Soạn bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi giúp em trả lời đầy đủ, ngắn gọn các câu hỏi trong Ngữ văn 10 Cánh diều (tập 2, Bài 7 “Thơ tự do”) và phần đọc kết nối chủ điểm trong Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo (tập 2, Bài 9 “Khát vọng độc lập và tự do”). Lưu ý: đây là bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi (1948–1955), không phải đoạn trích Đất Nước trong trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm.
Những điều cần biết trước khi soạn bài Đất nước
Bài thơ được Nguyễn Đình Thi viết trong nhiều năm, từ 1948 đến 1955, trên cơ sở hai bài thơ trước đó là Sáng mát trong như sáng năm xưa (1948) và Đêm mít tinh (1949), sau đó in trong tập Người chiến sĩ. Tác phẩm thuộc thể thơ tự do: số chữ trong mỗi dòng dài ngắn khác nhau, nhịp thơ biến đổi theo mạch cảm xúc từ hoài niệm, vui sướng đến căm hờn và tự hào.

- Nhân vật trữ tình: ban đầu xưng “tôi”, sau chuyển sang “ta”, “chúng ta”.
- Đối tượng cảm xúc: đất nước Việt Nam qua hai mùa thu và qua những năm kháng chiến chống Pháp.
- Bố cục: khổ 1–4 (mùa thu xưa, mùa thu nay và niềm tự hào về đất nước tự do); khổ 5–11 (đất nước đau thương, căm hờn và quật khởi).
Soạn bài Đất nước – Ngữ văn 10 Cánh diều
Trong sách Cánh diều, Đất nước là văn bản đọc thứ nhất của Bài 7 (tập 2, trang 70–73), học cùng Lính đảo hát tình ca trên đảo để rèn kĩ năng đọc hiểu thơ tự do.
Chuẩn bị (trang 70)
Sách giáo khoa yêu cầu em xem lại phần Kiến thức ngữ văn về thơ tự do, đọc trước bài thơ và tìm hiểu về tác giả, hoàn cảnh ra đời. Khi đọc, cần chú ý bốn vấn đề sau.
Câu 1: Nhân vật trữ tình là ai và bộc lộ cảm xúc về điều gì?
Trả lời:
Nhân vật trữ tình là nhà thơ – một người con của Hà Nội đã rời thành phố đi kháng chiến. Ban đầu là cái “tôi” riêng với nỗi nhớ mùa thu Hà Nội, về sau hòa vào cái “ta” chung của cả dân tộc. Cảm xúc hướng về đất nước: nhớ thương mùa thu xưa, vui sướng trước mùa thu tự do, xót xa trước cảnh đất nước bị giày xéo, căm giận kẻ thù và tự hào về sức vươn dậy của nhân dân.
Câu 2: Bài thơ có những hình ảnh, từ ngữ, biện pháp tu từ nào đặc sắc?
Trả lời:
- Hình ảnh: sáng mát trong, hương cốm mới, phố dài xao xác hơi may, thềm nắng lá rơi; rừng tre phấp phới, dòng sông đỏ nặng phù sa; cánh đồng quê chảy máu, dây thép gai, bát cơm chan nước mắt; người áo vải, nước vỡ bờ, rũ bùn đứng dậy.
- Biện pháp tu từ: điệp ngữ (“đây là của chúng ta”, “những…”), liệt kê, nhân hóa (“trời thu thay áo mới”, “nói cười thiết tha”), đối lập (xiềng xích – trời đầy chim, đất đầy hoa), so sánh (“như nước vỡ bờ”), ẩn dụ.
- Tác dụng: làm hiện lên một đất nước vừa thơ mộng vừa đau thương, anh dũng; giúp cảm xúc của tác giả đi từ bâng khuâng, lưu luyến sang hân hoan, tự hào rồi sôi sục, hào hùng.
Câu 3: Cảm hứng chủ đạo và chủ đề của bài thơ là gì?
Trả lời:
Cảm hứng chủ đạo là tình yêu và niềm tự hào về đất nước trong kháng chiến, mang màu sắc sử thi kết hợp lãng mạn. Chủ đề: hình tượng đất nước Việt Nam tươi đẹp, đau thương mà kiên cường, từ trong máu lửa đã đứng lên giành tự do.
Câu 4: Em biết những bài thơ nào viết về đất nước?
Trả lời:
Có thể kể: Việt Bắc (Tố Hữu), Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm), đoạn trích Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm), Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải)… Những bài thơ ấy cho em thấy đất nước không phải điều gì xa xôi mà gắn với dòng sông, cánh đồng, câu hát, với sự hi sinh của bao thế hệ; từ đó em thêm tự hào và muốn sống có trách nhiệm hơn với quê hương.
Đọc hiểu: câu hỏi trong khi đọc (trang 70–72)
Câu 1: Khổ 1, 2 – nhân vật trữ tình hiện lên qua từ ngữ nào? Hình dung Hà Nội và “người ra đi” (trang 70)
Trả lời:
- Nhân vật trữ tình hiện lên trực tiếp qua đại từ “tôi” và động từ “nhớ” trong câu “Tôi nhớ những ngày thu đã xa”.
- Hà Nội trong hoài niệm: buổi sáng “chớm lạnh”, những phố dài “xao xác hơi may”, thềm nhà đầy nắng và lá rụng – một mùa thu đẹp nhưng vắng vẻ, buồn.
- “Người ra đi” là những thanh niên Hà Nội rời thành phố để theo kháng chiến: bước đi dứt khoát “đầu không ngoảnh lại”, nhưng phía sau là cả một khoảng trời thương nhớ.
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
Câu 2: Khổ 3 – độ dài dòng thơ, phép điệp, liệt kê, vần, giọng điệu; bức tranh “mùa thu nay” (trang 71)
Trả lời:
- Dòng thơ dài ngắn đan xen (có dòng 5 chữ, có dòng 6, 7 chữ), tạo nhịp như những bước chân, tiếng reo vui.
- Phép điệp “đây là của chúng ta”, “những…” kết hợp liệt kê trời xanh, núi rừng, cánh đồng, ngả đường, dòng sông; vần “a” mở (ta – tha – sa) làm giọng thơ vang, sảng khoái.
- Bức tranh “mùa thu nay”: núi đồi, rừng tre phấp phới, trời thu “thay áo mới”, trong biếc “nói cười” – thiên nhiên như cũng hân hoan cùng con người. Nhân vật trữ tình “đứng vui nghe”, tự hào khẳng định quyền làm chủ đất nước.
Câu 3: Chú ý những cảm nhận của tác giả về đất nước trong chiến tranh (trang 71)
Trả lời:
Tác giả cảm nhận đất nước vừa đau thương vừa kiên cường. Đau thương ở những cánh đồng “chảy máu”, “dây thép gai đâm nát trời chiều”, bát cơm “chan đầy nước mắt”; kiên cường ở những đêm hành quân “nung nấu”, ở nét mặt quê hương “ngời lên” từ chiến đấu và tiếng “căm hờn” bật lên từ gốc lúa, bờ tre.
Câu 4: Từ khổ 5 – 10, những dòng thơ nào thể hiện đất nước đau thương, căm hờn và đất nước quật cường, anh dũng? (trang 71)
Trả lời:
- Đất nước đau thương, căm hờn: “Ôi những cánh đồng quê chảy máu / Dây thép gai đâm nát trời chiều”; “Bát cơm chan đầy nước mắt / Bay còn giằng khỏi miệng ta”; “Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu / Đã bật lên những tiếng căm hờn”.
- Đất nước quật cường, anh dũng: “Xiềng xích chúng bay không khoá được / Trời đầy chim và đất đầy hoa”; “Ôm đất nước những người áo vải / Đã đứng lên thành những anh hùng”; “Mỗi bước đường mỗi bước hy sinh”.
Câu 5: Lưu ý thông tin về thời gian sáng tác (trang 72)
Trả lời:
Bài thơ được viết trong khoảng 1948–1955, gần trùng với chín năm kháng chiến chống Pháp. Phần đầu lấy từ hai bài thơ viết năm 1948 và 1949, phần sau được bổ sung đến năm 1955. Nhờ vậy, bài thơ ghi lại cả chặng đường cảm xúc của nhà thơ và của dân tộc: từ lúc rời Hà Nội, những ngày đầu làm chủ vùng tự do, qua những năm chiến đấu gian khổ đến niềm tin chiến thắng.
Đọc hiểu: câu hỏi sau khi đọc (trang 72–73)
Câu 1: Bài thơ chia làm mấy phần? Cảm xúc thay đổi thế nào? Cảm hứng chủ đạo là gì? (trang 72)
Trả lời:
Có thể chia bài thơ làm hai phần lớn:
- Phần 1 (khổ 1–4, từ đầu đến “Những buổi ngày xưa vọng nói về”): mùa thu Hà Nội trong hoài niệm, mùa thu tự do ở chiến khu và suy tư về truyền thống đất nước. Cảm xúc đi từ bâng khuâng, lưu luyến sang vui sướng, tự hào.
- Phần 2 (khổ 5–11, phần còn lại): đất nước đau thương trong chiến tranh và sự vùng lên của nhân dân. Cảm xúc chuyển sang xót xa, căm giận rồi dâng trào niềm tin, tự hào khi đất nước “rũ bùn đứng dậy”.
Nếu chia kĩ hơn, phần 1 có thể tách thành “mùa thu xưa” (khổ 1–2) và “mùa thu nay” (khổ 3–4). Cảm hứng chủ đạo: tình yêu tha thiết và niềm tự hào về một đất nước đẹp, đau thương mà bất khuất.
Câu 2: Mùa thu Hà Nội trong 7 dòng đầu hiện lên như thế nào? Hình ảnh ấn tượng nhất? (trang 72)
Trả lời:
Mùa thu Hà Nội hiện lên bằng những nét rất riêng: buổi sáng “mát trong”, gió thu mang hương cốm mới, cái lạnh chớm sang, hơi may xao xác trên phố dài, thềm nhà ngập nắng và lá rơi. Đó là vẻ đẹp thanh lịch, dịu dàng nhưng phảng phất buồn vì gắn với cảnh chia li.
Hình ảnh em ấn tượng nhất là “Người ra đi đầu không ngoảnh lại / Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”. Hai dòng thơ đặt cạnh nhau một dáng đi quyết liệt và một khung cảnh đầy lưu luyến. Người ra đi không quay đầu không phải vì hết thương, mà vì biết mình phải đi để giữ lấy Hà Nội; càng dứt khoát, nỗi nhớ để lại phía sau càng sâu.
Câu 3: Phân tích cảm xúc của nhân vật trữ tình trong “mùa thu nay”. Vì sao mùa thu ở hai khổ đầu và khổ 3 khác nhau? (trang 72)
Trả lời:
- Cảm xúc trong “mùa thu nay”: câu mở “Mùa thu nay khác rồi” như một lời reo. Nhân vật trữ tình “đứng vui nghe giữa núi đồi”, thấy gió thổi rừng tre phấp phới, trời thu thay áo mới. Niềm vui ấy lớn dần thành tự hào qua điệp ngữ “đây là của chúng ta”: trời xanh, núi rừng, cánh đồng, dòng sông… tất cả đã thuộc về người Việt.
- Sự khác nhau: hai khổ đầu là mùa thu trong kí ức, gắn với Hà Nội thời điểm phải rời đi kháng chiến nên man mác buồn; khổ 3 là mùa thu hiện tại ở chiến khu – vùng đất đã được làm chủ (bài thơ gốc viết năm 1948, sau chiến thắng Việt Bắc thu – đông 1947), nên tươi sáng, rộn ràng. Sự khác biệt đến từ hoàn cảnh lịch sử và tâm thế của con người: từ chia li sang làm chủ.
Câu 4: Những dòng thơ nào thể hiện ấn tượng nhất đất nước đau thương trong chiến tranh? Cách diễn tả có gì độc đáo? (trang 72)
Trả lời:
Bát cơm chan đầy nước mắt
Bay còn giằng khỏi miệng ta
Thằng giặc Tây, thằng chúa đất
Đứa đè cổ, đứa lột da…
Cùng với hình ảnh “cánh đồng quê chảy máu”, “dây thép gai đâm nát trời chiều”, khổ thơ trên cho thấy nỗi khổ tận cùng của người dân dưới hai tầng áp bức. Nét độc đáo:
- Dùng hình ảnh cụ thể, đời thường (bát cơm, nước mắt) để nói về nỗi đau lớn của cả dân tộc.
- Nhân hóa, cường điệu: cánh đồng “chảy máu”, dây thép gai “đâm nát” cả bầu trời.
- Câu thơ ngắn, nhịp dồn, lời lẽ gay gắt (“bay”, “thằng”, “đứa”) bộc lộ trực tiếp sự căm giận.
- Nỗi đau không dẫn tới bi lụy mà chuyển hóa thành sức mạnh “căm hờn”, chuẩn bị cho sự vùng dậy ở cuối bài.
Câu 5: Cảm nhận về hình tượng đất nước trong khổ thơ cuối (trang 72)
Trả lời:
Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng loà.
Khổ thơ là đỉnh cao cảm xúc của bài. Tiếng súng “rung trời” mang cơn giận của cả dân tộc; hình ảnh so sánh “như nước vỡ bờ” gợi sức mạnh không gì ngăn nổi của nhân dân. Hai dòng cuối dựng lên hình tượng đất nước như một con người khổng lồ vừa bước ra từ máu lửa, rũ sạch bùn nhơ nô lệ để đứng thẳng và tỏa sáng. Đối lập “bùn” – “sáng loà” cho thấy bước chuyển từ đau thương sang vinh quang. Hình tượng mang vẻ đẹp sử thi, thể hiện niềm tin mãnh liệt của nhà thơ vào chiến thắng.
Câu 6: Việc nhân vật trữ tình chuyển từ xưng “tôi” sang “ta” (chúng ta) có ý nghĩa gì? (trang 72)
Trả lời:
- “Tôi” xuất hiện ở khổ đầu, gắn với kỉ niệm riêng về mùa thu Hà Nội – cảm xúc cá nhân, riêng tư.
- Từ khổ 3, “ta”, “chúng ta” thay thế: niềm vui làm chủ, nỗi đau và lòng căm giận là của chung cả dân tộc.
- Sự chuyển đổi cho thấy cái tôi cá nhân đã hòa vào cái ta cộng đồng; tình yêu quê hương riêng mở rộng thành tình yêu đất nước, làm giọng thơ trở nên hào hùng, mang tính sử thi.
Câu 7: Viết đoạn văn (8 – 10 dòng) về lời nhắn nhủ trong tiếng vọng “rì rầm” (trang 73)
Đề bài: Từ hai dòng thơ “Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất / Những buổi ngày xưa vọng nói về”, em cảm nhận được lời nhắn nhủ gì trong tiếng vọng “rì rầm” ấy?
Trả lời (đoạn văn tham khảo):
Hai dòng thơ “Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất / Những buổi ngày xưa vọng nói về” khiến em hình dung đất nước như một cơ thể sống có tiếng nói riêng. Tiếng “rì rầm” không ồn ào mà bền bỉ, đều đặn, vọng lên từ lòng đất – nơi ông cha đã nằm xuống qua bao thế hệ. “Những buổi ngày xưa” là lịch sử dựng nước và giữ nước; nó không mất đi mà vẫn “vọng nói về” với hiện tại. Em nghe trong tiếng vọng ấy một lời nhắn nhủ: hãy nhớ rằng đất nước hôm nay được làm nên từ mồ hôi và máu xương của người đi trước. Những người đã khuất “chưa bao giờ khuất” vì họ sống trong ý chí của con cháu. Lời nhắn ấy cũng là lời giao phó: thế hệ trẻ phải tiếp nối, giữ gìn và làm cho đất nước tốt đẹp hơn. Đọc hai câu thơ, em thấy mình cần sống có trách nhiệm hơn với từng tấc đất quê hương.
Soạn bài Đất nước – Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo
Sách Chân trời sáng tạo đưa bài thơ vào phần Đọc kết nối chủ điểm của Bài 9 (tập 2, trang 99–100), học cùng Hịch tướng sĩ, Nam quốc sơn hà – bài thơ Thần khẳng định chân lí độc lập của đất nước. Văn bản trong sách là đoạn trích từ đầu đến dòng “Những buổi ngày xưa vọng nói về”.
Trả lời câu hỏi sau khi đọc (trang 100)
Câu 1: Không gian “những ngày thu đã xa” được tái hiện qua những hình ảnh nào? Hình dung, tưởng tượng của em
Trả lời:
- Hình ảnh: buổi sáng “chớm lạnh trong lòng Hà Nội”, “những phố dài xao xác hơi may”, “người ra đi đầu không ngoảnh lại”, “thềm nắng lá rơi đầy”.
- Hình dung của em: một buổi sáng đầu thu, gió heo may lùa qua những con phố vắng, lá vàng rơi trên bậc thềm còn vương nắng. Giữa khung cảnh ấy, một người thanh niên khoác ba lô lặng lẽ bước đi. Không gian đẹp mà trống trải, gợi nỗi buồn chia li và cả quyết tâm lên đường.
Câu 2: “Mùa thu nay” khác gì với “những ngày thu đã xa”? Điều gì làm nên sự khác biệt?
Trả lời:
| Tiêu chí | Những ngày thu đã xa | Mùa thu nay |
| Không gian | Phố phường Hà Nội, thềm nhà | Núi đồi, rừng tre, cánh đồng, dòng sông |
| Sắc thái | Chớm lạnh, xao xác, vắng vẻ | Phấp phới, trong biếc, “nói cười thiết tha” |
| Tâm trạng | Lưu luyến, buồn khi chia li | Vui sướng, tự hào khi được làm chủ |
Sự khác biệt đến từ hoàn cảnh đất nước: mùa thu xưa là lúc phải rời Hà Nội đi kháng chiến; mùa thu nay là mùa thu trên vùng đất tự do, con người đã được làm chủ trời xanh, núi rừng của mình.
Câu 3: Xác định và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ trong đoạn “Trời xanh đây là của chúng ta…”
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Trả lời:
- Biện pháp tu từ: điệp ngữ, điệp cấu trúc (“… đây là của chúng ta”, “Những…”) kết hợp liệt kê (trời xanh, núi rừng, cánh đồng, ngả đường, dòng sông).
- Hiệu quả: nhấn mạnh quyền làm chủ thiêng liêng của nhân dân với từng phần lãnh thổ; tạo nhịp thơ dồn dập, giọng điệu hào sảng như lời tuyên bố; mở ra không gian đất nước rộng lớn, giàu đẹp và bộc lộ niềm tự hào tràn đầy của nhân vật trữ tình.
Câu 4: Tiếng của “những buổi ngày xưa vọng nói về” gửi gắm thông điệp gì?
Trả lời:
Bốn dòng cuối đoạn trích khẳng định đất nước là của “những người chưa bao giờ khuất”. Tiếng “rì rầm” vọng lên từ lòng đất là tiếng nói của lịch sử, của cha ông đã hi sinh. Thông điệp gửi đến chúng ta: hãy biết ơn và ghi nhớ công lao của các thế hệ đi trước; sức mạnh của dân tộc hôm nay bắt nguồn từ truyền thống bất khuất ấy, và mỗi người có trách nhiệm tiếp nối, giữ gìn độc lập, tự do.
Tổng kết nội dung và nghệ thuật bài thơ Đất nước
- Nội dung: bài thơ khắc họa đất nước Việt Nam trong chiều dài những năm kháng chiến chống Pháp – từ mùa thu Hà Nội hoài niệm, mùa thu tự do đến đất nước đau thương mà quật cường; qua đó bộc lộ tình yêu, niềm tự hào và niềm tin chiến thắng của nhà thơ.
- Nghệ thuật: thể thơ tự do linh hoạt; hình ảnh vừa cụ thể vừa khái quát, giàu tính biểu tượng; điệp ngữ, liệt kê, nhân hóa, đối lập, so sánh; giọng điệu chuyển đổi từ trầm lắng sang sôi nổi, hào hùng; kết hợp cảm hứng sử thi và lãng mạn.
Để tìm hiểu thêm về phong cách thơ của tác giả, em có thể đọc bài tuyển tập tác phẩm Nguyễn Đình Thi và tác giả Nguyễn Đình Thi: cuộc đời và sự nghiệp.
Kết luận
Khi soạn bài Đất nước, em cần bám vào mạch cảm xúc của bài thơ: thu xưa – thu nay – đất nước đau thương – đất nước vùng lên, đồng thời chú ý sự chuyển đổi từ “tôi” sang “ta”. Nắm vững các ý này, em có thể trả lời tốt câu hỏi của cả hai bộ sách và viết đoạn văn cảm nhận về bài thơ.
Xem thêm: