Soạn bài Hồi trống Cổ Thành dưới đây trả lời đủ các câu hỏi trong sách Ngữ văn 10 tập hai Cánh diều, trong bài học về tiểu thuyết và truyện ngắn (Bài 6): 5 câu hỏi trong khi đọc (trang 51 – 53) và 5 câu sau khi đọc (trang 54). Văn bản được trích từ hồi 28 của Tam quốc diễn nghĩa (La Quán Trung), quen thuộc với nhiều thế hệ vì từng là bài học trong sách Ngữ văn 10 chương trình cũ. Bài soạn dưới đây theo câu hỏi của sách Cánh diều.
Tìm hiểu chung về đoạn trích Hồi trống Cổ Thành
Nắm bối cảnh trước đoạn trích là điều kiện để hiểu vì sao Trương Phi nổi giận với chính người anh kết nghĩa.

Tác giả La Quán Trung
La Quán Trung (khoảng 1330 – khoảng 1400) tên là La Bản, hiệu Hồ Hải tản nhân, thường được ghi là người Thái Nguyên (tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc). Ông sống vào buổi giao thời Nguyên – Minh, chuyên sưu tầm, biên soạn dã sử và được xem là người mở đầu cho lối tiểu thuyết lịch sử chương hồi. Tam quốc diễn nghĩa là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông.
Tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa và vị trí đoạn trích
- Tiểu thuyết dựa trên sử sách và truyện kể dân gian về thời Tam quốc (thế kỉ II – III), khi Ngụy, Thục, Ngô tranh hùng. Bản lưu hành rộng rãi ngày nay gồm 120 hồi, do Mao Tôn Cương chỉnh lí đời Thanh.
- Văn bản nằm trong hồi 28. Trước sự việc này, ba anh em Lưu Bị, Quan Vũ (Quan Công, tự Vân Trường), Trương Phi thất lạc nhau sau trận Từ Châu. Để bảo vệ hai chị dâu, Quan Công tạm ở với Tào Tháo; khi biết tin Lưu Bị, ông trả lại ấn, vàng, đưa hai chị dâu vượt năm cửa ải, chém sáu tướng giữ ải, trong đó có Tần Kỳ, cháu của Sái Dương.
- Bản dịch trong sách là của Phan Kế Bính, Bùi Kỷ hiệu đính.
Bố cục
Văn bản trong sách được đánh số 3 đoạn:
- Đoạn 1 (từ đầu đến “cũng phải theo ra thành”): Quan Công đến Cổ Thành, sai Tôn Càn báo tin; Trương Phi lập tức mặc giáp, vác mâu ra cửa bắc.
- Đoạn 2 (tiếp đến “lại gặp tướng quân”): Trương Phi đòi giết Quan Công; quân Tào kéo đến; Quan Công chém Sái Dương khi chưa dứt một hồi trống.
- Đoạn 3 (còn lại): Trương Phi hỏi rõ sự tình, hiểu ra, khóc lạy anh; anh em đoàn tụ.
Soạn bài Hồi trống Cổ Thành – Ngữ văn 10 Cánh diều
Đề các câu hỏi ghi theo sách (đối chiếu loigiaihay, vietjack và hoc247).
Chuẩn bị (trang 50)
Đọc trước đoạn trích, tìm hiểu thông tin về La Quán Trung và Tam quốc diễn nghĩa; đọc kĩ phần giới thiệu bối cảnh trước văn bản để biết vì sao Quan Công từng ở với Tào Tháo. Những ý chính đã có ở phần tìm hiểu chung bên trên.
Câu hỏi trong khi đọc
Câu 1: Thái độ của Trương Phi và Quan Công (trang 51)
Thái độ của Trương Phi và Quan Công như thế nào?
Trả lời: Hai thái độ trái ngược. Quan Công “mừng rỡ vô cùng”, giao long đao cho Châu Thương rồi tế ngựa ra đón em, tức là đến với tư thế không phòng bị. Trương Phi thì “mắt tròn xoe, râu vểnh ngược, hò thét như sấm”, múa xà mâu đâm thẳng vào anh. Một bên mong đoàn tụ, một bên coi người đến là kẻ phản bội.
Câu 2: Vì sao Quan Công nhắc đến “nghĩa vườn đào”? (trang 52)
Vì sao Quan Công nhắc đến “nghĩa vườn đào”?
Trả lời: “Nghĩa vườn đào” là lời thề kết làm anh em của Lưu, Quan, Trương ở vườn đào. Bị em đâm bất ngờ, Quan Công nhắc lại lời thề để hỏi vì sao em lại quay giáo với anh, đồng thời khẳng định mình vẫn giữ trọn tình nghĩa ấy và mong Trương Phi nguôi giận.
Câu 3: Vì sao cách xưng hô của hai người đối lập? (trang 52)
Vì sao cách xưng hô giữa Trương Phi và Quan Công đối lập nhau?
Trả lời: Quan Công gọi “hiền đệ”, xưng “ta”, “anh”, giữ đúng tình anh em vì ông biết mình không có lỗi. Trương Phi gọi anh là “mày”, xưng “tao”, có lúc còn gọi là “thằng phụ nghĩa”, vì tin rằng Quan Công đã hàng Tào, quên lời thề cũ. Cách xưng hô cho thấy một người điềm tĩnh, nhẫn nhịn và một người nóng nảy, ghét sự phản trắc đến cực điểm.
Câu 4: Em có bất ngờ với tình huống này không? (trang 53)
Em có bất ngờ với tình huống này không? Vì sao?
Trả lời: Có. Đúng lúc Quan Công vừa nói nếu đến bắt em thì phải đem quân mã, thì quân Tào kéo đến thật. Lời thanh minh vừa dứt đã bị sự việc “phản bác”, làm Trương Phi càng tin anh lừa mình. Tình huống trùng hợp ấy đẩy mâu thuẫn lên đỉnh điểm, đồng thời mở ra cơ hội để Quan Công dùng việc làm chứng tỏ lòng mình.
Câu 5: Khí phách và tài nghệ của Quan Công (trang 53)
Khí phách và tài nghệ của Quan Công được thể hiện ra sao?
Trả lời: Quan Công nhận ngay điều kiện khắc nghiệt của em, không do dự. Khi Sái Dương đến thách thức, ông “chẳng nói một lời, múa long đao xô lại”, và “chưa dứt một hồi, đầu Sái Dương đã lăn xuống đất”. Ba hồi trống chưa cần đến, chỉ một hồi đã đủ. Câu văn ngắn, nhịp nhanh làm nổi bật võ nghệ siêu quần và khí phách đường hoàng của một dũng tướng.
Câu hỏi sau khi đọc
Câu 1: Sự kiện chính và lí do Trương Phi hiểu lầm (trang 54)
Nêu các sự kiện chính của văn bản Hồi trống Cổ Thành. Lí do dẫn đến sự hiểu lầm của Trương Phi đối với Quan Công?
Trả lời:
Các sự kiện chính:
- Quan Công đưa hai chị dâu đến Cổ Thành, sai Tôn Càn vào báo tin cho Trương Phi.
- Trương Phi kéo quân ra, đòi giết Quan Công vì cho rằng anh đã phản bội.
- Hai phu nhân, Tôn Càn giải thích nhưng Trương Phi không tin.
- Quân Tào do Sái Dương dẫn đầu kéo tới; Trương Phi ra điều kiện ba hồi trống.
- Quan Công chém Sái Dương; tên lính cầm cờ kể lại đầu đuôi.
- Trương Phi hiểu ra, khóc lạy anh; anh em đoàn tụ.
Lí do hiểu lầm: Trương Phi chỉ biết việc Quan Công ở với Tào Tháo, được phong hầu, mà không biết đó là kế tạm thời để giữ an toàn cho hai chị dâu, cũng không biết anh đã bỏ Tào ra đi. Với tính cách thẳng thắn, ghét sự quanh co, Trương Phi kết luận ngay rằng anh đã bội nghĩa; sự xuất hiện của quân Tào càng khiến ông tin chắc.
Câu 2: Những chi tiết khắc họa tính cách hai nhân vật (trang 54)
Người kể chuyện đã khắc họa tính cách của Trương Phi và Quan Công thông qua những chi tiết, sự việc, tình huống nào?
Trả lời:
- Trương Phi: chiếm Cổ Thành vì quan huyện không cho vay lương; nghe tin anh đến thì chẳng nói gì, mặc giáp vác mâu ra ngay; mắng cả hai chị dâu là bị lừa, mắng Tôn Càn nói láo; đặt điều kiện ba hồi trống; khi hiểu ra thì khóc và quỳ lạy. Đó là con người nóng nảy, thẳng như ruột ngựa, ghét phản bội nhưng biết nhận lỗi.
- Quan Công: mừng rỡ đón em; bị đâm vẫn né tránh, gọi “hiền đệ”; nhờ hai chị dâu làm chứng; nhận thử thách và chém Sái Dương. Đó là người trung nghĩa, điềm tĩnh, nhẫn nhịn và tài giỏi.
- Tình huống “ba hồi trống” là nơi hai tính cách gặp nhau: một người thử thách, một người chứng minh.
Câu 3: Ý nghĩa của câu chuyện (trang 54)
Phân tích và đánh giá ý nghĩa của câu chuyện được kể trong văn bản Hồi trống Cổ Thành.
Trả lời:
- Đề cao lòng trung nghĩa: Quan Công giữ trọn chữ “nghĩa” với anh em dù phải sống giữa vòng vây của Tào Tháo; Trương Phi coi trọng lời thề đến mức sẵn sàng giết anh nếu anh phản bội.
- Đặt ra câu hỏi về lòng trung và sự phản bội: câu chuyện cho thấy lòng trung không chỉ nằm ở lời nói mà phải thể hiện bằng việc làm.
- Ý nghĩa của hồi trống: hồi trống vừa là thử thách, vừa là giải oan, vừa là tiếng reo đoàn tụ của anh em vườn đào. Tên đoạn trích lấy đúng chi tiết này vì nó là điểm kết tinh của cả câu chuyện.
- Đánh giá: đoạn trích ngắn nhưng xây dựng xung đột kịch tính, nhân vật sắc nét, mang đậm quan niệm đạo đức Nho giáo về trung, nghĩa, tín; đến nay câu chuyện vẫn được kể như một bài học về lòng tin giữa người với người.
Câu 4: Đoạn văn so sánh tính cách Trương Phi và Quan Công (trang 54)
Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 6 – 8 dòng) so sánh tính cách của hai nhân vật Trương Phi và Quan Công được thể hiện qua đoạn trích Hồi trống Cổ Thành.
Trả lời: Đoạn văn tham khảo:
Trong Hồi trống Cổ Thành, Trương Phi và Quan Công giống nhau ở chỗ cùng coi tình nghĩa vườn đào là thiêng liêng, nhưng lại khác nhau rất xa ở cách hành xử. Trương Phi bộc trực, nóng như lửa: vừa nghe tin đã vác mâu ra đâm anh, mắng cả chị dâu, chỉ tin vào điều mắt thấy. Quan Công thì điềm tĩnh, nhún nhường: bị đâm vẫn gọi em là “hiền đệ”, nhờ người làm chứng rồi im lặng chứng minh bằng một nhát đao. Nếu Trương Phi là ngọn lửa của lòng ghét phản bội, thì Quan Công là sự vững vàng của lòng trung. Chính sự tương phản ấy khiến cuộc đoàn tụ cuối đoạn trích thêm cảm động.
Câu 5: Bài học sâu sắc nhất (trang 54)
Với em, bài học sâu sắc nhất sau khi học văn bản Hồi trống Cổ Thành là gì?
Trả lời: Bài học sâu sắc nhất với em là về lòng tin. Tình nghĩa bền chặt đến mấy cũng có lúc bị thử thách bởi hiểu lầm; khi ấy, người bị nghi cần bình tĩnh chứng minh bằng việc làm, còn người nghi ngờ cần lắng nghe và dám nhận sai như Trương Phi. Biết giữ chữ tín và biết sửa sai là điều giúp những mối quan hệ quý giá không đổ vỡ.
Kết luận
Soạn xong Hồi trống Cổ Thành, các em cần nhớ ba điểm: mâu thuẫn bắt nguồn từ hiểu lầm về lòng trung của Quan Công; tính cách đối lập mà bổ sung cho nhau của hai anh em; và ý nghĩa nhiều tầng của hồi trống. Đây là đoạn trích hay để rèn kĩ năng phân tích nhân vật tiểu thuyết chương hồi.
Xem thêm: