bò cho thấy những nét sẽ thành chữ ký của ông: không gian khép kín, ít nhân vật, câu văn tiết kiệm, người kể đứng ngoài lạnh lùng, và một kết thúc khiến người đọc tự phán xét lấy.
Mười năm, ba trăm truyện ngắn
Thập niên 1880 là quãng làm việc phi thường. Ông viết cho các báo Le Gaulois, Gil Blas, Le Figaro, mỗi năm ra hai, có năm bốn tập sách. Nhuận bút và đầu óc kinh doanh khiến nhà văn trở nên giàu có, sắm cả du thuyền đặt tên Bel-Ami. Vài cột mốc theo niên biểu của BnF và Wikipedia:
| Năm | Tác phẩm | Ghi chú |
|---|---|---|
| 1881 | Nhà Ten-li-ê (La Maison Tellier) | Tập truyện đầu tiên, có in lại Bố của Xi-mông; tái bản mười hai lần trong hai năm |
| 1883 | Một cuộc đời (Une vie) | Tiểu thuyết đầu tay, cuộc đời một cô gái Noóc-măng-đi bị chồng phụ bạc |
| 1885 | Ông bạn đẹp (Bel-Ami) | Một gã trai tham vọng leo thang nhờ báo chí và phụ nữ; theo BnF, sách bán chậm lại vì cả nước Pháp đang lo quốc tang Vích-to Huy-gô |
| 1887 | Hoóc-la (Le Horla) | Tập truyện mà truyện chính là nhật ký của một người tin mình bị sinh vật vô hình ám |
| 1888 | Pi-e và Giăng (Pierre et Jean) | In kèm tiểu luận Bàn về tiểu thuyết, trình bày quan niệm nghệ thuật của ông |
| 1890 | Trái tim chúng ta (Notre cœur) | Tiểu thuyết cuối cùng hoàn thành |
Truyện ngắn của ông đi qua ba thế giới chính: làng quê Noóc-măng-đi với những người nông dân keo kiệt, láu lỉnh, đôi khi tàn nhẫn (Sợi dây, Lão Tôi-nơ); chiến tranh 1870; và Pa-ri của viên chức, gái làng chơi, giới thượng lưu (Sợi dây chuyền kể chuyện một người phụ nữ mất mười năm trả nợ cho chiếc vòng mượn mà hóa ra là đồ giả). Bên cạnh đó là mảng truyện kỳ ảo, càng về sau càng nhiều, nơi cái siêu nhiên thường là triệu chứng của một tâm trí đang bất ổn. Ông còn đi nghe các buổi giảng công khai của bác sĩ thần kinh Sác-cô năm 1885 – 1886.
Con người ông cũng có những mâu thuẫn rõ rệt: sống giữa giới thượng lưu nhưng ghét xã giao, từ chối Bắc Đẩu Bội tinh và từ chối cả ghế Viện Hàn lâm Pháp. Còn chuyện tháp Ép-phen thì thành giai thoại: người ta kể ông hay ăn trưa ở nhà hàng dưới chân tháp, vì đó là chỗ duy nhất ở Pa-ri không phải nhìn thấy nó.
Bệnh tật và những năm cuối ở Pa-xi
Từ cuối thập niên 1880, những cơn đau đầu, bệnh mắt và chứng mất ngủ hành hạ ông; ông dùng thuốc, ê-te và đi chữa bệnh hết suối khoáng này đến suối khoáng khác. Tháng 11/1889, cậu em Hervé chết trong một nhà thương điên ở Bờ-rông. Nỗi sợ cái chết, sợ bị theo dõi, ám ảnh về một kẻ song trùng, những thứ trước đây chỉ có trong truyện kỳ ảo, giờ thành chuyện của chính người viết.
Đêm 1 rạng 2/1/1892 ở Can-nơ, ông tìm cách tự tử. Ngày 7/1/1892, ông được đưa vào dưỡng trí viện của bác sĩ Blăng-sơ ở Pa-xi (Paris) và không bao giờ ra khỏi đó. Ông mất ngày 6/7/1893, chưa đầy 43 tuổi, vì giang mai giai đoạn cuối, được chôn ở nghĩa trang Môn-pác-na-xơ. Tiểu thuyết Tiếng chuông chiều (L’Angélus) bỏ dở.
Bố của Xi-mông – truyện ngắn đầu tay trong sách giáo khoa
Bố của Xi-mông đăng trên tạp chí La Réforme ngày 1/12/1879, rồi in lại trong tập Nhà Ten-li-ê (1881). Truyện kể về cậu bé Xi-mông tám tuổi, con của chị Blăng-sốt, ngày đầu đến trường bị bạn bè chế giễu vì không có bố, định ra sông tự tử thì gặp bác thợ rèn Phi-líp. Đây là một Mô-pa-xăng ít thấy: giọng văn ấm, kết thúc có hậu, khác hẳn những truyện lạnh lùng sau này.
| Bộ sách | Vị trí | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo, tập 2 | Bài 7 (Yêu thương và hi vọng), văn bản đọc chính | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
| Ngữ văn 7 Cánh diều, tập 1 | Bài 1 (Truyện ngắn và tiểu thuyết), phần Tự đánh giá | Tóm tắt · Phân tích |
Bản dịch tiếng Việt trong sách giáo khoa còn được bảo hộ và đã lược phần đầu truyện, nên em đọc toàn văn trong SGK. Khi học, nên chú ý chi tiết những câu hỏi lặp lại của Xi-mông và sự thay đổi trong cách bác Phi-líp nhìn mẹ con cậu bé: đó là cách Mô-pa-xăng để tình thương lớn lên dần mà không cần lời bình.
Từ Mô-pa-xăng đến O. Hen-ri và Xô-mớt Mom
Lép Tôn-xtôi viết hẳn một tiểu luận về tác phẩm của Mô-pa-xăng. Ở Mỹ, người ta từng gọi O. Hen-ri là câu trả lời của nước Mỹ cho Mô-pa-xăng; nhà văn Anh Xô-mớt Mom (Somerset Maugham) học ở ông cách dựng cốt truyện chặt và cái kết lật ngược, thậm chí viết lại motip Sợi dây chuyền theo cách của mình. Truyện của ông cũng được chuyển thể điện ảnh rất nhiều; Wikipedia tiếng Anh ghi rằng chỉ sau Sếch-xpia.
Giới nghiên cứu thường đặt ông cạnh Sê-khốp như hai bậc thầy truyện ngắn thế kỷ XIX. Ông gần trường phái tự nhiên của Dô-la nhưng không đứng hẳn trong nhóm nào; điều ông học được nhiều nhất là từ Phlô-be: lối văn ngắn gọn, đo đếm, và khoảng cách lạnh lùng giữa người kể với câu chuyện. Đọc lại Bố của Xi-mông sau khi đã biết Viên mỡ bò hay Sợi dây chuyền, ta thấy người học trò ấy, dù đi đến tận cùng sự bi quan, vẫn giữ trong mình một góc dịu dàng của cậu bé lớn lên bên bờ biển Ê-tơ-ra.
Xem thêm: