Một bài viết về con sông mà dẫn sách địa lý của Nguyễn Trãi, điểm lại các thế kỷ chiến trận, nghe ra cả nền âm nhạc cổ điển Huế: đó là Ai đã đặt tên cho dòng sông?, và cũng là chân dung thu nhỏ của phong cách sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Hoàng Phủ Ngọc Tường (1937 – 2023) là nhà văn gần như dành cả đời cho bút ký. Ông viết ký như người vừa đọc sách vừa đi bộ: hiểu biết lịch sử, triết học, văn hóa chảy cùng một mạch với cảm xúc rất riêng về Huế. Dưới đây là những nét làm nên giọng văn ấy, có dẫn chứng từ hai văn bản trong sách giáo khoa.

Bút ký là “nhà”: một đời gắn với một thể loại
Có nhà văn đi qua nhiều thể loại rồi mới dừng ở một chỗ. Hoàng Phủ Ngọc Tường thì đến với bút ký từ rất sớm và ở lại đó. Tập đầu tay Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu viết trong những năm ở chiến khu; Rất nhiều ánh lửa (1979) đem về Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1980 – 1981; tiếp theo là Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Hoa trái quanh tôi, Ngọn núi ảo ảnh, Trong mắt tôi, Miền cỏ thơm. Ông có làm thơ và viết nhàn đàm, nhưng người đọc nhớ ông trước hết là một cây bút ký.
Sách giáo khoa Ngữ văn 12 (bản 2008) giới thiệu gọn: “Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những nhà văn chuyên về bút ký.” Chữ “chuyên” ở đây nói về sự gắn bó hơn là số lượng. Ký là thể loại đòi hỏi người viết có mặt trong trang văn, và Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn có mặt: với kiến thức, với ký ức, với những rung động của chính mình.
Chất trí tuệ: một trang ký chứa cả sử, địa và triết
Ông học ban Việt Hán ở Đại học Sư phạm Sài Gòn, rồi lấy thêm bằng cử nhân triết ở Đại học Văn khoa Huế. Hai nền tảng ấy lộ ra trong cách ông viết. Khi kể về sông Hương, ông không dừng ở cảnh sắc mà lần ngược về tên gọi: thuở là “dòng sông biên thùy xa xôi của đất nước các vua Hùng”; trong sách địa lý của Nguyễn Trãi mang tên Linh Giang; rồi suốt những thế kỷ trung đại làm dòng sông canh giữ biên giới phía nam Đại Việt, cho đến những mốc của thế kỷ XX như Cách mạng tháng Tám. Địa lý thì được tả kỹ đến từng khúc quanh: từ đại ngàn Trường Sơn, qua vùng đồi lăng tẩm, đến chỗ dòng sông vòng một hình cung “ôm lấy chân đồi Thiên Mụ” rồi xuôi về thành phố.
Điều đáng chú ý là kiến thức ấy không đứng thành từng mảng “thông tin” tách rời. Nó được kéo vào mạch cảm xúc. Người đọc biết thêm một chuyện lịch sử nhưng đồng thời thấy dòng sông có chiều sâu thời gian, có số phận như một con người. Đó là chỗ khác giữa bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường và một bài khảo cứu.
Chất trữ tình: sông Hương thành người con gái, thành bản nhạc
Nếu chất trí tuệ cho trang văn độ sâu thì chất trữ tình cho nó hơi ấm. Trong Ai đã đặt tên cho dòng sông?, dòng sông được nhân hóa suốt hành trình. Ở thượng nguồn, nó là “bản trường ca của rừng già”; qua vùng đồi, nó như người con gái đẹp “ngủ mơ màng” chờ được đánh thức; vào thành phố, nhịp chảy chậm lại thành “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”; và trước khi ra biển, nó vẫn là “người tình dịu dàng và chung thủy” của cố đô.
Lối viết này gần với tùy bút hơn là ký sự. Cảnh vật chỉ là điểm tựa, điều nhà văn thật sự viết ra là tình yêu của mình với Huế. Bởi thế những so sánh của ông thường mượn từ âm nhạc, hội họa, thi ca. Ông nhắc dòng sông “như kiếm dựng trời xanh” trong thơ Cao Bá Quát, và kết luận rằng dòng sông ấy “không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”.

Trí tuệ hòa với trữ tình: bốn chữ nên nhớ
Hai mạch trí tuệ và trữ tình ở trên không tách rời. Cũng sách Ngữ văn 12 (2008) nhận xét: “Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lý”. Sách còn nói về “lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa”.
Bốn tính từ cuối đáng để học sinh nhớ, vì mỗi chữ chỉ một mặt có thể tìm thấy trong văn bản:
| Đặc điểm | Hiểu như thế nào | Tìm ở đâu trong văn bản |
|---|---|---|
| Hướng nội | Nhà văn nhìn cảnh qua tâm trạng, suy tư của chính mình | Những đoạn tự hỏi, tự lý giải về dòng sông và cái tên của nó |
| Súc tích | Một câu chứa nhiều lớp thông tin: sử, địa, văn hóa | Đoạn điểm lại lịch sử dòng sông, từ tên Linh Giang đến thế kỷ XX |
| Mê đắm | Tình yêu Huế tràn qua từng hình ảnh | Các hình ảnh nhân hóa sông Hương thành người con gái, người tình |
| Tài hoa | Liên tưởng bất ngờ, chữ dùng chọn lọc | So sánh dòng sông với điệu slow, với câu thơ Cao Bá Quát |
Cái tôi rất Huế: từ dòng sông đến bát cơm hến
Đọc Chuyện cơm hến ở lớp 7 sẽ gặp một Hoàng Phủ Ngọc Tường khác hẳn: thong thả, hóm hỉnh, có lúc xưng “tui” như người Huế nói chuyện. Ông kể tật mê cay, mê đắng của người Huế, tả bát cơm hến với cơm nguội, hến Cồn Hến, rau sống thái nhỏ, cả chục thứ gia vị. Rồi ông thẳng thắn bày tỏ chính kiến: món ăn cổ truyền phải giữ đúng cách làm của người xưa, đừng tùy tiện sửa đổi cho tiện.
Nhưng dưới giọng vui ấy vẫn là cái tôi giàu suy tư. Đoạn cuối, một chiều mưa, chị bán hàng rong không chịu bớt món nào cho đỡ công, và nhà văn nhận ra trong gánh hàng nhỏ có cả một nếp văn hóa. Từ con sông đến bát cơm, đề tài khác nhau nhưng điểm nhìn chỉ có một: Huế được hiểu như một di sản sống, và người viết vừa là người con, vừa là người lưu giữ.
Nhàn đàm: khi người viết ký tự gọi mình là “người ham chơi”
Bên cạnh bút ký, ông có một mảng ít được nhắc trong nhà trường là nhàn đàm. Tập Người ham chơi (1998) lấy luôn biệt danh ông tự đặt cho mình; Miền gái đẹp (2001) được Hội Nhà văn tặng thưởng. Đó là những bài ngắn, bàn chuyện ăn uống, chuyện chữ nghĩa, chuyện bạn bè văn nghệ. Giọng văn nhẹ hơn nhưng vẫn giữ thói quen dẫn sách, liên tưởng xa, nên đọc vẫn nhận ra cùng một người viết.
Điều cảm động là phần lớn những cuốn sách quen thuộc sau này ra đời khi ông đã bị tai biến, liệt nửa người. Văn ông vì thế là văn của người đi nhiều, và cũng là văn của người nhớ nhiều, ngồi một chỗ mà vẫn dựng lại được cả một vùng đất.
Đặt cạnh Nguyễn Tuân: hai lối ký tài hoa
Đề văn hay yêu cầu so sánh Người lái đò Sông Đà với Ai đã đặt tên cho dòng sông?. Cả hai cùng viết về một con sông, cùng tài hoa, uyên bác, nhưng khí chất khác nhau. Bảng dưới là nhận xét của người biên tập, dùng làm gợi ý khi lập dàn ý:
| Phương diện | Nguyễn Tuân | Hoàng Phủ Ngọc Tường |
|---|---|---|
| Cách tiếp cận | Nhìn sự vật ở góc độ cái đẹp, cái phi thường | Nhìn sự vật trong chiều sâu văn hóa, lịch sử |
| Giọng điệu | Ngông, phóng túng, nhiều khi gân guốc | Trầm tư, mềm mại, đắm say |
| Hình tượng dòng sông | Sông Đà vừa hung bạo vừa trữ tình | Sông Hương như người con gái, người tình của Huế |
| Vốn hiểu biết huy động | Quân sự, võ thuật, điện ảnh, hội họa | Địa lý, sử học, âm nhạc, thi ca, triết học |
Muốn đi sâu phía Nguyễn Tuân, xem bài phong cách sáng tác của Nguyễn Tuân.
Học hai văn bản của ông trong sách giáo khoa
Ai đã đặt tên cho dòng sông? (trích) có trong Ngữ văn 11 cả ba bộ sách: Kết nối tri thức, Chân trời sáng tạo và Cánh diều (thực hành đọc hiểu); Chuyện cơm hến ở Ngữ văn 7 Kết nối tri thức. Khi phân tích, nên chỉ ra cùng lúc hai lớp: lớp thông tin (địa lý, lịch sử, văn hóa) và lớp cảm xúc của cái tôi tác giả, rồi chứng minh hai lớp ấy hòa vào nhau như thế nào.
Tài liệu trên Văn VN: soạn bài Ai đã đặt tên cho dòng sông, sơ đồ tư duy, bố cục, nội dung chính, dàn ý phân tích, soạn bài Chuyện cơm hến và phân tích Chuyện cơm hến. Cuộc đời ông, từ thầy giáo Quốc Học đến những năm viết trên giường bệnh, có trong bài giới thiệu tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường; mảng thơ ít người biết có ở tuyển tập thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường.