Soạn bài Kiêu binh nổi loạn (trích Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái) theo sách Ngữ văn 10 Cánh diều tập 2, Bài 6 – Tiểu thuyết và truyện ngắn. Bài soạn trả lời phần Chuẩn bị (trang 35), 11 câu hỏi trong khi đọc (trang 36–41) và 6 câu hỏi sau khi đọc (trang 42), mỗi ý đều có dẫn chứng ngắn từ văn bản.
Văn bản trong sách dùng bản dịch của Nguyễn Đức Vân và Kiều Thu Hoạch (NXB Văn học, 1964). Bản dịch này còn được bảo hộ nên bài soạn chỉ trích những câu ngắn cần cho việc trả lời; em nên mở SGK đọc toàn văn trước khi xem lời giải.
Chuẩn bị đọc Kiêu binh nổi loạn (trang 35)
Sách yêu cầu em đọc lại phần Kiến thức ngữ văn về tiểu thuyết chương hồi, tìm hiểu nhóm tác giả Ngô gia văn phái và đọc đoạn giới thiệu bối cảnh. Theo phần giới thiệu, Hoàng Lê nhất thống chí viết bằng chữ Hán theo lối chương hồi, phản ánh khoảng ba mươi năm lịch sử từ khi Trịnh Sâm lên ngôi chúa (1768) đến khi Gia Long lên ngôi vua (1802). Đoạn trích thuộc hồi thứ hai, kể việc kiêu binh nổi loạn, giết Quận Huy Hoàng Đình Bảo, phế Trịnh Cán và lập Trịnh Tông lên ngôi chúa.

Nhân vật và sự kiện nổi bật, có thật hay hư cấu?
Nhân vật nổi bật gồm thế tử Trịnh Tông, đầu bếp Dự Vũ, gia thần Gia Thọ, viên biện lại Bằng Vũ, Quận Huy Hoàng Đình Bảo, Quận Châu và đám kiêu binh. Sự kiện chính là cuộc nổi loạn của kiêu binh: giết anh em Quận Huy, đưa Trịnh Tông lên ngôi rồi phá phách kinh thành. Đây phần lớn là người thật, việc thật của phủ chúa Trịnh cuối thế kỉ XVIII; tác giả chỉ tô đậm bằng lời thoại, chi tiết miêu tả để câu chuyện sống động chứ không bịa ra sự kiện.
Đề tài, chủ đề và nét nghệ thuật đặc sắc
Đề tài là lịch sử phủ chúa Trịnh trong giai đoạn suy tàn. Chủ đề: phơi bày sự thối nát của tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh, nơi cha con, anh em tranh giành quyền lực, và sự lộng hành của kiêu binh khi kỉ cương đã mất. Về nghệ thuật, đoạn trích kể theo trình tự thời gian, chép sự việc cụ thể như lối viết sử, lời kể khách quan nhưng thấp thoáng giọng mỉa mai; nhân vật hiện lên qua lời nói, hành động; nhiều hình ảnh so sánh gây ấn tượng.
Đoạn trích gợi cho em điều gì?
Em hiểu thêm một giai đoạn rối ren của lịch sử dân tộc và nhận ra rằng khi người cầm quyền chỉ lo tranh giành ngôi vị, sức mạnh của quân đội có thể quay lại làm loạn chính triều đình. Đọc đoạn trích, em vừa thấy buồn cười trước những cảnh trớ trêu, vừa thấy xót xa cho đất nước trong cảnh loạn lạc.
Trả lời câu hỏi trong khi đọc (trang 36–41)
Câu 1: Người kể chuyện là ai? (trang 36)
Trả lời: Người kể chuyện giấu mình, kể ở ngôi thứ ba, gọi nhân vật bằng tên hoặc tước hiệu (thế tử, Quận Huy, Bằng Vũ…). Đó là người kể chuyện toàn tri: biết lai lịch, tính nết từng người, biết cả những cuộc bàn bạc kín. Có thể xem người kể chính là nhóm tác giả Ngô gia văn phái – những người chứng kiến hoặc nắm rất rõ các biến cố ở kinh thành.
Câu 2: Người kể chuyện nhận xét gì về đầu bếp, gia thần của Trịnh Tông? (trang 36)
Trả lời:
- Đầu bếp Dự Vũ: “vốn là người cơ trí, nói năng rành mạch”.
- Gia thần Gia Thọ: người làng Bát Tràng, huyện Gia Lâm, “cũng là kẻ tinh khôn”.
Cả hai đều là người lanh lợi, nhiều mưu mẹo, biết nắm bắt lòng người. Chỉ bằng vài chữ nhận xét, người kể đã cho thấy quanh thế tử toàn là những kẻ sẵn sàng xúi giục việc lớn.
Câu 3: Chú ý động cơ và thái độ của đầu bếp, thân quân (trang 37)
Trả lời:
- Đầu bếp Dự Vũ: muốn thế tử giành lại ngôi nên báo tin quân lính bất bình: “Nhà chúa bỏ con cả, lập con út, thiên hạ đều căm ghét”. Thái độ là dò ý, khơi gợi, đổ thêm dầu vào lửa.
- Bọn biện lại trong thân quân: được mời ăn uống, được hứa sẽ có “sách son, khoán sắt lưu truyền muôn đời”. Họ vốn đã hậm hực với Quận Huy nên nhận lời ngay, chỉ e ngại nếu có biến sẽ bị quở trách. Khi biết thế tử đã ngỏ ý, họ cho rằng việc này không khó.
Động cơ của họ vừa là bất bình với việc phế lập, vừa là mong được ban thưởng; thái độ ban đầu dè dặt, sau thì hăng hái.
Câu 4: Ai là người kể chuyện về nhân vật Bằng Vũ? (trang 37)
Trả lời: Vẫn là người kể chuyện ở ngôi thứ ba. Người kể dừng mạch truyện để giới thiệu lai lịch Bằng Vũ: người huyện Thanh Chương (Nghệ An), con cháu công thần đã sa sút, được người làng thuê đi lính thay, dáng “thấp bé, thanh nhã như học trò”, ở kinh thường làm mướn đơn kiện. Lời giới thiệu có chút mỉa mai: kẻ cầm đầu cuộc nổi loạn làm rung chuyển phủ chúa hóa ra chỉ là một viên biện lại nhỏ bé, nổi tiếng điêu toa.
Câu 5: Chú ý lời nói, thái độ và hành động của Quận Huy (trang 38)
Trả lời:
- Lời nói: biết trước tai họa, ông ta nói thẳng giữa triều: “Ngày mai có biến, tôi sẽ chết. Nhưng tôi chết cũng phải có dăm ba mạng đi theo.”
- Thái độ: chủ quan, coi thường; gạt lời người nhà khuyên bế tân chúa đi trốn hay đưa nghĩa sĩ vào phủ, cho rằng “thói đời vẫn hay phao nhảm”.
- Hành động: đưa ra tờ khải tố cáo Quận Viêm mưu phản; đêm ấy vẫn ngủ trong phủ với vài người hầu, “không hề phòng bị gì hết”.
Quận Huy đã đoán được biến loạn nhưng quá tin vào uy quyền của mình, nên không chuẩn bị gì – mầm mống của thất bại.
Câu 6: Khí thế của kiêu binh được miêu tả như thế nào? (trang 39)
Trả lời: Bằng Vũ vào phủ “đánh luôn ba hồi, chín tiếng trống”. Nghe hiệu trống, quân lính “người nào cũng nhảy nhót hăng hái, cùng cầm binh khí xô lấn nhau mà vào trong phủ”. Cửa các đóng, họ đứng ngoài “hò reo, quát tháo long trời lở đất”. Khí thế ấy mạnh mẽ, sôi sục nhưng hỗn loạn, tự phát, không có kỉ luật của một đội quân.
Câu 7: Hành động và thái độ của Quận Châu trước đám kiêu binh (trang 39)
Trả lời: Lúc đầu, Quận Châu đứng sau bức tường cửa các, lên giọng dạy bảo: “Làm lính phải biết lễ phép.” rồi hứa nếu có gì muốn nói thì viết khải để ông trình bày giúp. Nhưng khi quân lính thét lên dọa trèo tường vào, “thì xác cậu sẽ nát như cám!”, ông ta lập tức “run sợ, phải mở cửa”. Thái độ từ trịch thượng chuyển ngay sang khiếp nhược cho thấy kẻ giữ chức binh phiên hoàn toàn không còn uy với quân lính.
Câu 8: Tình thế bất lực, thảm hại, bi đát của Quận Huy (trang 40)
Trả lời: Các chi tiết tiêu biểu:
- Cưỡi voi ra sân phủ quát nạt, quân lính thoạt đầu ngồi sụp xuống nhưng chỉ một lát lại nhao nhao kéo ập vào.
- Voi bị đâm chém, ném gạch ngói, phải “co vòi mà gầm, không dám húc nữa”.
- Giương cung thì dây cung đứt, nạp súng thì “mồi lửa tịt không cháy”; viên quản tượng bị lôi xuống chém.
- Voi bị chặn phía sau không nhúc nhích được, Quận Huy bị móc câu liêm kéo xuống, đánh chết ngay tại chỗ; em ruột ông ta cũng bị giết, xác vứt xuống hồ Thủy Quân.
Một kẻ quyền nghiêng thiên hạ chết thảm dưới tay đám lính – sự bất lực đến mức bi hài.
Câu 9: Những hình ảnh so sánh trong lời kể có tác dụng gì? (trang 40)
Trả lời: Có hai hình ảnh so sánh đáng chú ý: thế tử ngồi trên chiếc mâm bị nâng lên hạ xuống “y như người ta giỡn quả cầu hoặc rước pho tượng Phật”, và dân chúng kéo đến xem khiến “sân phủ đông như họp chợ”. Các so sánh giúp người đọc hình dung rõ cảnh tượng, đồng thời tạo giọng mỉa mai: lễ lên ngôi chúa – việc hệ trọng nhất của một triều đình – lại nhốn nháo như trò chơi, như phiên chợ.
Câu 10: Kiêu binh lộng hành, bức ép chúa, trả thù các đại thần ra sao? (trang 41)
Trả lời: Giết xong anh em Quận Huy mà “cơn giận vẫn chưa hả”, kiêu binh kéo đến quỳ xin chúa cho phá dinh Quận Huy; chúa ưng lời ngay. Chỉ chốc lát nhà cửa Quận Huy bị phá sạch, “một mảnh ngói cũng không còn”. Sau đó họ phá nhà hàng loạt, lùng bắt giết những người thuộc bè đảng Thị Huệ, Quận Huy, những người dự việc tố giác vụ án năm Canh Tý và cả những viên quan hầu mà họ ghét. Kinh thành náo động luôn mấy ngày. Chúa mới lên ngôi đã phải chiều theo đòi hỏi của lính.
Câu 11: Chi tiết nào cho thấy Trịnh Tông bất lực trước kiêu binh? (trang 41)
Trả lời: “Tông phải hạ chỉ ngăn cấm mà họ vẫn không thôi.” Cuối cùng chúa chỉ dám sai người lén đến chỗ họ tụ họp, “bắt phứa một người thường dân ở gần đó đem chém để ra oai”. Kết quả việc phá nhà tạm ngừng nhưng việc lùng bắt người để giết vẫn chưa dứt. Chúa không dám động đến kiêu binh mà phải giết người vô tội để dọa – một ông chúa bù nhìn.
Trả lời câu hỏi sau khi đọc (trang 42)
Câu 1: Sự kiện chính và mâu thuẫn trong văn bản (trang 42)
Hãy nêu những sự kiện chính được kể trong văn bản Kiêu binh nổi loạn và cho biết mâu thuẫn ở đây là gì?
Trả lời:
Sự kiện chính:
- Nghe Dự Vũ, Gia Thọ bàn, thế tử Trịnh Tông mời bọn biện lại thân quân ăn uống, kể tội họ Đặng và Quận Huy, hứa ban thưởng.
- Quân lính họp ở chùa Khán Sơn; Bằng Vũ bày kế đánh trống làm hiệu rồi kéo vào phủ; cả bọn uống máu ăn thề.
- Quận Huy biết trước nhưng không đề phòng; sáng hôm sau Bằng Vũ đánh trống, kiêu binh kéo vào phủ.
- Quận Châu sợ hãi mở cửa; Quận Huy cưỡi voi ra dẹp nhưng bị giết; em ruột ông ta cũng bị giết.
- Kiêu binh rước Trịnh Tông lên ngôi chúa, rồi phá dinh Quận Huy, lùng giết người, làm náo động kinh thành; chúa mới bất lực.
Mâu thuẫn: mâu thuẫn trong nội bộ phủ chúa giữa phe Trịnh Tông (con trưởng bị phế) với phe Đặng Thị Huệ – Quận Huy (lập con út Trịnh Cán); gắn với đó là mâu thuẫn giữa đám kiêu binh bất bình với phe nắm quyền. Mâu thuẫn bùng nổ thành bạo loạn, phơi bày sự mục ruỗng của tập đoàn phong kiến họ Trịnh.
Câu 2: Hành động của đám kiêu binh và nhận xét (trang 42)
Tìm những chi tiết miêu tả hành động của đám kiêu binh. Em có nhận xét gì về những hành động ấy?
Trả lời:
| Thời điểm | Hành động của kiêu binh |
|---|---|
| Trước khi nổi loạn | Ngầm báo cho nhau, họp ở chùa Khán Sơn, bầu Bằng Vũ làm chủ mưu, uống máu ăn thề. |
| Khi nghe hiệu trống | Nhảy nhót hăng hái, cầm binh khí xô lấn vào phủ; bị đóng cửa thì hò reo, quát tháo; dọa Quận Châu phải mở cửa. |
| Trước Quận Huy | Thoạt đầu khiếp sợ, ngồi sụp xuống; rồi nhao nhao đứng dậy, đâm chém, ném gạch ngói, lôi quản tượng xuống chém, móc cổ Quận Huy kéo xuống đánh chết; đập chết em Quận Huy. |
| Sau khi thắng | Reo hò như sấm, kiệu thế tử lên phủ đường, đòi phá dinh Quận Huy, phá nhà, lùng giết người suốt mấy ngày. |
Nhận xét: Hành động của kiêu binh hăng hái, quyết liệt, có sức mạnh làm thay đổi cả ngôi chúa; nhưng đó là sức mạnh tự phát, hung hãn, chỉ nhằm trả thù cho hả giận, không có kỉ cương. Kiêu binh vừa là công cụ trong cuộc tranh giành quyền lực, vừa là mối họa cho chính triều đình và dân chúng.
Câu 3: Chi tiết cho thấy sự bất lực và thất bại của phe Quận Huy (trang 42)
Trả lời:
- Quận Huy biết trước biến loạn nhưng chủ quan, gạt mọi lời khuyên, không phòng bị.
- Bắt được Bằng Vũ nhưng nghe Thủy trung hầu, không chém mà giam lại.
- Quận Châu – người giữ chức binh phiên – bị dọa một câu đã mở cửa.
- Quận Huy cưỡi voi ra quát nạt nhưng cung đứt dây, súng tịt ngòi, voi không dám húc, cuối cùng bị móc cổ kéo xuống đánh chết.
- Em ruột Quận Huy là Lý Vũ hầu Hoàng Lương chưa kịp vào phủ đã bị đập chết giữa đường.
- Nhà cửa Quận Huy bị phá sạch, bè đảng bị lùng giết.
Chuỗi chi tiết thứ gì trong tay cũng hỏng vừa có thật vừa mang ý mỉa mai: thế lực từng lấn át triều đình sụp đổ chỉ trong một buổi sáng.
Câu 4: Cảnh Trịnh Tông lên ngôi có gì đặc biệt? (trang 42)
Cảnh Trịnh Tông lên ngôi chúa có gì đặc biệt? Nhận xét về nghệ thuật miêu tả của tác giả.
Trả lời: Lễ lên ngôi diễn ra trái hẳn với nghi thức trang nghiêm của triều đình:
- Không phải triều thần mà đám lính rước thế tử lên phủ đường, gào lên xin ngồi cao để thiên hạ thấy “mặt rồng”.
- Không có kỉ sập, họ dùng chiếc mâm bày cỗ lộc làm ghế, tám người khiêng, lúc đội lên đầu, lúc hạ xuống vai “y như người ta giỡn quả cầu hoặc rước pho tượng Phật”.
- Người buôn bán kéo đến xem, “sân phủ đông như họp chợ”; kinh kì phải nghỉ phiên chợ.
- Đạo sắc của vua, tờ chỉ của thánh mẫu đều thảo vội sau khi lễ đã xong mà vẫn gọi là “mệnh lệnh định sẵn”.
Nghệ thuật: tác giả tả thực, chi tiết cụ thể, dùng so sánh và đối lập giữa danh xưng trang trọng (mặt rồng, thánh chúa) với cảnh nhốn nháo, tạo giọng mỉa mai kín đáo. Qua đó, Trịnh Tông hiện lên như ông chúa do lính dựng lên, quyền lực mong manh.
Câu 5: Bình luận của người kể chuyện có khách quan, đáng tin không? (trang 42)
Hãy dẫn ra một số bình luận, đánh giá của người kể chuyện đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử trong văn bản. Theo em, quan điểm và thái độ của người kể chuyện có khách quan và đáng tin cậy không? Vì sao?
Trả lời: Một số lời bình luận, đánh giá:
- Về Dự Vũ, Gia Thọ: “người cơ trí”, “kẻ tinh khôn”.
- Về Bằng Vũ: “vẫn lừng tiếng là tay điêu toa trong việc xui nguyên giục bị”.
- Về quân lính: bàn việc thì hăng hái nhưng “còn sợ thanh thế Quận Huy”; thấy Quận Huy cưỡi voi thì “lại càng khiếp đảm”.
- Về các giấy tờ phò lập: tạm thời thảo ra nhưng được gọi là “mệnh lệnh định sẵn”.
Theo em, quan điểm của người kể nhìn chung khách quan, đáng tin cậy: sự kiện được ghi chép cụ thể về người, nơi chốn, trình tự; người kể không che giấu cái xấu của phe nào, kể cả thế tử Tông và đám kiêu binh. Tuy vậy, người đọc cũng nên nhớ nhóm tác giả là những trí thức trung thành với nhà Lê, nên lời bình vẫn mang cách nhìn của họ, đôi chỗ có sự khinh miệt với kiêu binh. Đọc tiểu thuyết lịch sử, em cần đối chiếu thêm với sử liệu.
Câu 6: Suy nghĩ về ý kiến của Lê Quý Đôn (trang 42)
Người xưa từng nói về năm nguy cơ làm mất nước: “Một, trẻ không kính già; hai, trò không trọng thầy; ba, binh kiêu tướng thoái; bốn, tham nhũng tràn lan; năm, sĩ phu ngoảnh mặt.” (Lê Quý Đôn). Sau khi đọc đoạn trích, em suy nghĩ gì về ý kiến này?
Trả lời (đoạn văn tham khảo): Đọc Kiêu binh nổi loạn, em càng thấm lời cảnh báo của Lê Quý Đôn, nhất là nguy cơ “binh kiêu tướng thoái”. Khi nhà chúa bỏ trưởng lập thứ vì tình riêng, trật tự trên dưới bị đảo lộn; lính tráng thấy chủ tướng không đáng sợ nên sinh kiêu, còn kẻ cầm quân như Quận Huy, Quận Châu thì hoặc chủ quan, hoặc run sợ. Kết quả là quân đội – vốn để giữ nước – lại giết đại thần, dựng chúa theo ý mình và phá phách kinh thành. Một triều đình mà lính không còn kỉ luật, tướng không còn uy tín thì dù bề ngoài vẫn còn ngôi báu, bên trong đã rệu rã, chẳng bao lâu sẽ sụp đổ. Bài học ấy vẫn đúng hôm nay: sức mạnh của một quốc gia bắt đầu từ kỉ cương, từ sự gương mẫu của người lãnh đạo và sự tôn trọng lẫn nhau giữa các thế hệ.
Kết luận
Qua bài soạn Kiêu binh nổi loạn, em nắm được diễn biến cuộc bạo loạn của kiêu binh trong phủ chúa Trịnh, thấy rõ sự thối nát của tập đoàn phong kiến cuối thế kỉ XVIII và bút pháp tả thực, giọng mỉa mai kín đáo của Ngô gia văn phái. Đây cũng là gợi ý tốt cho phần viết bài nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện ở cuối Bài 6.
Xem thêm:
- Tóm tắt Hoàng Lê nhất thống chí (có phần hồi thứ hai và hồi thứ mười bốn)
- Phân tích Hoàng Lê nhất thống chí – có mẫu phân tích cảnh kiêu binh phò Trịnh Tông
- Soạn bài Quang Trung đại phá quân Thanh (hồi thứ mười bốn, Ngữ văn 8 Cánh diều)
- Hoàng Lê nhất thống chí – Ngữ văn 8
- Soạn bài Hồi trống Cổ Thành (La Quán Trung) – Ngữ văn 10 Cánh diều