Soạn bài Trao duyên (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du) theo SGK Ngữ văn 11 Cánh diều, tập một, Bài 2 (Thơ văn Nguyễn Du), trang 44–47. Bài soạn gồm phần Chuẩn bị, bốn câu hỏi gợi ý bên lề và bảy câu hỏi Đọc hiểu cuối văn bản; đoạn trích trong sách Cánh diều gồm 34 câu thơ, từ câu “Cậy em em có chịu lời” đến câu “Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”.
Nếu bạn học bộ Kết nối tri thức hoặc Chân trời sáng tạo, hãy xem Soạn bài Trao duyên – Ngữ văn 11 Kết nối tri thức & Chân trời sáng tạo.
Chuẩn bị – soạn bài Trao duyên Cánh diều (trang 44)
Sách yêu cầu xem lại Kiến thức ngữ văn và bài Nguyễn Du – Cuộc đời và sự nghiệp; khi đọc các đoạn trích Truyện Kiều cần so sánh truyện thơ Nôm với truyện thơ dân gian, nắm hoàn cảnh diễn ra sự việc, nội dung chính, nét đặc sắc nghệ thuật và điều đoạn trích cho thấy về tác phẩm, tác giả.

Bối cảnh đoạn trích
Một tên buôn tơ vu cáo khiến cả nhà Kiều gặp nạn: Vương ông và Vương Quan bị bắt giam, đánh đập. Muốn cứu cha và em, Kiều chấp nhận bán mình, gác lại lời thề với chàng Kim. Trong đêm trước hôm ra đi, Kiều không ngủ rồi đánh thức Thúy Vân, trao lại cho em mối duyên của mình. Đoạn trích thuộc phần thứ hai của tác phẩm (gia biến, lưu lạc), là các câu thơ 723 – 756.
Đọc diễn cảm đoạn trích
Phần đầu là lời đối thoại với Thúy Vân, giọng tha thiết, khẩn khoản; từ đoạn trao kỉ vật trở đi, lời thoại chuyển dần sang độc thoại, giọng nghẹn ngào, đứt quãng; mấy câu cuối là tiếng gọi, tiếng khóc thảng thốt hướng về Kim Trọng.
Câu hỏi bên lề khi đọc đoạn trích Trao duyên (trang 45–47)
Bốn ô gợi ý đặt cạnh văn bản trong sách Cánh diều:
Câu 1 (trang 45): Chú ý lời nói, hành động, lí lẽ của Thúy Kiều khi thuyết phục Thúy Vân
Trả lời:
- Lời nói: Kiều dùng chữ “cậy” (nhờ với niềm tin tưởng, trông mong) và “chịu” (ép em nhận lời), cho thấy việc nhờ hệ trọng, không thể chối.
- Hành động: mời em ngồi lên để chị lạy rồi mới thưa – đảo ngược ngôi thứ, biến lời nhờ thành lời cầu xin trang trọng.
- Lí lẽ: kể lại mối tình với Kim Trọng đã có quạt ước, chén thề; tai họa ập đến khiến chữ hiếu, chữ tình không thể vẹn cả hai; em còn trẻ, hãy vì tình máu mủ mà thay chị trả nghĩa; nếu em nhận lời, chị dù chết cũng mãn nguyện. Cách lập luận đi từ kể chuyện, nêu lí do đến khơi gợi tình cảm, rất khó chối từ.
Câu 2 (trang 46): Thúy Kiều để lại những kỉ vật nào của tình yêu?
Trả lời: Kiều trao cho Vân chiếc vành (vòng xuyến), bức tờ mây (tờ giấy ghi lời thề nguyền), phím đàn và mảnh hương nguyền – những vật gắn với những đêm thề nguyền, những lần gảy đàn cho Kim Trọng nghe.
Câu 3 (trang 46): Thúy Kiều nghĩ về điều gì nếu chẳng may nàng “thác oan”?
Trả lời: Kiều nghĩ mình sẽ chết oan, hồn vẫn mang nặng lời thề, ngọn gió thổi nhẹ trên cây cỏ chính là lúc nàng trở về; nàng dặn em khi ấy hãy vẩy chén nước cúng hồn kẻ bạc mệnh. Ý nghĩ về cái chết cho thấy Kiều linh cảm số phận bi thảm và tình yêu với Kim Trọng vẫn đeo đẳng nàng cả sau khi chết.
Câu 4 (trang 47): Thúy Kiều nói với ai? Về điều gì? Tâm trạng của Kiều như thế nào?
Trả lời: Ở tám câu cuối, người nghe không còn là Thúy Vân; Kiều đang tự than với lòng mình và hướng lời về chàng Kim vắng mặt. Nàng nói về mối tình tan vỡ (“trâm gãy gương tan”), về phận bạc của mình và gửi lời lạy tạ người yêu. Tâm trạng đau đớn tột cùng, xót xa, tuyệt vọng; nàng tự trách mình phụ chàng dù không có lỗi.
Đọc hiểu – trả lời câu hỏi sau đoạn trích Trao duyên (trang 47)
Bảy câu hỏi Đọc hiểu cuối văn bản trong sách Ngữ văn 11 Cánh diều tập một:
Câu 1 (trang 47): Đoạn trích có thể chia làm mấy phần? Nội dung chính mỗi phần
Trả lời:
| Phần | Câu thơ | Nội dung chính |
| Phần 1 | 12 câu đầu | Kiều cậy em gái nối tiếp mối tình với chàng Kim. |
| Phần 2 | 14 câu tiếp | Kiều trao kỉ vật, dặn dò em và tưởng tượng về cái chết oan của mình. |
| Phần 3 | 8 câu cuối | Kiều quên sự có mặt của em, tự than khóc, gọi tên người yêu. |
Câu 2 (trang 47): Lời nói, hành động, lí lẽ Kiều dùng để thuyết phục Thúy Vân
Thúy Kiều đã có lời nói, hành động và lí lẽ như thế nào để thuyết phục Thúy Vân thay mình trả nghĩa, kết duyên với Kim Trọng?
Trả lời:
- Lời nói: chữ “cậy” thay cho “nhờ” chứa sự tin cậy, gửi gắm; chữ “chịu” mang sắc thái nài ép, buộc em phải nhận. Cách xưng hô chị em, lời lẽ khiêm nhường.
- Hành động: chị quỳ lạy em – bởi điều sắp xin quá lớn, Kiều tôn em lên hàng người làm ơn cho mình.
- Lí lẽ:
- Kể hoàn cảnh: cuộc tình đang dang dở bỗng tan vỡ, phần còn lại xin gửi em nối tiếp.
- Nói rõ tình sâu nghĩa nặng (quạt ước, chén thề), để Vân hiểu đây không phải chuyện nhỏ.
- Nêu lí do: sóng gió bất ngờ, hiếu và tình không thể vẹn đôi.
- Khơi gợi tình cảm: em còn trẻ, hãy vì tình máu mủ; chị dù có chết cũng thơm lây.
⇒ Qua đó thấy Kiều khôn ngoan, chu đáo, sẵn sàng hi sinh, một lòng giữ nghĩa với người yêu.
Câu 3 (trang 47): Vì sao sau khi nhờ Vân, bi kịch của Kiều lại càng tăng?
Vì sao sau khi cậy nhờ Thúy Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng, bi kịch của Thúy Kiều lại càng tăng?
Trả lời: Trao duyên là việc lí trí buộc Kiều phải làm, nhưng trái tim nàng không chịu buông. Khi Vân đã nhận lời, Kiều mới thấm thía rằng mối tình đẹp nhất đời mình đã thật sự mất; người mình yêu sẽ thành chồng của em gái. Vì vậy, càng trao, nàng càng tiếc: trao kỉ vật thì lại níu (“Duyên này thì giữ vật này của chung”), nghĩ tới tương lai thì chỉ thấy cái chết, cuối cùng bật lên tiếng gọi Kim Lang đầy tuyệt vọng. Bi kịch tăng vì cuộc giằng co giữa lẽ phải và con tim không có lối thoát, càng lúc càng gay gắt.
Câu 4 (trang 47): Ý nghĩa của việc Kiều để lại những kỉ vật tình yêu
Trả lời:
- Kỉ vật là bằng chứng thiêng liêng của mối tình Kim – Kiều; trao kỉ vật là trao cả quá khứ đẹp đẽ cho em, để Vân có cơ sở thay mình giữ trọn lời thề.
- Nhưng Kiều trao mà vẫn muốn níu: “duyên” thì gửi em, còn “vật” là “của chung” – nghĩa là Kiều vẫn muốn mình còn một phần trong mối tình ấy. Chi tiết này cho thấy tình yêu của Kiều sâu nặng, không thể dứt bỏ.
- Kỉ vật còn là cầu nối để Kiều được nhắc đến sau này (“Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên”) – khao khát được nhớ tới của một người biết mình sắp đi vào bất hạnh.
Câu 5 (trang 47): Kiều nói với những ai? Diễn biến tâm trạng qua sự chuyển đổi lời thoại
Đoạn Trao duyên là lời của Thúy Kiều nói với những ai? Phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều qua sự chuyển đổi lời thoại.
Trả lời:
- Đối tượng: Thúy Vân, chính bản thân Kiều và Kim Trọng (vắng mặt).
- Diễn biến tâm trạng:
- Đối thoại với Vân (12 câu đầu): lời lẽ tỉnh táo, mạch lạc, Kiều cố kìm nén nỗi đau để thuyết phục em.
- Đối thoại xen độc thoại (14 câu giữa): đến lúc đưa kỉ vật, sự tỉnh táo bắt đầu rạn vỡ; Kiều nghĩ đến tương lai đen tối, cái chết oan, hồn hiện về trong gió – nói với Vân mà thực ra là đang tự sự với chính mình.
- Độc thoại (8 câu cuối): Kiều quên hẳn Vân, chỉ còn đối diện với nỗi đau; tiếng than “Phận sao phận bạc như vôi?”, tiếng gọi “Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!” cho thấy con tim đã thắng lẽ phải, nỗi đau lên đến cực điểm.

Câu 6 (trang 47): Tác dụng của các biện pháp miêu tả nội tâm nhân vật
Phân tích tác dụng của một số biện pháp nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật trong đoạn trích Trao duyên (biện pháp ẩn dụ, cách dùng thành ngữ, độc thoại nội tâm,…).
Trả lời:
- Ẩn dụ: “đứt gánh tương tư”, “mối tơ thừa”, “keo loan” chỉ mối tình dang dở và việc nối lại tình duyên; “trâm gãy gương tan” chỉ tình yêu tan vỡ. Ẩn dụ giúp nói điều đau đớn một cách tế nhị, hàm súc.
- Thành ngữ: “thịt nát xương mòn”, “ngậm cười chín suối”, “nước chảy hoa trôi”, “phận bạc như vôi” – những cách nói quen thuộc của nhân dân, gợi số phận hẩm hiu, sự hi sinh và nỗi xót xa của Kiều, gần gũi với người đọc.
- Độc thoại nội tâm: lời Kiều tự nói với mình, với Kim Trọng mở thẳng thế giới bên trong nhân vật – nơi lẽ phải và tình yêu giành giật nhau.
- Tiếng gọi, câu than, từ ngữ lặp lại: “Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!”, “Thôi thôi…” diễn tả tiếng kêu nghẹn ngào, đứt quãng.
⇒ Những biện pháp này giúp Nguyễn Du khắc họa sâu sắc tâm trạng phức tạp của Thúy Kiều – một đỉnh cao của Truyện Kiều về cách diễn tả đời sống bên trong con người.
Câu 7 (trang 47): Cảm nghĩ về nhân vật Thúy Kiều qua đoạn trích
Trả lời: Qua đoạn trích, em cảm phục sự thông minh, nhạy bén của Kiều: chỉ trong mấy lời, nàng thuyết phục được em gái nhận một việc khó. Em thương Kiều vì nàng giàu đức hi sinh, đặt chữ hiếu lên trên hạnh phúc riêng, lại lo cho người yêu khỏi phải lẻ loi. Em cũng xót xa trước tình yêu thủy chung, mãnh liệt mà phải tự tay cắt đứt, đến mức nhận hết lỗi về mình, gọi mình là kẻ phụ chàng. Thúy Kiều trong đoạn Trao duyên là hình ảnh người con gái tài sắc mà bạc mệnh, vừa đáng thương vừa đáng trân trọng; qua nhân vật, ta thấy tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du.
Kết luận
Soạn bài Trao duyên theo sách Ngữ văn 11 Cánh diều, em cần nắm bố cục ba phần, cách Kiều thuyết phục Vân, ý nghĩa của việc trao kỉ vật và diễn biến tâm trạng từ đối thoại sang độc thoại, cùng tài diễn tả nội tâm bậc thầy của Nguyễn Du.
Trong giờ kiểm tra, nếu mất nhiều thời gian nghĩ câu mở đầu, em nên luyện trước với các mẫu mở bài Trao duyên.
Các mẫu kết bài Trao duyên gợi ý nhiều cách khép bài, từ tóm lược ngắn đến mở rộng suy nghĩ.
Xem thêm: