Soạn bài Người ở bến sông Châu dưới đây giúp em chuẩn bị bài và trả lời đủ 13 câu hỏi trong khi đọc (trang 43 – 49) cùng 7 câu hỏi sau khi đọc (trang 50) thuộc Bài 6, sách Ngữ văn 10 Cánh diều tập hai. Truyện do Sương Nguyệt Minh viết, kể về dì Mây, cô y sĩ Trường Sơn trở về làng đúng hôm người yêu cưới vợ.
Tìm hiểu chung về truyện Người ở bến sông Châu
Vài nét về tác giả, xuất xứ, thể loại và bố cục.

Tác giả Sương Nguyệt Minh
Sương Nguyệt Minh (tên khai sinh Nguyễn Ngọc Sơn) sinh năm 1958. Là người lính cầm bút, mang quân hàm đại tá, ông gắn bó nhiều năm với Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Từ đầu thập niên 1990 ông in truyện ngắn và sớm được chú ý nhờ lối viết tinh tế, nhẹ nhàng mà lắng sâu. Một số tác phẩm: Đêm thánh vô cùng, Lửa cháy trong rừng hoang, Mười ba bến nước, Dị hương…
Xuất xứ, thể loại, bố cục
- Xuất xứ: cuối truyện ghi thời điểm viết là tháng 6 năm 1997; truyện được in trong tập Người ở bến sông Châu do NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 2001. SGK in có lược bớt một số đoạn, đánh dấu […].
- Thể loại: truyện ngắn hiện đại, đề tài người lính sau chiến tranh.
- Ngôi kể: kể theo ngôi thứ ba, nhưng nhiều đoạn nhìn sự việc qua đôi mắt của Mai, cô cháu gái của dì Mây.
- Bố cục: văn bản được đánh số thành 4 phần: (1) dì Mây trở về giữa lúc chú San rước dâu; (2) những ngày dì ở bến sông; (3) đêm mưa dì cứu mẹ con cô Thanh; (4) thím Ba mất, dì nhận nuôi thằng Cún và tiếng ru đêm sông Châu.
Soạn bài Người ở bến sông Châu – Chuẩn bị (trang 42)
Em xem lại mục Kiến thức ngữ văn về truyện ngắn, rồi để ý các vấn đề sau khi đọc.
Câu 1: Nhân vật chính, số phận và tính cách (trang 42)
Nhân vật chính trong truyện là ai? Có số phận như thế nào? Tính cách của nhân vật được thể hiện qua những tình huống nào?
Trả lời:
- Nhân vật chính: dì Mây, người con gái đẹp nhất xóm Trại, từng làm y sĩ ở chiến trường Trường Sơn.
- Số phận: nhiều thiệt thòi. Dì bị thương mất một chân, bị báo tử nhầm; khi về làng thì người yêu là chú San vừa cưới cô Thanh. Tuổi xuân, nhan sắc và tình yêu của dì đều đã gửi lại chiến tranh.
- Tình huống bộc lộ tính cách: cuộc gặp chú San trong đêm cưới; đêm mưa đỡ đẻ cho cô Thanh; khi thím Ba chết, dì nhận nuôi thằng Cún.
Câu 2: Thông điệp và thái độ của người kể chuyện (trang 42)
Thông điệp tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm là gì? Người kể chuyện có thái độ như thế nào với các nhân vật? Dựa vào đâu để biết điều đó?
Trả lời:
- Thông điệp: tiếng súng đã im từ lâu mà vết thương chiến tranh, nhất là với những người phụ nữ từng ra trận, vẫn âm ỉ trong đời thường. Dù vậy, lòng nhân hậu giúp con người đứng dậy.
- Thái độ người kể: cảm thông, thương xót, trân trọng. Người kể không lên án ai; mỗi người đều là nạn nhân của hoàn cảnh.
- Căn cứ: giọng kể chậm, buồn; chi tiết chọn lọc (nạng gỗ, mái tóc thưa, tiếng khóc trên bàn đỡ đẻ); nhiều đoạn nhìn qua cảm nhận thương dì của bé Mai.
Câu 3: Hiểu biết về hậu quả của chiến tranh (trang 42)
Em biết gì về hậu quả của chiến tranh? Hãy chuẩn bị để chia sẻ những hiểu biết ấy.
Trả lời: Chiến tranh cướp đi sinh mạng và sức khỏe của hàng triệu người, để lại thương binh mang di chứng suốt đời, nhiều cô gái lỡ dở tuổi xuân. Bom mìn còn sót trên ruộng đồng, bến sông có thể phát nổ hàng chục năm sau; chất độc hóa học ảnh hưởng tới nhiều thế hệ. Nhiều gia đình li tán, trẻ em mồ côi, nỗi đau còn mãi trong kí ức người ở lại.
Câu 4: Tìm hiểu thêm về tác giả và truyện (trang 42)
Tìm hiểu thêm về tác giả Sương Nguyệt Minh và truyện Người ở bến sông Châu, chọn những thông tin giúp em hiểu thêm truyện ngắn này.
Trả lời: Em ghi lại các ý ở mục tìm hiểu chung phía trên. Điều đáng chú ý: truyện ra đời năm 1997, hơn hai mươi năm sau ngày thống nhất, nên tác giả nhìn chiến tranh từ độ lùi thời gian, quan tâm tới những thiệt thòi lặng lẽ của người lính khi về lại đời thường.
Đọc hiểu: câu hỏi trong khi đọc (trang 43 – 49)
Các câu hỏi in ở lề sách, gắn với từng đoạn văn bản.
Câu 1: Tóm tắt sự việc chính của phần này (trang 43)
Trả lời: Vào buổi chiều chú San rước cô Thanh, giáo viên xóm Bãi, qua sông, dì Mây đeo ba lô trở về sau bao năm bặt tin. Ông vội chèo đò ra đón; ông ôm con gái mà nghẹn lời vì mọi người đã tưởng dì không còn. Đêm ấy, chú San bỏ dở tiệc cưới sang nhà xin gặp dì, nhận lỗi và đòi hai người quay lại với nhau. Dì kiên quyết khước từ, khuyên chú về sống tốt với vợ.
Câu 2: Lời đối thoại và lời bình luận của người kể chuyện (trang 44)
Chú ý lời đối thoại giữa các nhân vật và lời bình luận của người kể chuyện.
Trả lời:
- Lời đối thoại: câu nói của chú San ngắn, gấp, cứ nài nỉ xin được nói thêm một lời, cho thấy chú day dứt, ân hận. Lời dì Mây cũng rất ngắn, có lúc chỉ một chữ “Không!”, vừa đau vừa cố giữ khoảng cách. Câu hỏi “Hôm nay là ngày gì? Anh nhớ không? Có ngờ đâu ngày ấy tiễn anh đi cũng là ngày li biệt.” làm hiện lên nỗi tủi hờn dồn nén bao năm.
- Lời người kể: không bình luận trực tiếp mà tả cử chỉ, không khí: bố quay mặt đi, mẹ chào hỏi gượng gạo, ông rít thuốc liên tục, chim giật mình bay lên. Cả nhà cùng đau với dì, cuộc gặp căng như dây đàn.
Câu 3: Tác dụng của biện pháp điệp từ trong đoạn này (trang 44)
Trả lời: Trong đoạn hồi tưởng, tác giả lặp lại “từng cánh, từng cánh” (hoa gạo) và “bồng bềnh, bồng bềnh” (con đò). Phép điệp tạo nhịp chậm, dàn trải như nhịp chèo; gợi cảnh hoa gạo rơi dày trên lối xuống bến và con đò trôi lửng lơ trên sóng. Nhờ vậy, buổi chia tay năm xưa hiện ra vừa đẹp vừa buồn, như một thước phim chậm trong kí ức hai người, đối lập với thực tại phũ phàng hôm nay.
Câu 4: Hình dung tâm trạng và thái độ của các nhân vật (trang 44)
Trả lời:
- Chú San: xúc động, nhớ thương trỗi dậy, kể rằng ở nơi xa vẫn luôn nghĩ tới dì; rồi bốc đồng đòi bỏ tất cả để quay về với dì.
- Dì Mây: tình cảm vẫn còn nguyên, dì cũng nhớ những trang nhật kí ở Trường Sơn; khi nghe lời đề nghị của chú San, dì bàng hoàng, người như mất hết sức lực rồi khuỵu xuống.
- Cô Thanh: đứng sau rào râm bụt đi tới đi lui, thỉnh thoảng giật lá rào; cô lo lắng, bồn chồn vì không biết hạnh phúc của mình sẽ ra sao.
Câu 5: Nhận xét về thái độ và quyết định của dì Mây (trang 45)
Trả lời: Dì Mây dứt khoát từ chối: “Thôi! Thôi! Lỡ rồi! Đằng nào cũng chỉ một người đàn bà khổ. Anh về đi!”, rồi còn dặn chú cố giữ gia đình cho trọn vẹn. Quyết định ấy rất đau đớn với dì vì dì vẫn yêu chú San, nhưng dì chịu thiệt để cô Thanh không phải khổ. Đó là cách ứng xử tỉnh táo, cao thượng và đầy lòng thương người: dì hiểu rằng không ai có lỗi, chỉ có hoàn cảnh chiến tranh đã chia cắt họ.
Câu 6: Chú ý thái độ của các nhân vật (trang 45)
Trả lời:
- Bà con xóm Trại kéo đến thăm hỏi, người an ủi, người ái ngại cho dì.
- Dì Mây tiếp khách mà ngượng ngùng; vãn khách là dì ra lều cỏ bên sông, ngồi lặng nhìn hoa gạo, chìm vào kỉ niệm với chú San.
- Mai ngồi bên dì, nói lời động viên rằng dì còn sống trở về là điều quý nhất.
Câu 7: Ý nghĩa chi tiết mái tóc dì Mây trước đây và bây giờ (trang 46)
Trả lời: Ngày trước tóc dì dài tới mức Mai phải mang ghế đẩu cho dì đứng chải, đen mượt, khi chạy ngược gió thì xõa bay như mây. Bây giờ: “Tóc dì Mây rụng nhiều, xơ và thưa.” Sự đối lập cho thấy bom đạn, sốt rét ở Trường Sơn đã lấy đi nhan sắc của người con gái; mái tóc tàn phai là cái giá dì đã trả cho hòa bình.
Câu 8: Chú ý tâm trạng của nhân vật dì Mây (trang 47)
Trả lời: Những ngày đầu ở bến sông, dì buồn bã, đi ra đi vào, có hôm bỏ cả bữa; đêm đêm, tiếng khóc của trẻ mới sinh vọng từ trạm xá cũng làm dì giật mình. Khi đám bạn của Mai đùa sẽ góp tiền đò để mừng dì lấy chồng, nét mặt dì bỗng chùng xuống. Lời đùa vô tình chạm vào nỗi đau lỡ dở; dì vẫn khao khát một mái ấm nhưng biết điều đó giờ thật xa vời.
Câu 9: Tình huống nào giúp nhân vật bộc lộ phẩm chất và tính cách? (trang 47)
Trả lời: Đó là đêm mưa cô Thanh, vợ chú San, sinh non; thai ngược, dây rốn quấn cổ, thím Ba đỡ mãi không được, đường lên huyện thì xa. Dì Mây đội mưa tới, bình tĩnh tiêm thuốc, động viên sản phụ và cứu được cả mẹ lẫn con, dù thím Ba còn kéo dì ra rỉ tai can ngăn. Qua đó, ta thấy dì giỏi nghề, nhân hậu, sẵn lòng bỏ qua chuyện riêng để cứu người.
Câu 10: Vì sao lúc này dì Mây lại khóc? (trang 48)
Trả lời: Khi đứa bé cất tiếng khóc, chú San mừng rỡ ngoài cửa thì dì gục xuống bàn đỡ đẻ khóc nức nở. Dì khóc vì bao căng thẳng vừa được trút bỏ; vì mừng cho mẹ con cô Thanh; nhưng sâu hơn là khóc cho chính mình. Hạnh phúc làm vợ, làm mẹ bên người mình yêu lẽ ra thuộc về dì, giờ dì lại trao nó tận tay người khác.
Câu 11: Số phận thím Ba, thằng Cún gợi suy nghĩ gì về hậu quả chiến tranh? (trang 49)
Trả lời: Thím Ba không ra trận, chỉ đi đun te kiếm cá ở bến sông mà vướng bom bi còn sót lại và chết; thằng Cún còn nhỏ đã mồ côi mẹ. Chiến tranh kết thúc đã lâu mà bom đạn vẫn nằm chờ dưới lòng sông, vẫn cướp đi mạng người trong thời bình. Hậu quả ấy lan tới cả dân lành và thế hệ sau.
Câu 12: Đoạn này cho biết những thông tin quan trọng gì? (trang 49)
Trả lời:
- Lí do dì Mây mất một chân: ở Trường Sơn, khi bom nổ, dì đã che cửa hầm để bảo vệ thương binh. Người lính được dì che chở thì lành lặn, còn dì bị mảnh bom cắt mất một chân.
- Theo lời đồn, người lính ấy có thể là chú Quang, chỉ huy công binh xây cầu, từng đi dọc sông Châu tìm ân nhân và đã ngỏ ý với dì.
- Dì Mây phân vân giữa mặc cảm thân phận và cơ hội hạnh phúc mới.
Câu 13: Sự thay đổi trong tiếng ru của dì Mây (trang 49)
Trả lời: Lúc đầu tiếng ru “trầm lắng, nghèn nghẹn, xót xa”, về sau chuyển sang “êm ái, trong sáng, mênh mang”. Nỗi đau trong lòng dì dần lắng xuống, nhường chỗ cho tình thương đứa trẻ và niềm tin vào cuộc sống; tiếng ru lay động cả những người lính công binh.
Đọc hiểu: câu hỏi sau khi đọc (trang 50)
Bảy câu hỏi xoay quanh cốt truyện, nhân vật, bút pháp, người kể chuyện và thông điệp.
Câu 1: Sự kiện chính của mỗi phần và nét đặc sắc của cốt truyện (trang 50)
Xác định sự kiện chính của mỗi phần trong văn bản Người ở bến sông Châu. Theo em, cách xây dựng cốt truyện của tác giả có gì đặc sắc?
Trả lời:
| Phần | Sự kiện chính |
|---|---|
| Phần 1 (từ đầu đến “Dì ngồi như tượng.”) | Dì Mây về làng đúng chiều chú San cưới vợ; cuộc gặp trong đêm, dì từ chối lời đề nghị làm lại của chú San. |
| Phần 2 (từ “Sáng.” đến “Sóng nước lao xao.”) | Dì dọn ra túp lều cỏ của ông, phụ ông chèo đò, chở học trò không lấy tiền; nỗi buồn nguôi dần, sức khỏe hồi lại. |
| Phần 3 (đến “ở phía cuối con đường về bến”) | Dì làm y sĩ ở trạm xá mới; đêm mưa đỡ đẻ cứu mẹ con cô Thanh rồi khóc nức nở. |
| Phần 4 (còn lại) | Bộ đội về làm cầu; thím Ba chết vì bom bi, dì nhận nuôi thằng Cún; chuyện chú Quang; tiếng ru đêm sông Châu. |
Nét đặc sắc: cốt truyện mở đầu bằng một tình huống trớ trêu (chiều dì về, chú San vừa rước dâu) đẩy mâu thuẫn lên ngay từ đầu. Các sự việc nối nhau theo thời gian, xen hồi ức về buổi tiễn đưa năm xưa, mỗi phần đặt nhân vật vào một thử thách mới để soi rõ thêm một nét tính cách. Kết thúc để ngỏ (dì có đến với chú Quang hay không), khiến người đọc còn day dứt mãi.
Câu 2: Nhân vật trung tâm và sơ đồ quan hệ nhân vật (trang 50)
Ai là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn này? Hãy vẽ sơ đồ về mối quan hệ giữa nhân vật trung tâm này với các nhân vật khác trong truyện.
Trả lời: Nhân vật trung tâm là dì Mây; mọi sự việc đều xoay quanh dì. Sơ đồ quan hệ (mẹ của Mai là chị gái dì, chú Quang là chỉ huy công binh xây cầu):

Câu 3: Tính cách, phẩm chất và cuộc đời dì Mây (trang 50)
Phân tích, làm sáng tỏ tính cách và phẩm chất của nhân vật dì Mây trong truyện qua các tình huống và sự kiện tiêu biểu. Nêu nhận xét về cuộc đời và tính cách của nhân vật dì Mây.
Trả lời:
- Dũng cảm: làm y sĩ ở Trường Sơn, khi bom nổ đã che cửa hầm cho thương binh và mất một chân.
- Thủy chung, bản lĩnh, biết nhường nhịn: vẫn yêu chú San nhưng dứt khoát khước từ lời đề nghị làm lại, khuyên chú giữ gia đình: “Sự thể đã thế, cố mà sống với nhau cho vuông tròn.”
- Nghị lực: chống nạng gỗ chèo đò, đi bộ trên đường đất gồ ghề tới trạm xá.
- Nhân hậu, vị tha: chở học trò không lấy tiền; cứu mẹ con cô Thanh trong đêm mưa; nhận nuôi thằng Cún mồ côi.
Nhận xét: cuộc đời dì nhiều mất mát (tuổi xuân, nhan sắc, một phần thân thể, mối tình đầu), nhưng dì không oán trách, không buông xuôi mà biến nỗi đau riêng thành tình thương cho người khác.
Câu 4: Bút pháp miêu tả cảnh và diễn biến tâm lí nhân vật (trang 50)
Phân tích và nhận xét về bút pháp miêu tả (tả cảnh và diễn biến tâm lí các nhân vật) của tác giả trong truyện ngắn Người ở bến sông Châu.
Trả lời:
- Tả cảnh để gợi tâm trạng: chiều dì về, dòng sông đỏ đục, sóng đập vào trụ cầu gãy, trời chiều đỏ rực, mây cuồn cuộn như báo trước giông bão trong lòng người. Lúc chú San và dì đối mặt, cây cối lặng phắc, không khí nặng nề như sắp có bão. Đêm cuối truyện, trời sao bàng bạc, sóng rì rầm, cảnh dịu lại cùng tâm hồn nhân vật.
- Tả tâm lí qua cử chỉ, chi tiết nhỏ: dì nuốt nước mắt, vịn cành bưởi thở dốc, người rũ xuống khi nghe lời đề nghị; ngồi bất động bên đèn dầu suốt đêm; gục xuống khóc sau ca đỡ đẻ. Chú San đấm vào thân cây, níu áo; cô Thanh đi lại, giật lá râm bụt.
- Đan xen hồi ức: cảnh tiễn đưa giữa mùa hoa gạo lồng vào cuộc gặp hôm nay, làm nỗi tiếc nuối thêm sâu.
Nhận xét: bút pháp tinh tế, giàu chất thơ, câu văn ngắn; tác giả ít bình luận mà để cảnh và cử chỉ tự nói lên nỗi lòng nhân vật.
Câu 5: Không gian, thời gian và ý nghĩa hình ảnh dòng sông, con đò, cây cầu (trang 50)
Câu chuyện diễn ra trong những không gian và thời gian nào? Tìm hiểu ý nghĩa của những hình ảnh dòng sông, con đò, cây cầu xuất hiện trong truyện.
Trả lời:
- Không gian: làng quê ven sông Châu (xóm Trại, xóm Bãi), bến đò và lều cỏ của ông, khu vườn có cây bưởi, trạm xá xã; trong hồi ức có rừng Trường Sơn.
- Thời gian: những năm sau chiến tranh, kéo dài từ chiều dì về tới mùa hoa gạo năm sau rồi sang cuối thu; các mốc được ghi thành những dòng ngắn tách riêng như Chập tối, Sáng, Đêm mưa. Xen vào là quá khứ: ngày tiễn chú San đi học trong tiếng bom.
- Dòng sông: nhân chứng cho mối tình của hai người và mọi đổi thay của làng, như dòng chảy cuộc đời dì Mây.
- Con đò: gắn với chia li, lỡ làng, nhưng cũng là cách dì giúp đỡ người làng.
- Cây cầu: trụ cầu gãy là dấu vết chiến tranh; cây cầu mới đang bắc gợi sự hàn gắn và hi vọng về một hạnh phúc mới cho dì.
Câu 6: Nhận xét điểm nhìn và người kể chuyện (trang 50)
Trả lời: Truyện kể theo ngôi thứ ba, người kể giấu mình và biết rõ các sự việc. Tuy vậy, điểm nhìn thường đặt vào Mai: Mai nghe tiếng gọi đò, Mai ngỡ như trong mơ, Mai sợ hãi chạy ra ngoài lúc cô Thanh vượt cạn, Mai nhớ lời mẹ kể về dì. Nhờ vậy câu chuyện vừa khách quan vừa gần gũi, thấm tình thương của đứa cháu; nhiều điều không nói thẳng mà người đọc tự cảm nhận. Có lúc điểm nhìn chuyển sang lời đồn của người làng, của lính công binh, làm câu chuyện nhiều chiều hơn.
Câu 7: Vấn đề đặt ra trong truyện và ý nghĩa hôm nay (trang 50)
Theo em, vấn đề đặt ra trong truyện ngắn này là gì? Vấn đề đó có ý nghĩa như thế nào với cuộc sống hôm nay? Hãy ghi lại bằng một đoạn văn (khoảng 6 – 8 dòng).
Trả lời: Truyện Người ở bến sông Châu đặt ra vấn đề số phận của con người, nhất là những cô gái từng ra trận, khi hòa bình trở lại. Tiếng súng đã im nhưng dì Mây vẫn phải mang thương tật, mất mối tình đầu, còn thím Ba thì chết vì quả bom bi sót lại. Dù vậy, dì vẫn sống nhân hậu, cứu người, nuôi trẻ mồ côi. Với hôm nay, câu chuyện nhắc thế hệ trẻ biết ơn những người đã hi sinh tuổi xuân cho hòa bình, quan tâm tới thương binh và học cách lấy lòng tốt để vượt qua đau buồn.
Kết luận
Qua bài soạn, em thấy truyện không kể về trận đánh mà về dấu vết chiến tranh để lại trong đời thường, và vẻ đẹp nhân hậu của dì Mây. Khi ôn tập, em nhớ bốn phần của truyện, các chi tiết đắt (mái tóc, tiếng khóc, tiếng ru) và điểm nhìn qua Mai.
Xem thêm: