Hai đứa trẻ (trích) của Thạch Lam, truyện ngắn trữ tình kể chuyện hai chị em Liên, An ngồi chờ chuyến tàu đêm nơi phố huyện nghèo, là văn bản được chọn cho phần Tự đánh giá cuối học kì I trong Ngữ văn 11 Cánh diều tập một. Trước bài tự đánh giá ấy, sách có mục Nội dung ôn tập gồm 10 câu chia theo Đọc hiểu, Viết, Nói và nghe, Tiếng Việt, cùng bảng định hướng đánh giá (trang 126–127); phần tự đánh giá ở trang 128–131 gồm 10 câu đọc hiểu và hai đề viết. Trang này trả lời đủ cả hai phần theo đề trong sách, kèm đề kiểm tra tham khảo có đáp án và bảng hệ thống bốn bài học. Mục lục bộ sách xem tại Ngữ văn 11 Cánh diều.

Nội dung ôn tập (trang 126–127)
Mục tiêu sách đặt ra: trình bày được những nội dung cơ bản đã học ở học kì I (đọc hiểu, viết, nói và nghe, tiếng Việt, văn học) và hiểu rõ yêu cầu của các dạng câu hỏi trong bài tự đánh giá cuối kì. Tập một có bốn bài chính sau Bài mở đầu: Thơ và truyện thơ, Thơ văn Nguyễn Du, Truyện, Văn bản thông tin.
Đọc hiểu văn bản
Câu 1 (trang 126): Lập bảng hoặc vẽ sơ đồ các bài đọc hiểu theo thể loại và kiểu văn bản
Từ các bài đã học trong sách Ngữ văn 11, tập một, hãy lập bảng hoặc vẽ sơ đồ về các bài đọc hiểu theo thể loại và kiểu văn bản.
Trả lời:
| Kiểu văn bản | Thể loại | Văn bản (bài) |
|---|---|---|
| Văn bản văn học | Thơ trữ tình | Sóng của Xuân Quỳnh, Tôi yêu em của Pu-skin, Hôm qua tát nước đầu đình – ca dao (Bài 1); Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du (Bài 2) |
| Truyện thơ dân gian | Lời tiễn dặn, trích Tiễn dặn người yêu của dân tộc Thái (Bài 1) | |
| Truyện thơ Nôm | Nỗi niềm tương tư, trích Bích Câu kì ngộ (Bài 1); Trao duyên, Anh hùng tiếng đã gọi rằng, Thề nguyền, đều trích Truyện Kiều (Bài 2) | |
| Truyện (truyện ngắn, tiểu thuyết) | Chí Phèo của Nam Cao, Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, Tấm lòng người mẹ trích Những người khốn khổ của Huy-gô, Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan (Bài 3) | |
| Văn bản nghị luận | Nghị luận văn học (về tác gia) | Nguyễn Du – Cuộc đời và sự nghiệp (Bài 2) |
| Văn bản thông tin | Thông tin tổng hợp | Phải coi luật pháp như khí trời để thở, Tạ Quang Bửu – người thầy thông thái, Tiếng Việt lớp trẻ bây giờ, Sông nước trong tiếng miền Nam (Bài 4) |
Câu 2 (trang 126): Đề tài, chủ đề và đặc điểm cần chú ý khi đọc các văn bản Bài 1
Xác định đề tài, chủ đề và một số đặc điểm tiêu biểu cần chú ý khi đọc các văn bản được học ở Bài 1 trong sách Ngữ văn 11, tập một.
Trả lời:
Đề tài chung: tình yêu đôi lứa, từ ca dao, truyện thơ dân gian, truyện thơ Nôm đến thơ hiện đại Việt Nam và thơ Nga.
| Văn bản | Chủ đề | Điều cần để ý khi đọc |
|---|---|---|
| Sóng | Tình yêu nồng nàn, thuỷ chung và khát vọng sống hết mình cho tình yêu của người phụ nữ. | Hai hình tượng song hành “sóng” và “em”; thể thơ năm chữ, nhịp như tiếng sóng. |
| Lời tiễn dặn | Tình yêu chung thuỷ, phản kháng tục ép duyên. | Cốt truyện tình bị ngăn trở; lời nhân vật chàng trai; cách nói ví von giàu chất dân ca Thái. |
| Tôi yêu em | Tình yêu chân thành, cao thượng, biết hi sinh cho hạnh phúc người mình yêu. | Cấu tứ lời tự bạch; điệp ngữ; giọng trầm, kìm nén. |
| Nỗi niềm tương tư | Nỗi tương tư của Tú Uyên sau lần gặp Giáng Kiều. | Truyện thơ Nôm: thể lục bát, miêu tả nội tâm, cảnh vật nhuốm tâm trạng. |
| Hôm qua tát nước đầu đình (tự đánh giá) | Lời tỏ tình hóm hỉnh, kín đáo của chàng trai. | Mượn cớ đánh rơi chiếc áo để ngỏ lời; lối nói vòng, lục bát biến thể. |
Câu 3 (trang 126): Nội dung, ý nghĩa của Bài 2 và hiểu biết về con người Nguyễn Du
Nêu các nội dung chính và chỉ ra ý nghĩa của Bài 2 trong sách Ngữ văn 11, tập một. Các văn bản đọc hiểu trong bài này giúp em hiểu được những gì về con người nhà thơ Nguyễn Du?
Trả lời:
Nội dung chính: bài học về một tác gia lớn. Văn bản khái quát cung cấp tiểu sử, thời đại, sự nghiệp; các văn bản thơ văn gồm thơ chữ Hán (Đọc Tiểu Thanh kí) và ba đoạn trích Truyện Kiều (Trao duyên, Anh hùng tiếng đã gọi rằng, Thề nguyền). Phần tiếng Việt học biện pháp tu từ đối, phần viết và nói chuyển sang tác phẩm nghệ thuật.
Ý nghĩa: biết đọc tác phẩm trong quan hệ với cuộc đời, thời đại tác giả; thấy đỉnh cao của thơ Nôm và thơ chữ Hán Việt Nam.
Hiểu biết về Nguyễn Du:
- Một con người từng trải, sống qua những biến động dữ dội cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, nhiều năm long đong, nên thấu hiểu nỗi đau của con người.
- Một trái tim nhân đạo lớn, đặc biệt thương xót người phụ nữ tài sắc mà bạc mệnh: Kiều đau đớn trao duyên, nàng Tiểu Thanh bị đốt thơ.
- Một nghệ sĩ luôn trăn trở về số phận người tài: câu hỏi ba trăm năm sau ai khóc Tố Như là nỗi cô đơn của chính nhà thơ.
Câu 4 (trang 126): Nội dung chính và nhân vật tiêu biểu của các văn bản Bài 3
Tóm tắt nội dung chính và thống kê các nhân vật tiêu biểu của các văn bản trong Bài 3, sách Ngữ văn 11, tập một.
Trả lời:
| Văn bản | Nội dung chính | Nhân vật tiêu biểu |
|---|---|---|
| Chí Phèo (Nam Cao) | Anh canh điền lương thiện bị nhà tù và Bá Kiến biến thành “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại; gặp Thị Nở, Chí khao khát trở lại làm người lương thiện, bị cự tuyệt, Chí giết Bá Kiến rồi tự sát. | Chí Phèo, Thị Nở, Bá Kiến, bà cô Thị Nở |
| Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) | Viên quản ngục yêu chữ đẹp biệt đãi người tử tù Huấn Cao; đêm trước khi Huấn Cao bị giải vào kinh, cảnh cho chữ diễn ra trong ngục tối, cái đẹp và thiên lương toả sáng. | Huấn Cao, viên quản ngục, thầy thơ lại |
| Tấm lòng người mẹ (trích Những người khốn khổ, Huy-gô) | Người mẹ nghèo Phăng-tin chịu mọi khổ nhục, hi sinh cả thân thể mình để có tiền nuôi đứa con gửi ở xa. | Phăng-tin; vợ chồng chủ quán nơi gửi con |
| Kép Tư Bền (Nguyễn Công Hoan, tự đánh giá) | Người kép hát nổi tiếng vì vai hề phải lên sân khấu làm trò cười đúng đêm cha đang hấp hối ở nhà; tiếng cười của khán giả đối lập với nỗi đau của anh. | Kép Tư Bền, ông chủ rạp, khán giả |
Câu 5 (trang 126): Đặc điểm của văn bản thông tin, yêu cầu và ý nghĩa của việc đọc hiểu
Nêu và nhận xét đặc điểm của các văn bản thông tin được học trong sách Ngữ văn 11, tập một. Phân tích yêu cầu và ý nghĩa của việc đọc hiểu các văn bản thông tin ấy.
Trả lời:
Đặc điểm: bốn văn bản đều là thông tin tổng hợp, đề tài gần với đời sống công dân và tiếng Việt: pháp luật (Phải coi luật pháp như khí trời để thở), chân dung một nhà khoa học – nhà giáo (Tạ Quang Bửu – người thầy thông thái), cách dùng tiếng Việt của người trẻ (Tiếng Việt lớp trẻ bây giờ), từ ngữ sông nước Nam Bộ (Sông nước trong tiếng miền Nam). Thuyết minh là chính, xen kể, tả, bàn luận; có số liệu, ví dụ, trích dẫn.
Yêu cầu khi đọc: nắm thông tin chính và chi tiết; nhận ra cách triển khai (theo thời gian, theo quan hệ nguyên nhân – kết quả, theo mức độ quan trọng…); chỉ ra sự kết hợp phương thức biểu đạt; phân biệt thông tin khách quan với quan điểm người viết; đánh giá độ tin cậy.
Ý nghĩa: rèn kĩ năng đọc tài liệu, loại văn bản gặp nhiều nhất trong học tập và đời sống; bồi dưỡng ý thức công dân và tình yêu tiếng Việt.
Viết
Câu 6 (trang 126): Các kiểu văn bản viết và yêu cầu chính
Nêu tên các kiểu văn bản được rèn luyện viết trong sách Ngữ văn 11, tập một; chỉ ra các yêu cầu chính khi viết các kiểu văn bản này.
Trả lời:
| Bài | Kiểu văn bản | Yêu cầu chính |
|---|---|---|
| 1 | Nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo lí | Giải thích; bàn luận bằng lí lẽ, dẫn chứng; phê phán biểu hiện trái ngược; rút ra bài học. |
| 2 | Nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật (bộ phim, vở kịch, bài hát, bức tranh…) | Giới thiệu tác phẩm; phân tích nội dung và hình thức đặc thù (diễn xuất, âm nhạc, hình ảnh…); nêu thành công, hạn chế. |
| 3 | Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học | Nêu tác phẩm và vấn đề; phân tích vấn đề trong tác phẩm; mở rộng ra đời sống hiện nay; bày tỏ quan điểm, đề xuất. |
| 4 | Thuyết minh tổng hợp | Thông tin chính xác về đối tượng; kết hợp thuyết minh với kể, tả, bộc lộ cảm xúc, bàn luận; bố cục mạch lạc; có thể dùng phương tiện phi ngôn ngữ. |
Câu 7 (trang 127): Thống kê và phân tích ý nghĩa các kĩ năng viết đã rèn luyện
Thống kê và phân tích ý nghĩa của các kĩ năng viết được rèn luyện trong các bài học ở sách Ngữ văn 11, tập một.
Trả lời:
| Bài | Kĩ năng viết được rèn | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| 1 | Viết mở bài, kết bài và câu chuyển đoạn trong văn bản nghị luận | Có nhiều cách mở (nêu phản đề, nêu câu hỏi, so sánh) và kết (tóm lược, phát triển, phối hợp); câu chuyển đoạn giữ cho bài liền mạch. Bài văn vì thế gây chú ý từ đầu và để lại dư âm ở cuối. |
| 2 | Câu văn suy luận lô gích và câu văn có hình ảnh trong văn nghị luận | Câu lô gích tạo sức thuyết phục, câu có hình ảnh tạo sức hấp dẫn; biết phối hợp hai loại câu giúp bài nghị luận vừa chặt vừa sinh động. |
| 3 | Xác định người viết và người đọc giả định, cách xưng hô trong bài viết | Biết mình viết với tư cách ai, cho ai đọc thì chọn được giọng điệu, từ xưng hô, cách gọi tác giả, nhân vật cho phù hợp, tránh đơn điệu hoặc thiếu chuẩn mực. |
| 4 | Viết đoạn văn diễn dịch, quy nạp và đoạn văn phối hợp | Chủ động sắp xếp ý trong đoạn: nêu ý khái quát trước, sau hoặc cả hai; giúp người đọc nắm ý chính nhanh, bài văn có nhịp điệu. |
Câu 8 (trang 127): Khác biệt giữa nghị luận về tư tưởng, đạo lí và nghị luận về vấn đề xã hội trong tác phẩm
Nêu một số điểm khác biệt giữa yêu cầu viết bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí và nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm (Gợi ý: mục đích, nội dung, hình thức, lời văn,…).
Trả lời:
| Phương diện | Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí | Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học |
|---|---|---|
| Mục đích | Làm rõ và thuyết phục người đọc về một quan niệm sống, một chuẩn mực đạo đức. | Từ tác phẩm, làm sáng tỏ một vấn đề xã hội và ý nghĩa của nó với đời sống hôm nay. |
| Điểm xuất phát | Một câu nói, một tư tưởng (lòng biết ơn, sự khiêm tốn…). | Một tác phẩm cụ thể (ví dụ từ Chí Phèo bàn về cách đối xử với người lầm lỡ). |
| Nội dung | Giải thích, bàn luận, phản biện, rút ra bài học; dẫn chứng chủ yếu từ đời sống. | Phân tích vấn đề trong tác phẩm (nhân vật, chi tiết) rồi mới mở rộng ra thực tế; dẫn chứng cả văn học lẫn đời sống. |
| Hình thức, lời văn | Lời văn thiên về lí lẽ, khái quát. | Có xen thao tác phân tích văn học, trích dẫn tác phẩm; lời văn vừa phân tích vừa bình luận. |
Nói và nghe
Câu 9 (trang 127): Nội dung nói và nghe và mối liên hệ với đọc hiểu, viết
Nêu các nội dung chính được rèn luyện về kĩ năng nói và nghe ở sách Ngữ văn 11, tập một. Chứng minh nhiều nội dung nói và nghe liên quan chặt chẽ với nội dung đọc hiểu và viết.
Trả lời:
| Bài | Nói và nghe | Liên hệ với đọc hiểu, viết |
|---|---|---|
| 1 | Trình bày ý kiến đánh giá, bình luận về một tư tưởng, đạo lí | Cùng kiểu bài với phần Viết; các văn bản về tình yêu chung thuỷ, vị tha gợi đề tài. |
| 2 | Giới thiệu một tác phẩm nghệ thuật | Nối tiếp phần Viết; các tác phẩm chuyển thể từ Truyện Kiều (phim, cải lương, tranh) là gợi ý cho bài nói. |
| 3 | Thảo luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học | Vấn đề lấy từ chính các truyện đã đọc (quyền sống lương thiện trong Chí Phèo), trùng kiểu bài viết. |
| 4 | Nghe bài thuyết minh tổng hợp | Cùng kiểu với phần Viết; nắm thông tin chính khi nghe giống khi đọc văn bản thông tin. |
Tiếng Việt
Câu 10 (trang 127): Thống kê nội dung thực hành tiếng Việt và mối quan hệ với đọc hiểu, viết
Thống kê tên các nội dung thực hành tiếng Việt trong sách Ngữ văn 11, tập một. Từ đó, nhận xét về mối quan hệ giữa nội dung tiếng Việt với nội dung đọc hiểu và viết.
Trả lời:
| Bài | Thực hành tiếng Việt | Gắn với đọc hiểu, viết |
|---|---|---|
| 1 | Biện pháp lặp cấu trúc | Phép lặp dày đặc trong Sóng, Lời tiễn dặn; dùng được khi viết nghị luận. |
| 2 | Biện pháp tu từ đối | Thơ chữ Hán và Truyện Kiều dùng đối rất nhiều; nhận ra phép đối giúp đọc thơ trung đại sâu hơn. |
| 3 | Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết | Lời nhân vật Chí Phèo, Thị Nở mang đặc điểm ngôn ngữ nói; phần Viết đòi hỏi ngôn ngữ viết chuẩn mực và cách xưng hô phù hợp. |
| 4 | Lỗi về thành phần câu và cách sửa | Bài thuyết minh tổng hợp nhiều câu dài, dễ thiếu chủ ngữ, vị ngữ. |
Nhận xét: tiếng Việt được chọn từ chính ngữ liệu đọc của bài rồi quay lại phục vụ việc viết: biết phép lặp, phép đối thì đọc thơ tinh hơn; biết lỗi câu, phân biệt nói – viết thì bài viết chuẩn hơn.
Định hướng đánh giá theo sách: bài làm 90 phút; đọc hiểu văn bản mới cùng loại đã học, câu hỏi gồm trắc nghiệm và tự luận ngắn; viết đoạn hoặc bài văn ngắn, chủ yếu nghị luận.
Tự đánh giá cuối học kì I (trang 128–131)
Ngữ liệu là đoạn trích Hai đứa trẻ của Thạch Lam, in trong Tuyển tập Thạch Lam (NXB Văn học, 1988): cảnh phố huyện lúc đêm xuống và hai chị em Liên, An cố thức đợi chuyến tàu. Đề yêu cầu chọn phương án đúng cho câu 1–6 và trả lời ngắn câu 7–10.
I. Đọc hiểu
Câu 1 (trang 130): Bối cảnh không gian và thời gian của câu chuyện
Dòng nào sau đây nêu đúng bối cảnh (không gian và thời gian) của câu chuyện trên? A. Phố huyện nghèo, từ chiều tối đến đêm khuya; B. Vòm trời đầy sao sáng, cuối buổi chiều mùa hạ; C. Cửa hàng của Liên vào lúc đêm khuya đợi tàu; D. Sân ga nơi bác Siêu, chị Tí bán hàng lúc nửa đêm.
Trả lời: Chọn A.
Lí do: câu chuyện diễn ra ở cả phố huyện (đường phố, ngõ, hàng chị Tí, gánh phở) chứ không chỉ cửa hàng của Liên (loại C) hay sân ga (loại D); thời gian bắt đầu từ lúc trời bắt đầu đêm cho đến khi An đã ngủ, Liên chờ tàu khuya. B chỉ nêu một hình ảnh, lại sai thời điểm.
Câu 2 (trang 130): Thể loại của đoạn trích
Cụm từ nào phù hợp với tên thể loại của đoạn trích? A. Truyện ngắn trào phúng; B. Truyện ngắn hiện thực; C. Truyện ngắn châm biếm; D. Truyện ngắn trữ tình.
Trả lời: Chọn D.
Lí do: truyện gần như không có cốt truyện, chủ yếu ghi lại cảm giác, tâm trạng mơ hồ của Liên; lời văn nhẹ nhàng, giàu hình ảnh và nhạc điệu. Không có yếu tố gây cười hay đả kích nên loại A, C; tuy có cảnh đời nghèo nhưng cảm xúc mới là trọng tâm nên D đúng hơn B.
Câu 3 (trang 130): Biện pháp đối lập được sử dụng trong đoạn trích
Phương án nào nêu chính xác biện pháp đối lập được sử dụng trong đoạn trích trên? A. Mặt đất và bầu trời, ngày và đêm, con người và cảnh vật; B. Mặt đất và bầu trời, ánh sáng và bóng tối, hiện tại và quá khứ; C. Mặt đất và bầu trời, hiện tại và quá khứ, mơ ước và thực tế; D. Mặt đất và bầu trời, người lớn và trẻ con, trạng thái thức và ngủ.
Trả lời: Chọn B.
Lí do: đoạn trích đặt vòm trời sao bao la cạnh quầng sáng nhỏ trên mặt đất; ngọn đèn chị Tí, bếp lửa bác Siêu giữa bóng tối mênh mông; Hà Nội ngày trước sáng rực trong kí ức của Liên với phố huyện tối tăm hiện tại. Đoạn trích không có cảnh ban ngày (loại A), không trực tiếp đối lập mơ ước – thực tế hay người lớn – trẻ con thành một cặp xuyên suốt (loại C, D).
Câu 4 (trang 130): Câu văn là lời nhân vật
Câu văn nào dưới đây là lời nhân vật trong đoạn trích trên? A. Bác Siêu đã tới gần, đặt gánh phở xuống đường; B. Đêm tối đối với Liên quen lắm, chị không sợ nó nữa; C. Kìa, hàng phở của bác Siêu đến kia rồi; D. Mẹ vẫn dặn phải thức đến khi tàu xuống…
Trả lời: Chọn C.
Lí do: đây là câu An nói với chị, đứng sau dấu gạch đầu dòng và có lời dẫn “An trỏ tay bảo chị”. A và D là lời người kể chuyện; B là lời người kể nhập vào cảm nhận của Liên (lời nửa trực tiếp) chứ không phải lời nhân vật nói ra.
Câu 5 (trang 130): Nội dung chính của đoạn trích
Phương án nào sau đây nêu đúng nội dung chính của đoạn trích trên? A. Kể lại cảnh phố huyện về đêm và hai chị em cố thức đợi đoàn tàu; B. Nhớ lại cảnh phố huyện về đêm với cuộc sống buồn bã tại một sân ga; C. Giới thiệu cảnh ban đêm tại một sân ga của một phố huyện nghèo; D. Nêu lên những cảm nhận về bầu trời và mặt đất vào một đêm mùa hạ.
Trả lời: Chọn A.
Lí do: A bao quát cả hai mạch: cảnh và người phố huyện về đêm, hành động chờ tàu của hai chị em. B sai vì câu chuyện không phải hồi tưởng; C chỉ là cảnh, bỏ mất nhân vật; D chỉ là một chi tiết nhỏ.
Câu 6 (trang 130): Có thể thay nhan đề Hai đứa trẻ bằng Hai chị em không
Có thể thay nhan đề Hai đứa trẻ bằng Hai chị em được không? Vì sao?
Trả lời:
Không nên thay. Hai chị em chỉ nói quan hệ ruột thịt giữa Liên và An. Hai đứa trẻ nhấn vào tuổi thơ: cảnh phố huyện được nhìn qua đôi mắt non nớt, những khát khao mơ hồ chỉ trẻ con mới có. Nhan đề còn có sức khái quát: đó có thể là bất kì đứa trẻ nghèo nào ở những phố huyện tối tăm thời ấy.
Câu 7 (trang 130): Tư tưởng, thái độ của người viết qua một câu văn
Câu văn “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ.” nói lên tư tưởng và thái độ gì của người viết? (Trả lời ngắn trong khoảng 3 – 5 dòng).
Trả lời:
Câu văn gom tất cả những phận người nhỏ bé (chị Tí, bác Siêu, gia đình bác xẩm, chị em Liên) vào chung một hình ảnh: sống trong bóng tối. Thạch Lam xót thương họ vì cuộc sống nghèo, quẩn quanh, đồng thời trân trọng niềm mong đợi mơ hồ mà bền bỉ của họ về một điều tươi sáng hơn.
Câu 8 (trang 131): Tác dụng của biện pháp đối lập qua một ví dụ
Đối lập là một trong các biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong văn học lãng mạn. Hãy phân tích tác dụng của biện pháp này thông qua một ví dụ cụ thể trong văn bản trên.
Trả lời:
Ví dụ: sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối. Phố huyện chìm trong bóng tối dày đặc, đường ra sông, đường qua chợ, ngõ vào làng đều tối; ánh sáng chỉ còn là ngọn đèn con của chị Tí, bếp lửa bác Siêu, những hột sáng lọt qua phên nứa. Ánh sáng càng nhỏ, bóng tối càng mênh mông. Phép đối lập làm nổi bật kiếp sống leo lét của người dân phố huyện và biến ánh sáng thành biểu tượng của hi vọng, chuẩn bị cho hình ảnh chuyến tàu sáng rực mà hai chị em mong chờ.
Câu 9 (trang 131): Chất thơ trong văn xuôi của đoạn trích
Đoạn trích trên thể hiện rất rõ chất thơ trong văn xuôi. Hãy làm sáng tỏ điều đó.
Trả lời:
- Cảnh giàu hình ảnh, có hồn: đêm mùa hạ được ví “êm như nhung”, trời sao ganh nhau lấp lánh, đom đóm bay là là, hoa bàng rụng khe khẽ trên vai Liên.
- Tâm trạng nhân vật tinh tế: Liên tìm sông Ngân Hà, cảm thấy vũ trụ bí mật, xa lạ; cuối đoạn tâm hồn chị yên tĩnh với những cảm giác mơ hồ không hiểu.
- Nhịp văn chậm, có nhạc điệu: câu dài ngắn đan xen, nhiều vế cân đối (con đường ra sông, con đường qua chợ, các ngõ vào làng), từ láy gợi cảm (lấp lánh, lơ lửng, khe khẽ, thăm thẳm).
Câu 10 (trang 131): Ý nghĩa chi tiết hai chị em cố thức đợi chuyến tàu
Hai chị em Liên cố thức chỉ “vì muốn được nhìn chuyến tàu, đó là sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya”. Nêu ý nghĩa của chi tiết này.
Trả lời:
Bán hàng chỉ là cái cớ, vì Liên biết sẽ chẳng còn ai mua. Hai chị em thức để được nhìn đoàn tàu, thứ duy nhất mang ánh sáng, âm thanh và hơi hướng của Hà Nội xa xôi đến với phố huyện. Chi tiết cho thấy khát khao thoát khỏi cuộc sống tẻ nhạt, mong được thấy một thế giới khác sáng sủa hơn. Qua đó Thạch Lam vừa thương những tâm hồn trẻ bị giam trong bóng tối, vừa trân trọng niềm hi vọng nhỏ bé nhưng bền bỉ của họ.
II. Viết
Viết (trang 131): Chọn một trong hai đề để viết thành bài văn ngắn
Đề 1. Bàn luận về một vấn đề xã hội có ý nghĩa được đặt ra trong các tác phẩm văn xuôi hoặc truyện thơ Nôm đã học trong sách Ngữ văn 11, tập một.
Đề 2. Giới thiệu một phẩm chất hoặc nêu lên một thói quen xấu cần khắc phục của lớp trẻ hiện nay.
Bài tham khảo cho Đề 1 (vấn đề đặt ra từ Chí Phèo: cách nhìn người từng lầm lỡ)
Có một câu hỏi Chí Phèo hỏi mà không ai trả lời: ai cho tao lương thiện? Hơn tám mươi năm sau khi Nam Cao viết truyện, câu hỏi ấy vẫn đặt ra cho chúng ta một vấn đề rất thật: xã hội đối xử thế nào với những người từng lầm lỡ khi họ muốn quay về.
Chí Phèo vốn là anh canh điền hiền lành. Nhà tù và Bá Kiến đã biến anh thành kẻ rạch mặt ăn vạ, đâm chém thuê. Sau bát cháo hành của Thị Nở, Chí tỉnh ra, nghe thấy tiếng chim, tiếng người đi chợ và thèm được làm hoà với mọi người. Cánh cửa trở về khi ấy chỉ cần một người mở. Nhưng bà cô Thị Nở đã đóng nó lại bằng định kiến: một thằng chỉ biết rạch mặt ăn vạ thì không thể thành người. Bi kịch của Chí không chỉ do Bá Kiến mà còn do cái nhìn đóng khung của cả làng Vũ Đại.
Ngày nay có không ít người mang dáng dấp ấy: người mãn hạn tù, thanh niên từng nghiện ngập, học sinh từng bị kỉ luật. Họ thường gặp chung một bức tường: hàng xóm dè chừng, nơi làm việc từ chối, bạn bè xa lánh. Định kiến ấy có lí do, vì không phải ai cũng thay đổi thật. Song nếu không ai cho cơ hội, thì người muốn thay đổi cũng không có chỗ để bắt đầu. Có những người khi được tin đã sống tốt hơn cả mong đợi.
Cho cơ hội không có nghĩa là bỏ qua lỗi lầm hay tin mù quáng. Trước hết cần một thái độ: nhìn con người ở hiện tại và tương lai, chứ không chỉ ở quá khứ của họ. Với học sinh, điều đó bắt đầu từ những việc nhỏ, như không gọi bạn bằng biệt danh gắn với lỗi lầm cũ, hay rủ một bạn từng bị cô lập vào nhóm học tập.
Nam Cao để Chí Phèo chết ở cuối truyện, nhưng ông cũng để lại hình ảnh cái lò gạch bỏ hoang hiện lên trong đầu Thị Nở, như một lời cảnh báo rằng bi kịch có thể lặp lại. Việc của chúng ta là đừng để bất kì ai phải hỏi lại câu hỏi của Chí.
Gợi ý Đề 2 (chọn một trong hai hướng):
- Giới thiệu một phẩm chất (ví dụ: tinh thần tự học): giải thích; biểu hiện ở người trẻ; ý nghĩa; điều cần lưu ý; cách bồi dưỡng.
- Nêu một thói quen xấu (ví dụ: trì hoãn): biểu hiện; nguyên nhân (thiếu mục tiêu, điện thoại, sợ thất bại); tác hại; phản bác ý kiến cho rằng cứ để gấp mới làm tốt; giải pháp (chia nhỏ việc, đặt hạn chót).
Đề kiểm tra cuối học kì I tham khảo (tự soạn, có đáp án)
Thời gian làm bài 90 phút, theo định hướng đánh giá của sách. Ngữ liệu là văn bản nghị luận xã hội tự viết, để em luyện kiểu văn bản chưa có trong phần tự đánh giá.
I. Đọc hiểu (4 điểm)
Đọc văn bản sau:
Dám nói mình chưa biết
Trong một buổi học, thầy giáo hỏi một câu khá lạ. Cả lớp im lặng, rồi vài bạn đưa ra những đáp án nghe có vẻ hợp lí nhưng sai. Chỉ một bạn đứng lên nói: “Em chưa biết, nhưng em muốn biết vì sao.” Thầy mỉm cười, bảo đó là câu trả lời hay nhất của buổi sáng.
Nói “tôi chưa biết” không hề dễ. Chúng ta lớn lên với nỗi sợ bị đánh giá: sợ bị coi là kém, sợ bạn bè cười, sợ mất hình ảnh trước người khác. Vì thế nhiều người chọn cách đoán bừa, gật đầu cho qua hoặc im lặng. Trên mạng xã hội, hiện tượng ấy còn rõ hơn: ai cũng có thể bình luận về mọi chuyện, từ y học đến kinh tế, dù chưa từng đọc một trang tài liệu nào.
Thế nhưng thừa nhận giới hạn của mình lại là điểm khởi đầu của mọi hiểu biết. Người biết mình chưa biết sẽ hỏi, sẽ tìm, sẽ lắng nghe. Người tưởng mình đã biết thì đóng cửa với cái mới. Các nhà khoa học lớn thường là những người đặt câu hỏi nhiều nhất, chứ không phải những người tự tin nhất. Trong công việc, một nhân viên dám nói “tôi chưa nắm rõ phần này” sẽ tránh được những sai sót mà lời nói dối nhỏ có thể gây ra.
Có người cho rằng thừa nhận không biết là tự hạ thấp mình. Điều đó chỉ đúng khi ta dừng lại ở câu nói ấy. Nói “tôi chưa biết” rồi không làm gì thì đó là sự lười biếng. Nói “tôi chưa biết” rồi bắt tay tìm hiểu thì đó là sự trung thực và cầu thị.
Hiểu biết của mỗi người giống như một vòng tròn: vòng tròn càng lớn, đường biên tiếp xúc với những điều chưa biết càng dài. Vì vậy, người càng học nhiều càng hay nói câu ấy. Đó không phải sự yếu đuối mà là dấu hiệu của một trí óc đang lớn lên.
(Văn VN)
Câu 1. Xác định luận đề của văn bản.
Câu 2. Câu chuyện trong lớp học ở đoạn đầu có tác dụng gì đối với lập luận?
Câu 3. Chỉ ra phép lặp cấu trúc trong câu Người biết mình chưa biết sẽ hỏi, sẽ tìm, sẽ lắng nghe. và nêu tác dụng.
Câu 4. Ở đoạn thứ tư, tác giả đã phản bác ý kiến nào và phản bác bằng cách nào?
Câu 5. Câu sau mắc lỗi gì về thành phần câu? Hãy sửa lại: Với những người luôn sợ bị đánh giá kém trước bạn bè và thầy cô.
Câu 6. Em có đồng tình với hình ảnh so sánh hiểu biết như một vòng tròn ở đoạn cuối không? Vì sao? (5–7 dòng)
II. Viết (6 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao trong cảnh cho chữ (Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân).
Đáp án và hướng dẫn chấm
| Câu | Đáp án / gợi ý | Điểm |
|---|---|---|
| 1 | Luận đề: dám thừa nhận mình chưa biết là biểu hiện của sự trung thực, cầu thị và là khởi đầu của hiểu biết. | 0,5 |
| 2 | Mở bài bằng một câu chuyện cụ thể, gần gũi với học sinh; dẫn vào vấn đề tự nhiên, gây chú ý; đồng thời là bằng chứng cho thấy câu trả lời “chưa biết” được đánh giá cao. | 0,5 |
| 3 | Lặp cấu trúc “sẽ + động từ” ba lần. Nhấn mạnh chuỗi hành động tích cực nối tiếp nhau của người biết mình chưa biết; tạo nhịp nhanh, dứt khoát; làm nổi bật sự đối lập với người tưởng mình đã biết ở câu sau. | 0,75 |
| 4 | Ý kiến bị phản bác: thừa nhận không biết là tự hạ thấp mình. Cách phản bác: thừa nhận ý kiến đúng một phần (khi chỉ dừng ở lời nói), rồi chỉ ra điều kiện làm nên giá trị: nói xong phải hành động tìm hiểu; dùng hai câu đối nhau (lười biếng – trung thực, cầu thị). | 0,75 |
| 5 | Câu thiếu nòng cốt (chỉ có trạng ngữ “Với những người…”). Sửa: thêm nòng cốt (Với những người luôn sợ bị đánh giá kém trước bạn bè và thầy cô, nói “tôi chưa biết” là một thử thách.) hoặc bỏ “Với” và thêm vị ngữ. | 0,75 |
| 6 | Nêu rõ đồng tình hay không, lí giải hợp lí: hình ảnh cho thấy càng hiểu nhiều càng nhận ra nhiều điều chưa biết, nên người học thật sự thường khiêm tốn; có thể liên hệ bản thân. | 0,75 |
| Viết | Đúng kiểu bài nghị luận văn học, bố cục ba phần (0,5). Giới thiệu tác giả, tác phẩm, cảnh cho chữ (0,5). Phân tích vẻ đẹp tài hoa, khí phách ung dung khi cổ đeo gông, thiên lương trong sáng (lời khuyên quản ngục); nghệ thuật tương phản, bút pháp lãng mạn (3,0). Đánh giá: quan niệm cái đẹp gắn với cái thiện của Nguyễn Tuân (1,0). Diễn đạt, chính tả (0,5); sáng tạo (0,5). | 6,0 |
Hệ thống văn bản đã học ở học kì I Ngữ văn 11 Cánh diều
| Bài | Văn bản đọc chính | Văn bản thực hành / tự đánh giá | Kiến thức Tiếng Việt | Kiểu bài Viết |
|---|---|---|---|---|
| 1. Thơ và truyện thơ | Sóng (Xuân Quỳnh); Lời tiễn dặn (trích Tiễn dặn người yêu, truyện thơ dân tộc Thái) | Thực hành: Tôi yêu em (Pu-skin), Nỗi niềm tương tư (trích Bích Câu kì ngộ, Vũ Quốc Trân). Tự đánh giá: Hôm qua tát nước đầu đình (ca dao) | Biện pháp lặp cấu trúc | Nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo lí |
| 2. Thơ văn Nguyễn Du | Nguyễn Du – Cuộc đời và sự nghiệp; Trao duyên (trích Truyện Kiều); Đọc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du) | Thực hành: Anh hùng tiếng đã gọi rằng (trích Truyện Kiều). Tự đánh giá: Thề nguyền (trích Truyện Kiều) | Biện pháp tu từ đối | Nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật |
| 3. Truyện | Chí Phèo (Nam Cao); Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) | Thực hành: Tấm lòng người mẹ (trích Những người khốn khổ, Huy-gô). Tự đánh giá: Kép Tư Bền (Nguyễn Công Hoan) | Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết | Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học |
| 4. Văn bản thông tin | Phải coi luật pháp như khí trời để thở (Lê Quang Dũng); Tạ Quang Bửu – người thầy thông thái (Hàm Châu) | Thực hành: Tiếng Việt lớp trẻ bây giờ (Phạm Văn Tình). Tự đánh giá: Sông nước trong tiếng miền Nam (Trần Thị Ngọc Lang) | Lỗi về thành phần câu và cách sửa | Thuyết minh tổng hợp |
Mẹo ôn tập cuối học kì I Ngữ văn 11 Cánh diều
- Bài tự đánh giá Hai đứa trẻ cho thấy dạng đề quen thuộc: sáu câu trắc nghiệm hỏi bối cảnh, thể loại, biện pháp, lời nhân vật, nội dung chính, rồi bốn câu tự luận ngắn về nhan đề, chi tiết, nghệ thuật. Khi làm trắc nghiệm, loại dần phương án chỉ đúng một phần.
- Bốn nội dung tiếng Việt đều có thể vào đề (phép lặp, phép đối, ngôn ngữ nói – viết, lỗi câu); mỗi dạng tự làm vài ví dụ từ ngữ liệu trong sách.
Xem thêm: