Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện là dạng bài nghị luận về văn học đầu tiên của Ngữ văn 10. Sách Ngữ văn 10 Kết nối tri thức đặt kiểu bài ở Bài 1 (Sức hấp dẫn của truyện kể) và cho viết lại ở Bài 7 tập hai với đề phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học; sách Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo mở đầu bằng truyện kể dân gian ở Bài 1 (Tạo lập thế giới), rồi trở lại với tác phẩm tự sự hoặc kịch ở Bài 8; sách Ngữ văn 10 Cánh diều đặt ở Bài 6 tập hai (Tiểu thuyết và truyện ngắn). Bài dưới đây tập hợp yêu cầu kiểu bài theo từng bộ, kèm một dàn ý cho mọi loại truyện và 10 bài viết mẫu về 10 truyện khác nhau, từ Thần Trụ Trời, Prô-mê-tê và loài người đến Chữ người tử tù, Người ở bến sông Châu, Giang.

Yêu cầu của kiểu bài nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện
Phân tích là tách tác phẩm ra từng phương diện, gồm chủ đề và những yếu tố làm nên nó như tình huống, nhân vật, người kể chuyện, điểm nhìn, chi tiết, lời văn, để chỉ ra chúng vận hành ra sao. Đánh giá là nói rõ người viết nhận định thế nào về những điều vừa chỉ ra: hay ở đâu, mới ở đâu, có chỗ nào còn để ngỏ hoặc chưa thuyết phục. Bài lớp 10 khác bài lớp 9 chính ở vế thứ hai này: không dừng ở chỗ truyện có gì, mà phải trả lời vì sao những điều ấy đáng giá.
| Tiêu chí | Bài viết đạt khi |
|---|---|
| Giới thiệu | Nêu nhan đề, tác giả, có thể thêm thể loại hay nguồn gốc khi biết chắc; kèm một nhận định chung làm luận đề cho cả bài. |
| Tóm tắt | Vừa đủ để người chưa đọc nắm được câu chuyện; giữ những sự việc mà phần sau sẽ phân tích. |
| Chủ đề | Gọi tên được chủ đề bằng một câu gọn và chỉ ra nó được gửi qua những chi tiết nào. |
| Hình thức nghệ thuật | Chọn hai đến bốn nét nổi bật; mỗi nét đều có bằng chứng lấy từ văn bản và lời giải thích tác dụng của nó với chủ đề. |
| Đánh giá | Có ý kiến riêng về thành công (có khi cả hạn chế) của tác phẩm, dựa trên lí lẽ chứ không chỉ khen. |
| Lập luận, diễn đạt | Các luận điểm nối nhau theo một trình tự giải thích được, giữa các đoạn có câu nối; trích đúng nguyên văn, chỗ nào không thuộc chính xác thì nói lại bằng lời mình. |
Điểm khác giữa ba bộ sách. Kết nối tri thức (Bài 1) cho chọn một truyện mình yêu thích, bài viết tham khảo bàn về món quà trong truyện ngắn của O. Hen-ry và dàn ý mẫu lấy Chữ người tử tù làm ví dụ; ở Bài 7 tập hai, đề rộng thành tác phẩm văn học và nhấn vào quan hệ giữa chủ đề với nhân vật. Chân trời sáng tạo (Bài 1) giới hạn trong truyện kể dân gian, từ thần thoại, truyền thuyết đến truyện cười, truyện cổ tích hay ngụ ngôn; ngữ liệu là bài phân tích truyện ngụ ngôn Chó sói và chiên con. Bài 8 của bộ này chuyển sang tác phẩm tự sự hoặc kịch, yêu cầu bàn cả hai mặt nội dung và hình thức. Cánh diều dùng ngữ liệu bàn về cốt truyện của đoạn trích Hồi trống Cổ Thành, phần thực hành gợi ý phân tích nhân vật dì Mây trong Người ở bến sông Châu.
Mỗi loại truyện nên nhìn vào đâu trước?
| Loại truyện | Câu hỏi nên đặt | Mẫu trong trang |
|---|---|---|
| Thần thoại | Truyện giải thích hiện tượng gì? Nhân vật thần mang sức mạnh, ước mơ nào của người xưa? | Mẫu 3, Mẫu 4 |
| Truyện truyền kì | Yếu tố kì ảo dùng để nói điều gì về thế giới thật? | Mẫu 2 |
| Tiểu thuyết lịch sử viết theo lối chương hồi | Người kể đứng ở đâu, kể sự kiện theo nhịp nào, khen chê ai? | Mẫu 6 |
| Truyện ngắn hiện đại | Tình huống, điểm nhìn, chi tiết lặp lại, kết thúc mở có tác dụng gì? | Mẫu 1, 5, 7–10 |
Dàn ý bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện
1. Mở bài
- Giới thiệu nhan đề, tác giả, thể loại; nêu lí do chọn truyện nếu đề cho tự chọn.
- Đưa ra nhận định khái quát (luận đề): truyện hấp dẫn nhờ điều gì, đáng giá ở đâu.
- Cách vào bài có thể là một chi tiết đáng nhớ, một câu văn hay một cách hiểu phổ biến cần bàn lại; tên truyện và tác giả vẫn phải có ngay ở đoạn đầu.
2. Thân bài
- Tóm tắt trong ba đến sáu câu, giữ lại các sự việc mà phần sau sẽ bàn.
- Bàn về chủ đề: truyện đặt ra vấn đề gì, nhà văn (hoặc tác giả dân gian) gửi thái độ nào.
- Bàn về hình thức: mỗi đoạn một nét (nhân vật, tình huống, ngôi kể cùng điểm nhìn, chi tiết, kết cấu, lời văn); trong đoạn, gọi tên nét ấy, đưa bằng chứng, giải thích tác dụng rồi nối về chủ đề.
- Phần đánh giá: đặt truyện cạnh cách hiểu quen thuộc, cạnh một truyện gần đề tài, hoặc chỉ ra chỗ còn để ngỏ.
3. Kết bài
- Nhắc lại, gọn trong vài câu, truyện có giá trị ở chủ đề nào và ở cách viết nào.
- Cho biết truyện đã thay đổi điều gì trong cách nghĩ của người viết, hoặc gợi một hướng đọc tiếp.
Dàn ý cụ thể cho đề: Phân tích nhân vật dì Mây trong Người ở bến sông Châu
- Mở bài: truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh về người lính trở về sau chiến tranh; dì Mây là hình ảnh của mất mát và lòng vị tha.
- Bi kịch thứ nhất: trở về đúng ngày người yêu cưới vợ, thân thể thương tật, đã từng bị báo tử.
- Lựa chọn của dì: khước từ khi chú San muốn bỏ hết để quay lại, dặn hai người sống với nhau cho trọn.
- Thử thách lớn nhất: đêm mưa dì cứu ca sinh khó của người đã thay mình làm vợ chú San; tiếng khóc của dì lẫn với tiếng khóc của đứa trẻ.
- Dì nhận nuôi thằng Cún sau cái chết của thím Ba; tiếng ru bên bến sông.
- Nghệ thuật: điểm nhìn của Mai, cảnh sông Châu và hoa gạo, lời thoại ngắn, kết cấu theo thời gian.
- Kết bài: chiến tranh lấy đi của dì nhiều thứ nhưng không lấy được lòng tốt; truyện nhắc người sau nhìn lại cái giá của hòa bình.
Bài viết về truyện trong Bài 1 sách Kết nối tri thức
Mẫu 1: Chữ người tử tù – viên quản ngục, người đứng ở phía bóng tối
Bài dự thi học sinh giỏi cấp trường. Đề (giả định): Có ý kiến cho rằng viên quản ngục chỉ là nhân vật làm nền cho Huấn Cao. Em hãy bàn về ý kiến đó qua việc phân tích nhân vật này.
Nhắc đến Chữ người tử tù, người ta nhớ ngay hình ảnh người tử tù mang gông viết chữ trong đêm cuối. Ít ai bắt đầu từ người đứng cạnh ông. Vậy mà thử bỏ viên quản ngục ra khỏi truyện, Huấn Cao vẫn tài hoa, vẫn khí phách, song nét chữ ấy sẽ không có người xin, cái tài ấy sẽ không có ai cúi đầu trước nó, và câu chuyện chỉ còn là chân dung một người hùng. Em cho rằng quản ngục không phải nhân vật làm nền. Ông là nơi Nguyễn Tuân đặt câu hỏi khó nhất của truyện: cái đẹp có đánh thức được một con người đang sống giữa chốn tối tăm hay không.
Truyện in trong tập Vang bóng một thời. Viên quản ngục một nhà lao tỉnh lẻ nhận Huấn Cao, người nổi danh vì nét chữ đẹp, bị khép án tử vì chống lại triều đình. Ông ngầm biệt đãi người tù bằng rượu thịt dù chỉ nhận lại sự khinh bạc. Ông làm thế vì một ước ao: có được chữ ông Huấn để treo trong nhà. Khi hiểu ra tấm lòng ấy, đêm cuối trước lúc bị giải đi, người tù viết tặng chữ ngay tại buồng giam, rồi khuyên viên quan coi ngục bỏ nghề về quê.
Điều đầu tiên đáng bàn là chỗ đứng của nhân vật. Nguyễn Tuân để một người mê chữ đẹp, hiểu giá trị từng nét bút, kiếm sống bằng nghề coi ngục, nơi quen với gông cùm, roi vọt và những bộ mặt dữ dằn. Xét theo trật tự xã hội, ông ở trên, Huấn Cao ở dưới; ông có quyền, người kia mất tự do. Chính sự đặt nhầm chỗ này tạo ra chất bi kịch thầm lặng của quản ngục: một tâm hồn biết quý cái đẹp mà phải mặc chiếc áo của kẻ giam giữ cái đẹp.
Người kể chuyện có một câu so sánh rất đắt khi nói về ông: ông như một “thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”. Hình ảnh ấy chứa cả nhận định lẫn giới hạn. Một âm thanh trong không làm cả bản đàn bớt hỗn loạn; quản ngục không cải tạo được nhà lao, không cứu được người tù. Nhưng âm thanh ấy cũng không bị tiếng ồn nuốt mất. Nhà văn tin rằng giữa một môi trường xấu, có những người vẫn giữ được phần thiên lương của mình, dù nhỏ và lẻ loi.
Hành động biệt đãi tử tù cho thấy rõ hơn con người ấy. Đối đãi tử tế với một người triều đình đã kết án là việc liều, có thể mang vạ vào thân. Ông vẫn làm, lặng lẽ, không mặc cả. Khi Huấn Cao bảo ông đừng bước vào buồng giam nữa, ông không đáp trả bằng quyền lực mình có. Nhiều bài viết coi đó là sự nhẫn nhục của người quá mê chữ. Em nghĩ đó còn là sự tự biết mình: ông hiểu người tù có lí do để khinh một kẻ đang đứng về phía nhà ngục, nên ông chấp nhận bị khinh mà không đổi lòng.
Đến cảnh cho chữ, cảnh mà người kể gọi là “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”, mọi vị trí bị đảo ngược. Người tù chân còn vướng xiềng, cổ đeo gông, tô đậm từng con chữ lên mặt lụa dưới ánh đuốc. Viên quản ngục thì khúm núm thu từng đồng tiền kẽm dùng làm dấu ô chữ, thầy thơ lại run run bưng chậu mực. Kẻ có quyền đứng hầu kẻ có tài. Huấn Cao khuyên ông tìm về quê mà ở, vì chốn này khó giữ được tấm lòng trong sạch. Ông vái người tù, nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Hai chữ mê muội là tự nhận, tự phán xét. Còn bái lĩnh là nhận cả bức chữ lẫn lời khuyên, nghĩa là nhận lấy một cách sống khác.
Trở lại với ý kiến trong đề. Ý kiến ấy đúng một phần: nhờ quản ngục, tài năng và nhân cách Huấn Cao được nhìn thấy, được thấu hiểu; cái tài cần một người tri âm. Nhưng nói ông chỉ để làm nền thì chưa đủ. Nếu Huấn Cao chứng minh cái đẹp không chịu khuất phục, thì quản ngục chứng minh cái đẹp có sức cảm hóa. Thiếu vế sau, truyện chỉ là lời ca ngợi một người tài; có vế sau, truyện trở thành niềm tin vào con người. Có thể chê nhân vật này ít được miêu tả nội tâm, phần lớn hiện lên qua lời kể và vài cử chỉ. Em lại thấy khoảng lặng ấy hợp với một người sống kín, quen giấu sở thích của mình trước đám lính ngục.
Truyện không cho biết sau đêm ấy viên quản ngục có bỏ nghề về quê hay không. Nguyễn Tuân dừng lại ở một cái vái và một giọng nói nghẹn ngào. Chính chỗ dừng ấy làm em tin ông sẽ đi: một người đã khóc trước nét chữ đẹp thì khó lòng quay lại làm một viên coi ngục như cũ.
Mẫu 2: Chuyện chức phán sự đền Tản Viên – ngọn lửa của Ngô Tử Văn và phiên tòa ở cõi âm
Bài làm trong 90 phút.
Biến cố đầu tiên trong truyện của Nguyễn Dữ là một ngọn lửa. Một kẻ sĩ tắm gội, làm lễ khấn trời, sau đó tự tay châm lửa vào ngôi đền mà cả vùng vẫn kiêng sợ. Hành động ấy làm người đọc bây giờ giật mình, vì đốt đền là chuyện phạm thượng. Thế nhưng Tản Viên từ Phán sự lục, tức Chuyện chức phán sự đền Tản Viên trong Truyền kì mạn lục, lại kể ngọn lửa ấy như một việc chính nghĩa, rồi dắt người đọc xuống tận cõi âm để chứng minh điều đó. Truyện hấp dẫn vì dùng thế giới kì ảo để dựng một phiên tòa, và gửi qua phiên tòa ấy niềm tin vào công lí của người xưa.
Ngô Tử Văn, người Yên Dũng đất Lạng Giang, được giới thiệu là người khảng khái, nóng nảy, “thấy sự tà gian thì không thể chịu được”. Vào cuối thời nhà Hồ, có hồn tên tướng giặc tử trận chiếm ngôi đền thổ thần gần làng, tác oai tác quái. Tử Văn đốt đền, bị hồn ma đe dọa kiện xuống Minh ty. Thổ thần thật tìm đến kể rõ ngọn ngành và mách cách đối phó. Bị bắt xuống âm phủ, chàng gặp lời vu cáo nhưng vẫn cãi lẽ, xin tư giấy đến đền Tản Viên hỏi chứng. Sự thật sáng tỏ, viên tướng giặc bị tống vào ngục Cửu U, thổ thần được trả lại đền, Tử Văn sống lại và sau đó nhận chức phán sự đền Tản Viên.
Về chủ đề, truyện đề cao người trí thức dám đứng ra chống cái ác vì dân, đồng thời khẳng định chính nghĩa rốt cuộc sẽ thắng. Điều làm chủ đề ấy không khô khan là nó được kể qua một nhân vật rất người. Tử Văn không phải thánh. Đốt đền xong, chàng lên cơn sốt, đầu lảo đảo; bị dọa nạt thì vẫn thản nhiên nhưng cũng cần thổ thần chỉ đường. Cái dũng của chàng vì thế không phải sự liều lĩnh mù quáng, mà là sự cứng cỏi của người tin mình đúng.
Điểm hay đầu tiên nằm ở việc Nguyễn Dữ để cái kì ảo phục vụ cái thực. Hồn ma, thổ thần, quỷ sứ, Diêm Vương, ngục Cửu U đều là chuyện không có thật, nhưng quan hệ giữa chúng lại rất giống đời thật. Hồn tên tướng bại trận chiếm chỗ ở của thổ thần; vị thần hiền lành bị đẩy ra khỏi chính chỗ ở của mình mà không tự đòi lại được. Đến khi phiên xử kết thúc, cả những viên phán sự làm việc tắc trách ở cõi âm cũng bị trừng trị. Cõi âm trong truyện chẳng khác một bộ máy quan lại có kẻ mạnh hiếp kẻ yếu, có người bị oan, có quan xử án cẩu thả. Nguyễn Dữ nói chuyện ma để nói chuyện người, và người đọc đương thời hẳn nhận ra ngay điều ấy.
Nét thứ hai là kết cấu của một phiên tòa. Truyện có nguyên đơn, bị đơn, có lời buộc tội, lời bào chữa và bằng chứng. Tên tướng giặc nói năng trơn tru, đổ cho Tử Văn tội đốt đền; có lúc chàng đã bị khép vào tội chết. Tình thế chỉ xoay chuyển khi Tử Văn xin đem giấy tờ đến đền Tản Viên đối chứng. Chi tiết này nhỏ mà có ý nghĩa lớn: chính nghĩa không thắng vì được ai ưu ái, mà thắng vì có bằng chứng và có người dám đòi xem bằng chứng. Công lí trong truyện vì thế rất gần với thứ công lí mà ta vẫn mong ở một phiên tòa thật.
Nét thứ ba là cái kết. Tử Văn nhận chức phán sự, rồi không bệnh mà mất. Người kể còn thêm cảnh một người quen cũ gặp lại chàng khi chàng đã ở chức phán sự. Kết thúc ấy biến một kẻ sĩ ngoài đời thành người cầm cân nảy mực, như lời hứa rằng người ngay sẽ được trao quyền phân xử. Lời bình cuối truyện của tác giả nói thẳng ý nghĩa ấy: người có học chớ ngại tỏ ra cứng cỏi trước cái ác.
Có người cho rằng kết thúc này hơi “có hậu” kiểu cổ tích. Đúng là thế giới thật hiếm khi xử nhanh và sạch như vậy. Nhưng đặt vào thế kỉ XVI, thời Nguyễn Dữ sống giữa một xã hội nhiều biến động, cái kết có hậu không phải sự ngây thơ. Nó là một lời đòi hỏi: nếu trần gian chưa có công lí thì ít nhất trang sách phải có. Ngọn lửa đốt đền ở đầu truyện, rốt cuộc, đã được thắp lại thành một chức quan xét xử ở cuối truyện.
Bài viết về thần thoại theo đề Chân trời sáng tạo
Mẫu 3: Thần Trụ Trời – cách người xưa dựng trời đất bằng một cây cột
Bài kiểm tra 45 phút.
Thần Trụ Trời là truyện thần thoại Việt Nam kể về thuở trời đất mới phân. Truyện rất ngắn, nhân vật chỉ gồm một vị thần to lớn với một công việc duy nhất, nhưng nó cho thấy người xưa đã cố hiểu thế giới quanh mình bằng trí tưởng tượng hồn nhiên mà mạnh mẽ.
Truyện kể rằng thuở ấy chưa có muôn vật và loài người, trời và đất chưa tách khỏi nhau, chỉ là một vùng mù mịt. Một vị thần to lớn đứng dậy, ngẩng đầu đội trời lên, rồi đào đất, đập đá, đắp thành cột cao để chống trời. Trời được đẩy lên cao, đất phẳng như cái mâm vuông, trời tròn như cái bát úp. Đến khi trời đã vững, thần đập bỏ cây cột, vung đất đá ra bốn phía; những chỗ đất đá rơi xuống thành núi, thành đồi. Cuối truyện là mấy câu vè nhắc tên các vị thần cùng làm nên thế gian.
Truyện là lời lí giải của người Việt cổ về chuyện trời đất, núi đồi từ đâu mà có, đồng thời ca ngợi sức lao động của thần linh. Đáng chú ý là vị thần không dùng phép màu. Thần đào, đập, đắp, dựng, phá, toàn là động tác của người làm đất. Người xưa đã hình dung việc tạo lập thế giới giống công việc của chính họ ngoài đồng, chỉ to lớn hơn gấp vạn lần.
Về nghệ thuật, truyện thành công nhờ hình tượng nhân vật khổng lồ và những so sánh gần gũi. Cái mâm, cái bát là đồ vật trong bữa cơm hằng ngày; đem chúng ra để tả trời đất, tác giả dân gian khiến điều xa xôi nhất trở nên dễ hình dung với cả đứa trẻ. Lối kể ngắn, nhiều động từ, sự việc nối nhau dồn dập cũng hợp với một câu chuyện được truyền miệng qua nhiều đời.
Có thể thấy truyện còn sơ giản: không xung đột, không đối thủ, thần không gặp trở ngại nào. Nhưng đặt vào đúng thể loại, sự sơ giản ấy là hợp lí. Thần thoại ra đời khi con người còn đứng trước thiên nhiên với bao điều chưa giải thích nổi; điều họ cần là một lời giải thích dễ nhớ để kể lại cho nhau, chưa cần một câu chuyện nhiều khúc quanh. Chính vì gọn, truyện mới sống được qua bao đời kể miệng.
Còn bài vè cuối truyện là một chi tiết em thích. Nó cho thấy thần Trụ Trời không làm một mình: có vị đếm cát, vị tát biển, vị đào sông, vị trồng cây. Thế gian, theo cách nghĩ ấy, là công trình chung của nhiều bàn tay. Đọc truyện, em hiểu vì sao bài vè kết lại bằng tên ông Trụ Trời: người đặt viên gạch đầu tiên luôn được nhớ ơn.
Mẫu 4: Prô-mê-tê và loài người – không chỉ là chuyện lấy lửa
Hỏi một bạn cùng lớp truyện Prô-mê-tê và loài người nói gì, câu trả lời thường là: chuyện vị thần ăn trộm lửa trời cho con người và bị trừng phạt. Cách hiểu ấy phổ biến đến mức nhiều người coi đó là toàn bộ truyện. Đọc lại bản in trong sách Chân trời sáng tạo, em thấy cách hiểu này vừa thừa vừa thiếu. Thừa, vì văn bản trong sách không kể đến cảnh Prô-mê-tê bị xiềng. Thiếu, vì ngọn lửa chỉ là món quà cuối cùng trong một câu chuyện lớn hơn: câu chuyện người Hy Lạp xưa dùng để trả lời vì sao con người khác muôn loài.
Truyện kể rằng khi mặt đất còn vắng vẻ, hai anh em Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê được U-ra-nôx và Gai-a cho phép làm cho thế gian đông vui hơn. Người em nhận phần việc trước: nhào đất với nước thành muông thú, rồi phát cho từng loài một món quà để giữ mình, con có nanh vuốt, con có cánh, con có bộ lông dày. Đến lượt con người thì túi quà đã rỗng. Prô-mê-tê sửa lại hình hài con người cho thanh tao như dáng các vị thần, cho họ đứng thẳng, bước bằng hai chân, làm việc bằng đôi tay, rồi tìm đến cỗ xe rực sáng của thần Mặt Trời Hê-li-ôx, châm đuốc, mang ngọn lửa xuống trao cho loài người.
Điều đầu tiên cần thấy là truyện được dựng trên sự đối lập hai anh em. Tên Prô-mê-tê, theo nhiều tài liệu, mang nghĩa người biết trước. Người em hăng hái, rộng tay, nhưng làm đến đâu tiêu đến đó, để rồi bỏ quên chính sinh vật cuối cùng. Người anh chậm hơn mà lo xa hơn. Cặp nhân vật ấy cho thấy người xưa đã sớm phân biệt hai kiểu trí khôn: trí khôn bốc đồng và trí khôn biết tính trước.
Điều thứ hai, cũng là chỗ cách hiểu “trộm lửa” hay bỏ qua: con người ra đời trong cảnh thiếu thốn. Không nanh vuốt, không cánh, không lông dày, con người là loài yếu nhất. Bù lại, họ được đứng thẳng, ngẩng mặt nhìn lên cao và có đôi tay rảnh để làm việc. Đó là cách thần thoại giải thích sức mạnh của loài người không nằm ở thân thể mà ở khả năng lao động, sáng tạo. Ngọn lửa đến sau cùng như phần hoàn tất: có lửa, đôi tay mới làm ra được bếp, ra công cụ, ra văn minh.
Điều thứ ba là thái độ của người kể với Prô-mê-tê. Ông hiện lên như một ân nhân: thương con người, lo cho con người, dám làm điều vượt phép tắc của các vị thần. Lòng biết ơn ấy kết lại trong lời ca ngợi của con người dành cho vị thần đã mang lửa đến. Nhờ vậy, truyện vừa giải thích một hiện tượng, vừa xây dựng hình mẫu của người dám hi sinh vì kẻ yếu.
Vậy cách hiểu phổ biến có sai không? Không hẳn. Chuyện Prô-mê-tê bị trừng phạt là có thật trong kho thần thoại Hy Lạp và được kể ở những tác phẩm khác. Nhưng khi phân tích văn bản cụ thể, người viết cần bám vào điều văn bản kể. Văn bản này không bi tráng; nó ấm áp, gần như một bài ca về lúc loài người chào đời. Gấp sách lại, em không nhớ một kẻ trộm lửa, mà nhớ một vị thần cúi xuống nặn lại con người cho đứng thẳng.
Bài viết theo đề Cánh diều: tiểu thuyết và truyện ngắn
Mẫu 5: Người ở bến sông Châu – dì Mây và cuộc chiến sau chiến tranh
Bài viết theo đề thực hành Cánh diều, chọn đăng tập san của lớp.
Dì Mây khoác ba lô trở về đúng hôm chú San cưới vợ. Sương Nguyệt Minh mở truyện bằng sự trùng hợp ấy, rồi tả nước sông Châu đỏ quạch, hoàng hôn đỏ ối, mây đen trắng cuồn cuộn. Chưa có lời bình nào, người đọc đã biết mình sắp bước vào một bi kịch. Người ở bến sông Châu là truyện ngắn về người lính trở về sau chiến tranh, và dì Mây là nhân vật cho thấy chiến tranh không kết thúc vào ngày tiếng súng ngừng: với nhiều người, nó còn kéo dài trong từng ngày sống sau đó.
Dì Mây từng là cô gái đẹp nhất làng, yêu chú San, tự chèo đò tiễn người yêu đi học nước ngoài giữa mùa hoa gạo. Dì vào Trường Sơn làm quân y sĩ, bị mảnh đạn cướp mất một chân, gia đình nhận giấy báo tử. Lúc dì về, người yêu cũ vừa làm đám cưới. Chú muốn bỏ tất cả để làm lại, dì từ chối. Rồi trong một đêm mưa, người vợ trẻ của chú sinh khó, dì là người đỡ đẻ cứu cả mẹ lẫn con. Về sau, thím Ba đun te dưới sông thì vướng phải bom bi còn sót dưới lòng sông; dì đưa thằng Cún về nuôi, sống trong căn nhà mới dựng bên bến.
Bi kịch thứ nhất của dì Mây là bi kịch của người về muộn. Dì không trách được ai. Chú San không phụ bạc theo nghĩa thông thường: người ta báo dì đã chết. Chiến tranh đã đặt hai người vào hai đầu của một sự hiểu lầm không ai cố ý gây ra. Đó là điểm khiến nỗi đau trong truyện thấm hơn: không có kẻ ác để căm ghét, chỉ có thời gian và bom đạn đã chen vào giữa hai con người.
Từ bi kịch ấy, dì Mây bộc lộ phẩm chất lớn nhất là lòng vị tha. Dưới gốc bưởi, khi chú San đề nghị làm lại, có một lúc dì khuỵu xuống, mềm oặt cả người. Tình yêu chưa chết. Nhưng rồi dì đứng dậy, gạt đi: “Đằng nào cũng chỉ một người đàn bà khổ”. Câu nói ngắn mà là cả một phép tính đau đớn. Nếu dì nhận hạnh phúc, một người phụ nữ khác sẽ khổ; vậy thì dì nhận phần khổ về mình. Dì còn dặn hai người cố sống với nhau cho tròn. Sự hi sinh ấy không ồn ào, nó diễn ra giữa vườn đêm, trong tiếng lá bưởi xào xạc.
Thử thách lớn nhất đến vào đêm mưa đỡ đẻ. Thím Ba kéo dì ra hiên, bảo cứu không nổi, mang vạ vào thân. Dì vẫn tiêm thuốc, vẫn dỗ dành người sản phụ cố lên. Đứa bé oe oe cất tiếng; ngoài sân chú San nhảy cẫng lên, thì ở trong buồng, dì gục mặt xuống mà khóc tức tưởi. Đây là chi tiết đắt nhất của truyện. Tiếng khóc của dì vừa mừng vừa tủi: mừng vì cứu được hai mạng người, tủi vì đứa trẻ đáng lẽ có thể là con của dì. Một hành động tốt, vì vậy, không xóa được nỗi đau; nó chỉ cho thấy con người có thể làm điều tốt ngay giữa nỗi đau của mình.
Truyện thành công trước hết nhờ điểm nhìn của Mai, đứa cháu gái. Người kể đứng ngoài nhưng phần lớn sự việc hiện qua mắt Mai, một cô bé lờ mờ hiểu chuyện người lớn. Nhờ đôi mắt ấy, những điều đau nhất được kể rất kiệm lời: mẹ đụng cái gì cũng rơi, cũng vỡ; dì ngồi như tượng trước ngọn đèn dầu. Sương Nguyệt Minh không cần giải thích tâm trạng, ông để các cử chỉ tự nói.
Nét thứ hai là không gian bến sông. Bến sông Châu xuất hiện ở mọi khúc ngoặt: nơi dì tiễn người yêu đi, nơi dì về, nơi dì ngồi nhìn hoa gạo, nơi thím Ba chết, nơi dì ru con. Hoa gạo đỏ mùa tiễn đưa trở lại mùa dì về, như thời gian quay vòng mà con người thì không quay lại được nữa. Cây cầu đổ từ thời bom Mỹ ở đầu truyện, đến cuối truyện được lính công binh bắc lại từng nhịp. Hình ảnh ấy âm thầm gợi rằng đời sống đang được nối lại, dù vết thương vẫn còn.
Truyện không khép bằng một đám cưới cho dì Mây. Lời đồn về chú Quang, người lính công binh từng được dì cứu, chỉ như một khả năng. Cuối truyện là giọng ru ầu ơ của dì lan trên mặt sông đêm, và người kể cho biết đêm nào vắng tiếng ru ấy, những người lính bắc cầu lại thao thức khó ngủ. Em nghĩ Sương Nguyệt Minh chọn đúng chỗ dừng. Hạnh phúc riêng của dì có thể còn để ngỏ, nhưng tình thương của dì đã có chỗ để trao. Và bến sông từng chứng kiến một cuộc chia li, giờ là nơi tiếng ru lan ra mỗi đêm.
Mẫu 6: Kiêu binh nổi loạn – tiếng trống trong phủ chúa và cách kể sử của Ngô gia văn phái
Bài viết cho buổi sinh hoạt chung của câu lạc bộ Văn – Sử.
Một hồi trống nổi lên trong phủ chúa, và chỉ cần thế, đám lính đang hậm hực bao ngày ùa vào như nước vỡ bờ. Đoạn trích Kiêu binh nổi loạn, rút từ hồi thứ hai của Hoàng Lê nhất thống chí do Ngô gia văn phái viết, ghi lại một cuộc chính biến có thật trong phủ chúa. Nó đáng đọc không chỉ vì sự kiện lịch sử, mà vì cách những người viết vừa giữ đúng sự thật, vừa để sự thật tự nói lên sự mục ruỗng của cả một triều đình.
Sau khi chúa Trịnh Sâm mất, con thứ là Trịnh Cán được lập lên, Quận Huy Hoàng Đình Bảo làm phụ chính; con trưởng là Trịnh Tông bị phế. Người nấu bếp tên Dự Vũ cùng gia thần Gia Thọ xui Trịnh Tông lợi dụng nỗi bất bình của quân lính. Thế tử liền cho dọn cơm rượu, gọi những viên biện lại của đám thân quân đến đánh chén rồi giãi bày nỗi oan. Quân lính hội họp, bàn mưu. Quận Huy được báo trước nhưng vẫn coi lời đồn là “thói đời hay phao nhảm”, không phòng bị. Đến lúc trống nổi, kiêu binh xông vào, giết Quận Huy, phế Trịnh Cán, tôn Trịnh Tông làm chúa, rồi còn tiếp tục lộng hành.
Đoạn trích phơi ra cảnh mục nát trong phủ chúa: cha con, anh em tranh ngôi, bè phái lập người này phế người kia vì lợi riêng, và lực lượng đáng lẽ bảo vệ triều đình lại trở thành mối họa cho chính nó. Đáng nói là người viết không tô vẽ cho bên nào. Kẻ xúi giục được kể với lời lẽ khôn khéo, kẻ cầm quyền thì chủ quan, đám đông thì hung hãn. Tất cả cùng góp vào một bức tranh suy tàn.
Về nghệ thuật, trước hết phải kể đến cách xếp sự việc: nối nhau đúng thứ tự trước sau, nhịp nhanh mà vẫn rành mạch. Mỗi bước của âm mưu được ghi lại như biên bản: lời của người đầu bếp, lời của gia thần, bữa cơm khích động, cuộc họp của quân lính, những lời can của người nhà Quận Huy. Người đọc biết trước tai họa sắp đến, chỉ có nhân vật trong cuộc là không biết hoặc không muốn biết. Cách kể ấy tạo ra sức căng như đếm ngược.
Nét thứ hai là khắc họa nhân vật bằng lời nói và hành động, rất ít lời bình trực tiếp. Quận Huy tự tin đến ngạo mạn, tuyên bố nếu có biến thì mình chết cũng kéo theo vài mạng, rồi đến đêm vẫn nằm lại phủ, bên cạnh chỉ dăm người hầu như thường lệ. Chỉ vài chi tiết, chân dung một kẻ quyền thần mù quáng đã hiện ra. Còn kiêu binh nghe hiệu trống liền hăm hở chen lấn nhau xông vào, ai không lọt được thì đứng ngoài reo hò ầm ĩ. Đám đông ấy không có lí tưởng, chỉ có cơn giận và nỗi hậm hực được người khác lèo lái.
Nét thứ ba là bút pháp kể sử khách quan. Người viết không xen vào để than thở hay kết tội, nhưng việc chọn kể chi tiết nào đã là một thái độ. Sự hỗn loạn càng được ghi lại tỉ mỉ, người đọc càng tự rút ra kết luận rằng một triều đình phải dựa vào đám lính kiêu căng để tranh ngôi thì không thể đứng lâu.
Đọc đoạn trích hôm nay, em thấy nó không chỉ là trang sử về phủ chúa. Nó còn cảnh báo về sức mạnh của đám đông khi bị kích động: rất dễ được dựng lên, nhưng một khi đã nổi thì không ai giữ được, kể cả người đã gọi nó dậy.
Luyện thêm với các truyện học ở học kì II
Mẫu 7: Một chuyện đùa nho nhỏ – đọc ngược từ câu cuối
Truyện của Sê-khốp khép lại bằng một lời thú nhận: người kể chuyện, giờ đã đứng tuổi, không lí giải nổi tại sao năm xưa lại bày ra trò đùa đó. Em muốn đọc Một chuyện đùa nho nhỏ ngược từ câu ấy, bởi nó cho thấy truyện không chỉ kể về một trò đùa, mà về khoảng cách giữa điều mình làm và điều mình hiểu về việc mình làm.
Câu chuyện rất giản dị. Mùa đông, chàng trai rủ Na-đi-a trượt xe từ đỉnh đồi tuyết. Đúng lúc xe lao nhanh nhất, gió rít mạnh nhất, anh thì thầm bốn tiếng: “Na-đi-a, anh yêu em!”. Cô gái không biết đó là lời anh hay tiếng gió. Để biết, cô trượt lại nhiều lần dù sợ chết khiếp, có hôm trượt một mình. Mùa xuân đến, tuyết tan, trước hôm đi xa, anh đứng sau hàng rào ngăn khu vườn với sân nhà cô, đợi một làn gió rồi nói lại câu ấy lần cuối. Nhiều năm sau, Na-đi-a đã có gia đình, ba đứa con, nhưng vẫn cất giữ những lần trượt tuyết ấy như hạnh phúc lớn nhất đời mình.
Cảnh cuối mùa xuân là đoạn em thấy hay nhất. Đồi tuyết đã tan, gió cũng thôi gào rít, Na-đi-a đứng ở thềm nhà, đưa tay ra như xin làn gió trả lại bốn tiếng kia. Chàng trai ghé nhìn qua khe rào, chờ gió tới mới thì thầm. Đến đây, trò đùa đã thành một kiểu tặng quà vụng về: anh biết mình sắp đi, và có lẽ đó là cách duy nhất anh nghĩ ra để chia tay.
Đặt cạnh câu kết, người kể “tôi” hiện ra rõ hơn. Suốt truyện, anh tỏ ra hiểu Na-đi-a đến từng ánh mắt: anh thấy cô băn khoăn, thấy cô muốn hỏi mà không dám, thấy nước mắt cô chảy trong gió xuân. Anh hiểu người khác rất kĩ nhưng lại không hiểu chính mình. Lời tự thú cuối truyện vì thế không chỉ là sự hối tiếc, mà là sự bối rối của một người nhìn lại tuổi trẻ và thấy có những việc mình làm mà không có lí do.
Ngôi kể thứ nhất giúp Sê-khốp giữ được điều bí ẩn. Ta chỉ biết những gì “tôi” biết. Ta không bao giờ được nghe Na-đi-a nói ra cô nghĩ gì, chỉ thấy cô qua đôi mắt của người đùa. Nhờ vậy, câu hỏi gió hay người vẫn để ngỏ với cả người đọc, cũng như nó để ngỏ với cô gái.
Có bạn trong lớp cho rằng anh ta đáng trách vì đem tình cảm người khác ra đùa. Em đồng ý một nửa. Trò đùa ấy có phần vô tâm thật. Nhưng truyện cũng cho thấy một điều lạ: điều không bao giờ được nói rõ lại trở thành hạnh phúc bền nhất của Na-đi-a. Sê-khốp không phán xét, ông chỉ đặt hai cách nhớ cạnh nhau, một người giữ như báu vật, một người không giải thích nổi mình đã trao đi vì lẽ gì. Chính cái lệch ấy làm câu chuyện nhỏ này khó quên.
Mẫu 8: Con khướu sổ lồng – cái lồng đẹp và bầu trời không có cửa
Viết cho chuyên mục Một truyện ngắn mỗi tháng trên bản tin của nhóm đọc sách.
Tháng này câu lạc bộ chọn Con khướu sổ lồng của Nguyễn Quang Sáng, văn bản thực hành đọc ở Bài 7 sách Kết nối tri thức tập hai. Truyện chỉ xoay quanh một con chim và hai lần nó thoát khỏi lồng, nhưng đọc xong, nhiều thành viên nói cùng một ý: hóa ra truyện kể về người nuôi chim nhiều hơn là về con chim.
Con khướu được cả nhà nuôi trong một chiếc lồng tre đẹp, cho ăn uống chu đáo, quý như một thành viên trong nhà, và nó hót rất hay. Một hôm nó sổ lồng bay đi, cả nhà lo sốt vó. Rồi nó tự bay về, ai nấy mừng rỡ, chỉ riêng người cha, cũng là người kể chuyện, bắt đầu suy nghĩ: sống trong lồng lâu quá, đôi cánh nó đã quen với khoảng hẹp. Lần sổ lồng thứ hai, cả nhà không còn lo vì đinh ninh nó sẽ về. Quả thật nó về đến vườn, nhưng khi sắp sà xuống lồng thì nghe tiếng một con chim mái gọi, và nó bay đi hẳn. Những ngày sau, đứa con vẫn treo lồng ngoài trời chờ nó; người cha thì đã hiểu nó sẽ không về nữa.
Điểm hay đầu tiên là cách nhà văn dựng hai lần sổ lồng như hai câu hỏi khác nhau. Lần đầu hỏi: con chim có muốn tự do không? Câu trả lời buồn: nó quay về vì đã quen. Lần sau hỏi: điều gì đủ sức kéo nó ra khỏi thói quen ấy? Câu trả lời là tiếng gọi của đồng loại, của tình yêu. Cấu trúc lặp lại mà kết quả khác nhau khiến người đọc nhận ra tự do không chỉ là cánh cửa mở, mà còn là có một lí do để bay đi.
Điểm hay thứ hai nằm ở người kể. Vì người kể là người cha, truyện có giọng của một người từng trải tự soi lại mình. Ông thương con chim thật lòng, vậy mà chính tình thương ấy đã giữ nó trong lồng. Nhận ra điều đó không dễ, vì chiếc lồng đẹp quá, đồ ăn thức uống đủ đầy quá. Khi đứa con còn treo lồng chờ đợi, người cha đã lặng lẽ chấp nhận sự thật. Đó là khoảnh khắc ông buông tay, thôi mong niềm vui của mình quay về, để con chim được là chim.
Trong buổi thảo luận, một bạn hỏi: vậy nuôi chim là sai sao? Truyện không trả lời bằng một khẩu hiệu. Nó chỉ cho thấy mọi sự giữ gìn, dù đẹp đến đâu, cũng cần tự hỏi mình đang giữ vì ai. Câu hỏi ấy chẳng riêng gì chuyện con chim, mà đúng với cả cách cha mẹ thương con, cách ta thương một người bạn. Câu lạc bộ kết thúc buổi đọc bằng việc mỗi người viết ra một chiếc lồng mình đang vô tình giữ.
Mẫu 9: Dưới bóng hoàng lan – một truyện tưởng như không có gì xảy ra
Sau giờ đọc Dưới bóng hoàng lan, một bạn trong nhóm em nhận xét thẳng: truyện nhạt, không có mâu thuẫn, không có biến cố, nhân vật về thăm nhà rồi lại đi, thế thôi. Nhận xét ấy không vô lí nếu ta đo truyện bằng thước của những câu chuyện nhiều kịch tính. Nhưng em nghĩ chính chỗ tưởng như không có gì xảy ra lại là nơi Thạch Lam đặt toàn bộ cái hay của truyện ngắn này.
Thanh đi làm trên tỉnh, gần hai năm mới có dịp về lại căn nhà của bà. Căn nhà, khu vườn, con mèo già, bà với mái tóc bạc, tất cả vẫn y như ngày chàng đi. Chàng gặp lại Nga, người con gái nhà bên thuở nhỏ vẫn cùng chàng nhặt hoa hoàng lan. Họ ăn bữa cơm với bà, đi dạo trong vườn. Đêm ấy chàng tiễn Nga ra cổng, khẽ cầm lấy tay cô. Hôm sau Thanh lại đi.
Thứ nhất, truyện không có biến cố vì cái Thạch Lam muốn kể không phải là sự kiện, mà là cảm giác. Khép cánh cửa gỗ sau lưng, Thanh đã thấy cả người dịu lại, mọi ồn ào bên ngoài như dừng ở bậc cửa. Chàng nằm nghe bà buông màn, giả vờ ngủ để bà được săn sóc mình. Những rung động ấy nhỏ, nhưng là thứ mà người đi xa nào cũng nhận ra. Ở đây, sự bình yên chính là nội dung.
Thứ hai, truyện có một mạch ngầm chứ không hề phẳng. Mối tình của hai người lớn dần qua những chi tiết rất khẽ: Nga bảo nhớ anh, tóc Nga thoang thoảng mùi hoàng lan, câu hỏi cô còn hay nhặt hoa rơi nữa không, và cái nắm tay ở cổng trong đêm trăng. Không ai nói ra chữ yêu. Thạch Lam để mối tình nằm ở mức chưa thành lời, đúng như thứ hương phảng phất của hoa hoàng lan, có đó mà không đậm.
Thứ ba, cây hoàng lan là chi tiết kết nối cả truyện. Nó gắn với tuổi thơ hai người, với lần trở về, và với hình ảnh cuối cùng: Thanh tin rằng mỗi mùa hoa, Nga lại cài một nhành hoàng lan lên mái tóc, giữ lấy mùi hương của ngày cũ. Một cái cây vừa là kỉ niệm, vừa là lời hẹn. Nhờ nó, kết thúc mở không gây hụt hẫng mà để lại cảm giác yên tâm: sẽ còn những lần trở về.
Vậy truyện có nhạt không? Em nghĩ nếu nhạt nghĩa là thiếu sự kiện thì đúng, còn nếu nhạt nghĩa là thiếu sức sống thì không. Sức hấp dẫn của truyện nằm ở lối văn nhẹ, câu văn mềm và khả năng biến những điều bình thường thành điều đáng giữ. Bạn em sau đó đọc lại và đổi ý một nửa: bạn vẫn thấy truyện chậm, nhưng thừa nhận đọc xong bạn muốn gọi điện cho bà. Có lẽ đó là đánh giá thật nhất dành cho Dưới bóng hoàng lan.
Mẫu 10: Giang – cái tên Hùng không bao giờ được sửa lại
Bài làm trong 90 phút, có đoạn so sánh ngắn.
Trong truyện ngắn Giang của Bảo Ninh, cô gái giới thiệu anh lính với bố mình bằng một cái tên khác: Hùng, bạn học cũ. Đó là một lời nói dối tình thế, để cha không phải khó xử khi bắt gặp một người lạ trong nhà con gái. Ai ngờ cái tên được bịa vội ấy đi theo anh suốt quãng đời còn lại, bởi chẳng bao giờ anh có dịp nói lại với Giang tên thật của mình. Chi tiết nhỏ này chứa gần như trọn vẹn điều truyện muốn nói: chiến tranh đã cắt ngang những điều tốt đẹp ngay khi chúng vừa bắt đầu.
Câu chuyện được kể từ kí ức của nhân vật tôi, một tân binh được thưởng mấy ngày phép. Lúc quay về đơn vị vào những ngày giáp Tết, anh nhảy xe ở Lương Sơn, trượt ngã, người lấm bùn, tìm đến một cái giếng để rửa. Ở đó anh gặp Giang, cô gái Hà Nội đi gánh nước. Cô dội nước, kì cọ cho anh từng ngón chân, rồi mời anh về căn nhà nhỏ của mình. Bố Giang, một trung tá, về bất ngờ; Giang nói với bố rằng đây là Hùng, người bạn cùng học ngày trước. Ông nhường lại chiếc xe đạp cho con gái, Giang đèo anh về đơn vị rồi hai người chia tay. Về sau, ra mặt trận, anh tình cờ gặp lại người cha ấy. Ông mừng rỡ, kể Giang nhắc anh mãi, hẹn lần gặp tới sẽ trao tấm ảnh con gái nhờ chuyển. Nhưng không có lần gặp tới: ông hi sinh.
Truyện viết về thời chiến nhưng không tả một trận đánh nào. Điều Bảo Ninh quan tâm là tình người ở hậu phương và thứ hạnh phúc dễ vỡ giữa những năm bom đạn. Những gì Giang dành cho anh lính rất bình thường: một gầu nước, một bữa cơm, một chuyến xe. Nhưng giữa thời bom đạn, những điều bình thường ấy trở thành báu vật, và chính vì quý mà mất đi lại càng đau.
Trước hết, cần nói đến điểm nhìn hồi tưởng. Người kể nhìn lại từ một khoảng cách xa, đã biết mọi chuyện kết thúc ra sao. Vì vậy, ngay trong những đoạn vui nhất vẫn phảng phất nỗi buồn. Người đọc biết trước cái hẹn ấy sẽ không thành, nên mọi săn sóc của Giang hiện lên vừa ấm vừa xót.
Nét thứ hai là nghệ thuật chi tiết. Đôi bàn tay Giang kì cọ bùn đất ở chân người lính là chi tiết vừa thực vừa đẹp: không lãng mạn hóa, không cần lời tỏ tình, mà tình cảm đã ở đó. Tấm ảnh chưa kịp trao là chi tiết đối xứng với cái tên chưa kịp sửa. Một bên thiếu một khuôn mặt, một bên thiếu một cái tên; hai khoảng trống ấy là vết cứa của chiến tranh lên một mối tình chưa kịp có hình hài.
Đặt Giang cạnh Dưới bóng hoàng lan của Thạch Lam sẽ thấy một điểm gặp gỡ lí thú. Cả hai truyện đều có một mối tình chưa nói thành lời, đều có một cuộc chia tay nhẹ nhàng. Nhưng ở Thạch Lam, kết thúc mở hứa hẹn những lần trở về; còn ở Bảo Ninh, kết thúc đóng sập mọi khả năng. Cùng một vẻ đẹp kín đáo của tình cảm, khung cảnh yên ả cho nó thời gian, chiến tranh thì không. So sánh ấy giúp em hiểu vì sao giọng kể của Bảo Ninh, dù kể chuyện vui, vẫn trĩu nặng.
Giang không có những trang hùng tráng. Sức mạnh của nó nằm ở chỗ khiến người đọc tiếc một điều chưa từng xảy ra. Gấp truyện lại, em cứ nghĩ đến một người đàn ông về sau vẫn mang trong kí ức cái tên Hùng, như mang một món nợ không còn ai để trả.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi hay gặp | Cách sửa |
|---|---|
| Chỉ phân tích, không đánh giá: bài liệt kê chi tiết rồi kết luận “truyện rất hay”. | Sau mỗi luận điểm, thêm một hai câu trả lời: điều này hay ở đâu, so với cách viết khác thì sao, có chỗ nào còn để ngỏ. |
| Tóm tắt dài nửa bài. | Giới hạn phần tóm tắt trong một đoạn; những sự việc cần dùng thì nhắc lại ngắn khi phân tích. |
| Viết về thần thoại như viết về truyện ngắn hiện đại (bàn tâm lí, điểm nhìn). | Với thần thoại, chú ý hiện tượng được giải thích, hình tượng thần, chi tiết kì ảo và quan niệm của người xưa. |
| Nhầm người kể với tác giả, hoặc nhầm điểm nhìn (cho rằng Mai là người xưng tôi trong Người ở bến sông Châu). | Xác định ai kể, kể theo ngôi nào, sự việc hiện qua mắt ai trước khi viết luận điểm về người kể chuyện. |
| Trích dẫn sai hoặc chép dài những đoạn văn bản. | Chỉ trích cụm ngắn đắt giá; câu không nhớ chính xác thì diễn ý, bỏ ngoặc kép. |
| Phân tích đoạn trích chương hồi mà bỏ qua bối cảnh lịch sử. | Nêu ngắn sự kiện trước và sau đoạn trích để người đọc hiểu vì sao nhân vật hành động như vậy. |
- Đề cho tự chọn: chọn truyện em đọc kĩ nhất, nhớ được ít nhất bốn năm chi tiết cụ thể, hơn là chọn truyện “nổi tiếng”.
- Bài 90 phút: mười phút lập dàn ý, mỗi luận điểm một đoạn; bài 45 phút: ba đoạn thân bài là đủ, như Mẫu 3.
- Bài dễ có nét riêng khi mở từ một chi tiết cụ thể (ngọn lửa đốt đền, cái tên Hùng) hoặc từ một cách hiểu quen thuộc cần bàn lại (Mẫu 4, Mẫu 9).
- Một đoạn so sánh ngắn với một truyện gần đề tài giúp phần đánh giá sâu hơn, nhưng đừng để nó lấn sang thành bài so sánh.
Gợi ý bài nói: Giới thiệu, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm truyện
- Rút bài viết thành ba ý lớn để nói trong khoảng năm phút: truyện kể gì, điều em thấy hay nhất, điều em băn khoăn hoặc muốn bàn lại.
- Câu đầu tiên nên là một chi tiết gây tò mò hoặc một câu hỏi cho người nghe, thay vì đọc tiểu sử tác giả.
- Đọc to một hai câu trích ngắn, dừng lại nói vì sao chọn câu ấy.
- Kết bằng một câu hỏi mời các bạn trao đổi, như cách Mẫu 9 bắt đầu từ ý kiến của một bạn trong nhóm.
Lời mở đầu tham khảo: Thưa cô và các bạn, có một cái tên trong truyện Giang mà nhân vật chính mang theo suốt đời dù đó không phải tên thật của anh. Hôm nay em muốn kể cho các bạn nghe vì sao một cái tên bịa vội lại khiến em nhớ truyện ngắn này lâu như vậy.
Chọn mẫu nào để luyện viết?
Nếu học theo sách Kết nối tri thức, hãy đọc trước Mẫu 1 và Mẫu 2, hai truyện của Bài 1; khi đến Bài 7 tập hai, đọc tiếp Mẫu 7, Mẫu 8, Mẫu 9. Sách Chân trời sáng tạo: Mẫu 3 và Mẫu 4 cho đề truyện kể dân gian ở Bài 1, Mẫu 10 cho đề tác phẩm tự sự ở Bài 8. Sách Cánh diều: Mẫu 5 viết đúng nhân vật dì Mây mà phần thực hành gợi ý, Mẫu 6 cho đoạn trích Hoàng Lê nhất thống chí. Muốn tập phần đánh giá, hãy đọc kĩ cách Mẫu 4 và Mẫu 9 bàn lại một ý kiến có sẵn.
Xem thêm:
- Soạn bài Chữ người tử tù – Ngữ văn 10 Kết nối tri thức
- Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân): tác giả, tác phẩm
- Phân tích nhân vật viên quản ngục trong Chữ người tử tù
- Soạn bài Tản Viên từ Phán sự lục – Kết nối tri thức
- Soạn bài Truyện về các vị thần sáng tạo thế giới
- Soạn bài Thần Trụ Trời – Chân trời sáng tạo
- Soạn bài Prô-mê-tê và loài người
- Cuộc tu bổ lại các giống vật (Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo)
- Soạn bài Đi san mặt đất
- Soạn bài Người ở bến sông Châu – Cánh diều
- Soạn bài Kiêu binh nổi loạn – Cánh diều
- Soạn bài Một chuyện đùa nho nhỏ (Sê-khốp)
- Soạn bài Con khướu sổ lồng – Kết nối tri thức
- Soạn bài Dưới bóng hoàng lan
- Soạn bài Người cầm quyền khôi phục uy quyền (Bài 7, Kết nối tri thức)
- Soạn bài Giang (Bảo Ninh) – Chân trời sáng tạo
- Soạn bài Đất rừng phương Nam (Bài 8, Chân trời sáng tạo)
- Nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ (văn mẫu lớp 10)
- Phân tích một tác phẩm truyện (văn mẫu lớp 9)
- Phân tích một đoạn trích tác phẩm văn học (văn mẫu lớp 9)