Tóm tắt nội dung chính của một văn bản bằng sơ đồ là bài Viết lớp 6 có ở cả ba bộ sách, nhưng mỗi bộ đặt ở một chỗ: Bài 9 (tập 2) của Ngữ văn 6 Kết nối tri thức với tên mục Tóm tắt bằng sơ đồ nội dung của một văn bản đơn giản, Bài 1 (tập 1) của Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo, và Bài 10 (tập 2) của Ngữ văn 6 Cánh diều, nơi mục này mang tên Tóm tắt văn bản thông tin. Trang này gom yêu cầu của từng bộ, các bước rút từ khóa và dựng sơ đồ, rồi đưa ra 12 bài mẫu. Mỗi mẫu tóm tắt một văn bản trong sách Ngữ văn 6 bằng một dạng sơ đồ riêng (chuỗi mũi tên, hai nhánh, cây ý, bảng, trục thời gian, nhân – quả, ý kiến – lí lẽ – bằng chứng), kèm phần đọc sơ đồ thành lời và mấy dòng giải thích vì sao chọn dạng ấy.

Yêu cầu của kiểu bài tóm tắt văn bản bằng sơ đồ
Tóm tắt bằng sơ đồ là gạt đi các chi tiết phụ, chỉ giữ lại ý cốt lõi của văn bản rồi xếp những ý ấy thành hình: ô chữ, nhánh, mũi tên, bảng. Người xem một sơ đồ tốt sẽ biết văn bản nói về điều gì, có mấy phần, các phần nối với nhau ra sao, mà không phải đọc lại từ đầu. Vẽ xong, em đối chiếu sơ đồ của mình với các tiêu chí sau.
| Tiêu chí | Sơ đồ đạt khi |
|---|---|
| Đúng và đủ ý chính | Phần nào, đoạn nào, sự việc chính nào của văn bản cũng có mặt; không thêm điều văn bản không nói; không bỏ quên phần kết. |
| Từ khóa chọn lọc | Mỗi ô chỉ là một cụm từ hoặc một dòng ngắn, chứa danh từ, động từ mang ý chính (Gióng vươn vai, nước bao phủ hành tinh…), không chép cả câu. |
| Quan hệ giữa các ý | Mũi tên, nhánh hoặc cột cho thấy ý nào dẫn tới ý nào, ý nào nằm trong ý nào: trước – sau, nguyên nhân – kết quả, ý lớn – ý nhỏ. |
| Nội dung bao quát | Có ô trung tâm hoặc dòng tiêu đề nói được văn bản bàn về điều gì. |
| Hình thức hợp kiểu văn bản | Truyện hợp với chuỗi sự việc; văn bản thông tin hợp với cây ý, bảng, trục thời gian; văn bản nghị luận hợp với sơ đồ ý kiến – lí lẽ – bằng chứng. |
| Trình bày | Chữ rõ, ít gạch xóa; kí hiệu thống nhất (một kiểu mũi tên, ô ý lớn to hơn ô ý nhỏ); hình vẽ, màu sắc nếu có thì giúp phân nhóm chứ không che chữ. |
Ba bộ sách cùng dạy kĩ năng này nhưng không giống nhau hoàn toàn:
| Bộ sách | Vị trí | Điểm nhấn |
|---|---|---|
| Kết nối tri thức | Tập 2, Bài 9 Trái Đất – ngôi nhà chung (Viết, trang 91) | Gọi là văn bản đơn giản. Sách chia việc thành ba chặng: trước khi tóm tắt (tìm nội dung cốt lõi, chọn từ khóa, xem từ khóa nào gắn với từ khóa nào), tóm tắt (vẽ khung chứa từ khóa, xếp chúng theo trật tự hợp lí, nối bằng đường thẳng, đường cong hay mũi tên) và chỉnh sửa. Ví dụ trong sách rút từ lời sư tử Mu-pha-sa về vòng đời trong văn bản Các loài chung sống với nhau như thế nào?; hai bài thông tin về Trái Đất trong cùng bài học là ngữ liệu luyện tập. |
| Chân trời sáng tạo | Tập 1, Bài 1 Lắng nghe lịch sử nước mình (Viết, trang 32) | Học ngay đầu năm, với một sơ đồ mẫu tóm tắt truyện Thánh Gióng. Hai câu hỏi phân tích sơ đồ mẫu tách riêng yêu cầu về nội dung và về hình thức (từ khóa phối hợp với hình vẽ, mũi tên, kí hiệu; bố cục rõ ràng, đẹp mắt). Đề bài để em tự chọn một văn bản đã đọc hoặc đã học. |
| Cánh diều | Tập 2, Bài 10 Văn bản thông tin (Viết, trang 102–103) | Tên mục là Tóm tắt văn bản thông tin và không bắt buộc vẽ sơ đồ: có thể viết thành đoạn văn (sách gọi là cách thông dụng), cũng có thể vẽ sơ đồ. Trình tự: tìm thông tin chính ở nhan đề, đề mục lớn → tìm thông tin cụ thể của từng đoạn, giữ các mốc thời gian quan trọng → nối lại thành bản tóm tắt. Ví dụ là bài Điều gì giúp bóng đá Việt Nam chiến thắng?; bài tập yêu cầu tóm tắt văn bản về bốn phát minh tình cờ (đất nặn, kem que, khoai tây chiên lát mỏng, giấy nhớ). |
Văn bản nào hợp với dạng sơ đồ nào?
Không có một khuôn sơ đồ dùng chung cho mọi văn bản. Hãy nhìn cách văn bản sắp xếp ý rồi chọn hình cho hợp:
| Văn bản sắp ý theo cách | Dạng sơ đồ nên dùng | Xem ở |
|---|---|---|
| Kể chuyện theo thứ tự sự việc | Chuỗi ô nối mũi tên; hai nhánh nếu truyện có hai chặng đối xứng | Mẫu 1, 2, 3 |
| Thông tin chia theo đề mục | Cây: ô gốc → cành ý chính → nhánh ý phụ | Mẫu 4 |
| Giải thích, trả lời một câu hỏi lớn | Bảng hỏi – đáp | Mẫu 5 |
| Thuật sự kiện theo nguyên nhân – kết quả | Nhiều ô nguyên nhân cùng chỉ vào một ô kết quả | Mẫu 6 |
| Thuật sự kiện theo ngày tháng, giai đoạn | Trục thời gian; bảng các giai đoạn | Mẫu 7, 8 |
| Kí, hồi kí tả cảnh, tả loài vật | Nhánh đặc điểm; bảng phân nhóm | Mẫu 9, 10 |
| Nghị luận | Ý kiến → lí lẽ → bằng chứng; sơ đồ luận điểm | Mẫu 11, 12 |
Dàn ý – các bước tóm tắt văn bản bằng sơ đồ
1. Trước khi vẽ: đọc và rút ý
– Đọc hết văn bản ít nhất hai lần; lần thứ hai đánh số các đoạn hoặc các sự việc ra lề vở nháp.
– Tự hỏi: văn bản này nói về điều gì? Ghi câu đáp vào nháp; nó sẽ thành ô trung tâm hoặc tiêu đề của sơ đồ.
– Ở mỗi đoạn, mỗi phần, gạch dưới vài từ khóa: từ lặp lại nhiều lần, chữ in đậm, đề mục, tên nhân vật, mốc thời gian, con số.
– Xác định quan hệ giữa các từ khóa: điều gì xảy ra trước, điều gì là nguyên nhân, điều gì là ví dụ cho điều gì.
2. Vẽ sơ đồ
– Chọn dạng sơ đồ hợp với cách văn bản sắp xếp ý (xem bảng ở trên).
– Đếm số phần, số sự việc để biết cần bao nhiêu ô lớn; ý nhỏ đặt vào ô nhỏ hơn hoặc nhánh con.
– Ghi từ khóa vào ô, nối bằng mũi tên, đường thẳng hoặc đường cong; mỗi kiểu đường chỉ dành cho một kiểu quan hệ.
– Có thể thêm hình vẽ nhỏ, kí hiệu, màu để phân nhóm ý, miễn là chữ vẫn đọc rõ.
3. Kiểm tra và chỉnh sửa
– Úp văn bản xuống, chỉ nhìn sơ đồ và kể lại; kể được đủ ý, đúng trình tự là sơ đồ đạt.
– Ô nào còn là câu dài chép từ sách thì rút lại thành cụm từ.
– Soát chiều mũi tên, vị trí các ô, tên riêng, ngày tháng, con số so với văn bản gốc.
– Với đề của Cánh diều, nếu thầy cô yêu cầu cách thông dụng, dựa vào sơ đồ viết một đoạn văn ngắn, giữ đúng thứ tự các ô.
Sơ đồ cho truyện: truyền thuyết và truyện đồng thoại
Ba mẫu đầu dành cho văn bản truyện, nơi mỗi ô là một sự việc và mũi tên chỉ thứ tự trước sau. Các sơ đồ ở trang này viết bằng chữ để em chép thẳng vào vở; khi làm bài, mỗi dòng có thể vẽ thành một khung riêng.
Mẫu 1: Thánh Gióng – chuỗi sáu ô sự việc
Chân trời sáng tạo chọn chính truyền thuyết này để minh họa cách vẽ sơ đồ. Bản dưới đây dựng lại câu chuyện thành sáu ô nối liền, ô nào cũng mở đầu bằng một việc làm của nhân vật.
Sơ đồ
Thánh Gióng – người anh hùng làng Gióng đánh tan giặc Ân
- Ra đời lạ: mẹ ướm thử dấu chân khổng lồ ngoài ruộng → có mang suốt mười hai tháng → con lên ba chưa nói, chưa cười, chưa đi
- → Giặc Ân xâm lược, sứ giả đi khắp nơi rao tìm người cứu nước → Gióng bất ngờ lên tiếng, xin ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt
- → Gióng lớn vùn vụt, bao nhiêu nồi cơm cũng hết → bà con trong làng góp gạo nuôi
- → Đồ sắt mang tới → Gióng vươn vai, hóa tráng sĩ, nhảy lên ngựa ra trận
- → Ngựa phun lửa thiêu giặc → roi gãy giữa trận, Gióng nhổ tre bên đường quật tiếp → giặc tan
- → Lên đỉnh núi Sóc, cởi giáp, người cùng ngựa vút lên cao rồi khuất hẳn → vua phong Phù Đổng Thiên Vương, lập đền thờ; dấu tích còn lại: tre đằng ngà, chuỗi ao hồ, làng Cháy
Đọc sơ đồ thành lời
Thời vua Hùng thứ sáu, một bà mẹ ở làng Gióng đặt chân vào vết chân lạ ngoài ruộng, về nhà thì có mang, phải tròn mười hai tháng đứa con mới chào đời. Đứa trẻ ba tuổi mà vẫn đặt đâu yên đấy, không nói, không cười. Đến khi giặc Ân kéo tới và tiếng rao của sứ giả vang đến làng, cậu bỗng mở miệng, bảo sứ giả xin vua rèn cho ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt. Kể từ hôm ấy, thân hình cậu lớn vụt, ăn bao nhiêu cũng chưa đủ, cả làng phải chung gạo nuôi. Đồ sắt vừa đưa tới, Gióng vươn vai hóa thành tráng sĩ, cưỡi ngựa xông vào quân giặc. Roi gãy, chàng nhổ những bụi tre ven đường đánh tiếp cho tới khi giặc tan. Xong việc, Gióng phi ngựa lên núi Sóc, để lại áo giáp sắt trên núi rồi cùng ngựa bay đi. Nhà vua phong chàng là Phù Đổng Thiên Vương; tre đằng ngà, những ao hồ nối nhau và làng Cháy được coi là dấu vết của trận đánh năm xưa.
Vì sao chọn dạng này
Truyện đi theo một mạch thẳng, việc trước mở đường cho việc sau, nên chuỗi mũi tên là vừa đủ. Mẹo rút từ khóa: mỗi ô bắt đầu bằng một động từ mạnh (ra đời, cất tiếng, vươn vai, nhổ tre, bay lên trời), chỉ cần đọc lướt các động từ ấy là nhớ lại cả câu chuyện.
Mẫu 2: Sự tích Hồ Gươm – hai nhánh mượn gươm và trả gươm
Thanh gươm thần từ đâu tới, rồi đi về đâu? Trả lời được hai câu hỏi ấy là nắm được cả truyền thuyết, vì vậy sơ đồ tách thành hai nhánh đặt cạnh nhau, cùng xuất phát từ một ô trên cùng.
Sơ đồ
Ô trên cùng: Long Quân cho nghĩa quân Lam Sơn mượn gươm thần đánh giặc Minh, rồi lấy lại khi đất nước đã yên.
- Nhánh trái – Mượn gươm (lí do: giặc Minh tàn bạo, nghĩa quân còn yếu, nhiều lần thua)
- Lê Thận đi đánh cá, ba lần thả lưới đều kéo lên cùng một thanh sắt → nhìn kĩ là lưỡi gươm → đem về nhà
- Lê Lợi ghé nhà Lê Thận → lưỡi gươm trong góc tối bừng sáng, trên lưỡi hiện hai chữ Thuận Thiên
- Một lần chạy giặc qua rừng → Lê Lợi thấy vật gì lấp lánh trên ngọn đa → chuôi gươm nạm ngọc
- Lưỡi tra vào chuôi khớp hoàn toàn → Lê Thận dâng gươm, tôn Lê Lợi làm chủ tướng
- Có gươm thần → nghĩa quân thắng trận liên tiếp → quét sạch giặc Minh
- Nhánh phải – Trả gươm (lí do: giặc đã tan, gươm đã xong việc)
- Khoảng một năm sau ngày thắng giặc, Lê Lợi đã làm vua → ngự thuyền rồng đi chơi hồ Tả Vọng
- Rùa Vàng nổi lên, xin vua hoàn gươm cho Long Quân → vua trao gươm, rùa ngậm gươm lặn xuống đáy hồ
- Từ đó hồ mang tên Hồ Gươm, còn gọi là hồ Hoàn Kiếm
Đọc sơ đồ thành lời
Khi nghĩa quân Lam Sơn còn non yếu trước quân Minh, Long Quân quyết định cho họ mượn gươm thần. Lưỡi gươm mắc vào lưới của Lê Thận, một người đánh cá, đến lần thứ ba anh mới nhận ra đó là gươm và mang về. Một hôm Lê Lợi tới nhà, lưỡi gươm tự phát sáng, hiện rõ hai chữ Thuận Thiên. Sau đó, trong lúc chạy giặc qua rừng, Lê Lợi bắt gặp chuôi gươm nạm ngọc sáng trên ngọn đa. Ghép hai phần lại thì khớp nhau, Lê Thận liền dâng gươm cho chủ tướng. Nhờ gươm thần, nghĩa quân thắng liên tiếp và đuổi sạch giặc. Chừng một năm sau ngày thắng giặc, vua Lê dạo thuyền trên hồ Tả Vọng thì Rùa Vàng nhô lên xin lại thanh gươm. Vua trao gươm, rùa lặn mất, và hồ được gọi là hồ Hoàn Kiếm từ đó.
Vì sao chọn dạng này
Hồ Gươm có hai chặng đối xứng: gươm lên khỏi nước rồi trở về nước. Đặt hai nhánh song song, người xem thấy ngay sự đối xứng ấy, điều mà một chuỗi dọc khó cho thấy. Mẹo: ghi lí do ngay dưới tên mỗi nhánh để sơ đồ trả lời luôn câu hỏi vì sao cho mượn và vì sao phải trả.
Mẫu 3: Bài học đường đời đầu tiên – năm sự việc và một ô bài học
Mẫu ngắn này dành cho lúc chỉ có ít phút: năm ô sự việc nối nhau, ô bài học đóng khung riêng ở cuối.
Sơ đồ
- Dế Mèn tuổi mới lớn, khỏe và đẹp → tự cho mình nhất, hống hách với cả xóm
- → Sang nhà Dế Choắt ốm yếu → chê bai, từ chối giúp đào ngách thông hang
- → Gặp chị Cốc → cất giọng trêu rồi chui tọt vào hang
- → Chị Cốc nổi giận, tưởng Choắt trêu mình → mổ Choắt trọng thương
- → Choắt trước lúc chết khuyên Mèn bỏ thói ngông cuồng → Mèn chôn bạn, hối hận
Ô bài học: kiêu căng, gây chuyện mà không nghĩ tới hậu quả thì có thể hại người khác và hại chính mình.
Đọc sơ đồ thành lời
Dế Mèn cậy mình cường tráng nên coi thường mọi người, nhất là Choắt, anh chàng dế ốm yếu sống sát vách. Choắt nhờ đào một ngách nhỏ để có lối chạy sang khi gặp nguy, Mèn gạt đi bằng giọng khinh khỉnh. Chưa hết, Mèn còn bày trò trêu chị Cốc cho vui rồi lủi mất dưới đất. Chị Cốc không thấy kẻ hỗn láo đâu, liền trút cơn giận lên đầu Choắt đang đứng ngoài cửa. Lúc hấp hối, Choắt không oán trách mà chỉ dặn Mèn đừng sống ngông cuồng nữa. Đứng bên nấm mồ của bạn, Mèn mới thấm thía cái giá của thói kiêu căng: đó là bài học đường đời đầu tiên của chú.
Vì sao chọn dạng này
Dế Mèn tự kể chuyện mình, các sự việc nối nhau rất chặt, nên chỉ cần một chuỗi ngắn; điều đáng nhớ nhất của truyện được tách thành ô bài học để nổi bật. Truyện của Tô Hoài vẫn đang được pháp luật bảo vệ bản quyền, nên các ô chỉ ghi từ khóa tự rút ra, kể cả lời dặn của Dế Choắt cũng được nói lại bằng lời mình.
Sơ đồ cho văn bản thông tin
Năm mẫu tiếp theo là văn bản thông tin trong Kết nối tri thức và Cánh diều. Với kiểu văn bản này, hãy nhìn trước nhan đề, phần sa pô in đậm, các đề mục, vì chúng thường gợi sẵn khung cho sơ đồ.
Mẫu 4: Trái Đất – cái nôi của sự sống – sơ đồ cây ý chính, ý phụ
Bài viết của Hồ Thanh Trang có sa pô nêu ba câu hỏi và năm đề mục rõ ràng, nên sơ đồ hình cây là lựa chọn tự nhiên: gốc là nhan đề, năm cành lớn ứng với năm đề mục, các nhánh nhỏ là thông tin cụ thể dưới mỗi đề mục.
Sơ đồ
Gốc: Trái Đất – cái nôi của sự sống (ngôi nhà có sự sống duy nhất mà ta biết quanh Mặt Trời; nay đang bị tổn thương)
- Cành 1. Chỗ đứng trong hệ Mặt Trời
- một trong tám hành tinh
- xoay quanh trục của mình → một vòng là một ngày
- chuyển động trên quỹ đạo e-líp quanh Mặt Trời → trọn một vòng là một năm
- Cành 2. Nước giữ gìn sự sống
- nước trải trên phần lớn hành tinh (gần ba phần tư): đại dương, băng hai cực, tuyết trên đỉnh núi, sông suối
- nhìn từ vũ trụ: một giọt nước xanh khổng lồ
- không nước → hành tinh khô chết; có nước → sự sống nảy nở, từ vi sinh vật tới động vật có thần kinh phát triển
- Cành 3. Ngôi nhà của muôn loài
- loài bé tới mức phải soi kính hiển vi
- loài khổng lồ: khủng long thời xa xưa (nay chỉ còn hóa thạch), cá voi xanh, bao báp
- rừng, biển, vườn, chuồng trại đâu cũng có sự sống, mọi dạng sống theo quy luật sinh học, còn nhiều bí ẩn
- Cành 4. Con người
- đỉnh cao của sự sống: trí tuệ, tình cảm, tiếng nói, lao động làm Trái Đất thân thiện hơn
- song lại vắt kiệt thiên nhiên mà ít khi nghĩ tới hậu quả
- Cành 5. Trái Đất đang bị tổn thương
- rừng thu hẹp, hoang mạc lan rộng
- thú hoang bị săn bắt, biển bị vét cạn, rác nhựa hại sinh vật biển
- khí hậu ấm dần → băng ở hai cực tan → mực nước biển lên cao
- lớp ô-dôn có lỗ thủng; đất đai, nguồn nước, bầu khí quyển nhiễm bẩn
- câu hỏi bỏ ngỏ: hành tinh còn chịu được bao lâu?
Mũi tên chéo: cành 4 (con người vắt kiệt thiên nhiên) → cành 5 (Trái Đất tổn thương).
Đọc sơ đồ thành lời
Trong tám hành tinh quay quanh Mặt Trời, Trái Đất là nơi có ngày đêm nối nhau nhờ nó tự xoay, và có năm tháng nhờ nó đi trọn vòng quanh Mặt Trời. Thứ khiến nó khác hẳn các láng giềng là nước: gần ba phần tư diện tích bề mặt là nước, từ biển cả, băng cực tới sông ngòi, và nhờ nước mà sự sống nảy mầm rồi phát triển lên dần. Sinh vật có mặt khắp nơi, có loài bé đến nỗi chỉ thấy được dưới kính hiển vi, có loài khổng lồ như cá voi xanh. Con người vượt lên mọi loài nhờ trí tuệ, tình cảm và lao động, thế nhưng chính con người cũng đang vắt kiệt thiên nhiên. Kết quả là rừng mất dần, nhiều loài thú bị săn đuổi, rác nhựa tràn xuống biển, khí hậu ấm lên làm băng tan, đất đai và bầu khí quyển nhiễm bẩn. Văn bản khép lại bằng nỗi lo hành tinh xanh không thể chịu đựng mãi.
Vì sao chọn dạng này
Đề mục có sẵn trong văn bản chính là cành của cây, em không phải tự nghĩ cách chia. Chỗ đáng giá nhất của sơ đồ là mũi tên chéo nối cành 4 với cành 5: chỉ một nét vẽ, người xem hiểu tình trạng của Trái Đất có phần do con người gây ra. Nếu vẽ bằng bút màu, hãy tô cành 5 khác màu bốn cành còn lại để thấy văn bản chuyển từ giới thiệu sang cảnh báo.
Mẫu 5: Các loài chung sống với nhau như thế nào? – bảng hỏi và đáp
Nhan đề của văn bản đã là một câu hỏi, nên em tóm tắt bằng cách đặt thêm những câu hỏi nhỏ cho từng đoạn rồi trả lời ngắn ở cột bên phải. Phía trên bảng là một vòng tròn nhỏ dựng theo đúng ví dụ mà sách Kết nối tri thức dùng để dạy cách chọn từ khóa.
Sơ đồ
Vòng đời theo lời Mu-pha-sa: sư tử → chết → thân xác hóa thành cỏ → cỏ nuôi linh dương → linh dương nuôi sư tử → (quay lại ô đầu)
| Câu hỏi | Trả lời bằng từ khóa |
|---|---|
| Văn bản mở đầu bằng gì? | Một cảnh phim hoạt hình Vua sư tử: Mu-pha-sa dạy Xim-ba về thế cân bằng mong manh và sự tôn trọng mọi loài |
| Trái Đất có bao nhiêu loài? | Ước tính vượt mười triệu loài; giới khoa học mới mô tả được khoảng 1,4 triệu |
| Các loài sống theo cách nào? | Quây quần thành quần xã, mỗi quần xã thuộc một vùng sinh thái rộng (biome); độ đa dạng phụ thuộc vào cạnh tranh, quan hệ con mồi – kẻ săn mồi, biến đổi môi trường |
| Trong quần xã có trật tự gì? | Loài ưu thế (cây thông trong rừng thông), loài chủ chốt (sư tử, cá sấu), ngoài ra còn loài thứ yếu, loài ngẫu nhiên…; các loài chia nhau chỗ ở theo tầng cao thấp hoặc trải trên mặt đất |
| Các loài đối xử với nhau ra sao? | Vừa hỗ trợ vừa đối kháng → giữ được cân bằng; loài này tăng hay giảm kéo theo loài khác đổi theo |
| Con người ở vị trí nào? | Cũng chỉ là một loài; kiêu ngạo, tự cho mình là chúa tể → xáo trộn trật tự tự nhiên; đã bắt đầu học cách sống hài hòa |
| Văn bản kết thúc ra sao? | Trở lại lời Mu-pha-sa: mọi loài cùng thuộc một vòng đời không dứt |
Đọc sơ đồ thành lời
Mượn cuộc trò chuyện giữa hai cha con sư tử trong phim Vua sư tử, văn bản đặt vấn đề về thế cân bằng giữa muôn loài. Số loài trên hành tinh được ước tính vượt mười triệu, mà ta mới biết tên một phần nhỏ. Các loài sống thành quần xã, trong đó mỗi loài giữ một vai trò, có loài chiếm ưu thế, có loài chủ chốt điều khiển các loài khác, và chúng chia nhau chỗ sống để bớt tranh giành. Giữa các loài có cả giúp đỡ lẫn đối đầu; nhờ vậy tự nhiên giữ được cân bằng. Loài người không đứng ngoài thế giới ấy, nhưng sự kiêu ngạo đã khiến ta làm đảo lộn trật tự của nó, và nay ta đang phải tìm cách sống hòa thuận với thiên nhiên.
Vì sao chọn dạng này
Dạng hỏi – đáp hợp với văn bản giải thích: mỗi đoạn trả lời một câu hỏi nhỏ, đếm số dòng là biết văn bản có mấy ý. Mẹo: câu hỏi nên ngắn và dùng những từ để hỏi khác nhau (bao nhiêu, theo cách nào, ở vị trí nào) để mỗi dòng nhắm trúng một ý.
Mẫu 6: Điều gì giúp bóng đá Việt Nam chiến thắng? – nguyên nhân và kết quả
Bài báo nêu kết quả trước rồi mới giải thích, còn sơ đồ đi chiều ngược lại: năm ô nguyên nhân xếp một bên, cùng chĩa mũi tên vào một ô kết quả. Đây cũng là văn bản Cánh diều dùng làm ví dụ ở mục Tóm tắt văn bản thông tin, nên mẫu này có thêm một bản viết thành đoạn.
Sơ đồ
Năm nguyên nhân (theo nhận định của Smmsport, một tờ báo Thái Lan, được bài báo dẫn lại)
- (1) Cầu thủ khát khao chiến thắng →
- (2) Tự tin, không ngại bất kì đối thủ nào →
- (3) Giải V-League ngày càng chuyên nghiệp, chú trọng cầu thủ trẻ →
- (4) Cầu thủ chơi cùng nhau nhiều năm, phối hợp ăn ý →
- (5) Nhà cầm quân đến từ Hàn Quốc: tận tâm, biết đặt cầu thủ đúng vị trí →
Ô kết quả: bóng đá Việt Nam dẫn đầu Đông Nam Á – đội tuyển nam vô địch AFF Cup 2018; ở SEA Games năm 2019, đội U22 và đội tuyển nữ cùng giành huy chương vàng.
Viết lại theo cách thông dụng (đoạn văn)
Văn bản giải thích vì sao bóng đá Việt Nam liên tiếp thắng lớn ở khu vực, với chức vô địch AFF Cup 2018 và hai tấm huy chương vàng SEA Games 2019 của đội U22 và đội nữ. Dẫn lời một tờ báo Thái Lan, bài viết nêu năm lí do. Thứ nhất, các cầu thủ luôn khao khát chiến thắng. Thứ hai, họ không e ngại bất cứ đội bóng nào. Thứ ba, giải vô địch quốc gia được tổ chức bài bản hơn và coi trọng lớp trẻ. Thứ tư, đội hình đã gắn bó nhiều năm nên rất hiểu nhau. Cuối cùng, đội được dẫn dắt bởi một nhà cầm quân Hàn Quốc nhiều nhiệt huyết, biết bố trí mỗi cầu thủ vào chỗ hợp nhất.
Vì sao chọn dạng này
Khi văn bản trả lời câu hỏi vì sao, hãy để các mũi tên hội tụ về một ô: liếc qua là thấy nhiều nguyên nhân góp lại thành một kết quả. Năm ô giữ nguyên thứ tự đánh số của bài báo để người xem dễ đối chiếu.
Mẫu 7: Phạm Tuyên và ca khúc mừng chiến thắng – trục thời gian
Bài hát Như có Bác trong ngày đại thắng được viết xong trong vài giờ nhưng phải chờ thêm hai ngày mới đến tai người nghe. Muốn thấy rõ quãng chờ ấy, em vẽ một trục thời gian, mỗi mốc là một ô.
Sơ đồ
- Đầu tháng 4/1975: tin thắng trận dồn dập → nhạc sĩ ấp ủ một bản hợp xướng đồ sộ → viết chưa xong thì quân ta đã tiến quá nhanh
- → Ngày 28/4/1975: Đài Tiếng nói Việt Nam đưa tin phi công Nguyễn Thành Trung ném bom sân bay Tân Sơn Nhất → Phạm Tuyên đoán chiến thắng cuối cùng sắp tới, quyết định viết một bài hát ngắn → xong trong khoảng hai giờ
- → Sau đó: đưa bài đi duyệt → bị chê nghe giống bài hát thiếu nhi, định để tới dịp kỉ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5
- → Ngày 30/4/1975: miền Nam giải phóng; Giám đốc Đài cần ngay một bài hát mới → nghe hát thử, cho thu thanh liền
- → Đêm 30/4 và ngày 1/5: bài hát được phát nhiều lần, vang trên loa khắp Hà Nội
- → Những năm về sau: mọi lứa tuổi đều thuộc; bài hát có số phận lạ lùng hơn mọi sáng tác khác của ông
Đọc sơ đồ thành lời
Tháng 4/1975, tin chiến thắng từ miền Nam về liên tục, Phạm Tuyên muốn viết một tác phẩm đồ sộ mà không kịp. Ngày 28/4, nghe tin sân bay Tân Sơn Nhất bị ném bom, ông đoán ngày thống nhất chỉ còn tính bằng ngày nên ngồi viết một ca khúc ngắn, chừng hai giờ là xong. Hội đồng duyệt chưa ưng, muốn để dành đến ngày 7/5. Thế rồi trưa 30/4 miền Nam giải phóng, Đài Tiếng nói Việt Nam cần bài hát gấp, và ca khúc được thu thanh ngay trong ngày. Từ đêm hôm ấy, giai điệu mừng chiến thắng vang khắp nơi và sống mãi tới tận bây giờ.
Vì sao chọn dạng này
Bài báo kể theo mạch nhân – quả, nhưng các mắt xích nối nhau đúng theo ngày tháng, nên trục thời gian cho thấy được cả hai. Cánh diều dặn giữ lại các mốc quan trọng khi tóm tắt văn bản thông tin; ở trục này, mốc nào cũng có ngày cụ thể, trừ mốc đầu và mốc cuối.
Mẫu 8: Diễn biến Chiến dịch Điện Biên Phủ – bảng ba đợt tiến công
Văn bản trong sách Cánh diều là một trang đồ họa thông tin do Thông tấn xã Việt Nam làm: chữ ít, chia sẵn thành ba ô theo ba đợt tiến công. Bản tóm tắt vì thế chỉ cần chuyển ba ô ấy thành ba hàng của một bảng, thêm một dòng mở và một dòng kết.
Sơ đồ
Dòng mở: Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 là trận then chốt của kế hoạch tiến công Đông Xuân 1953 – 1954; toàn bộ chiến dịch diễn ra trong 56 ngày đêm.
| Đợt | Thời gian (theo văn bản) | Quân ta làm gì | Kết quả |
|---|---|---|---|
| Đợt 1 | 13/3 – 17/3 | Tiến công hai cứ điểm Him Lam và Độc Lập ở mặt bắc, đông bắc | Diệt hai vị trí phòng ngự mạnh nhất, mở cửa vào lòng chảo |
| Đợt 2 | 30/3 – 30/4 | Chiếm các điểm cao, siết vòng vây quanh khu trung tâm | Đợt dài và ác liệt nhất; địch bị dồn vào thế chống đỡ, tinh thần rệu rã |
| Đợt 3 | 1/5 – 7/5 | Tổng công kích vào toàn bộ các vị trí còn lại | Tập đoàn cứ điểm bị xóa sổ; đến ngày 7/5/1954 thì giành thắng lợi hoàn toàn |
Dòng kết: qua ba đợt nối nhau, thế trận đổi dần từ chỗ địch dựa vào hệ thống đồn lũy kiên cố sang chỗ ta làm chủ hoàn toàn, và chiến dịch khép lại bằng một thắng lợi trọn vẹn.
Vì sao chọn dạng này
Bảng gọn hơn mọi dạng khác khi văn bản chia sẵn giai đoạn và giai đoạn nào cũng có cùng loại thông tin (thời gian, việc làm, kết quả): đọc theo hàng là biết từng đợt, đọc dọc một cột là thấy cả quá trình. Lưu ý: có tài liệu lịch sử ghi đợt 2 kết thúc ngày 26/4; khi tóm tắt, em giữ đúng mốc của văn bản đang tóm tắt, nếu muốn ghi khác thì chú thích nguồn. Mẫu này cố ý không có đoạn đọc thành lời, vì bảng đã đủ rõ để em tự nói lại.
Sơ đồ cho kí và hồi kí
Kí và hồi kí thường tả cảnh, tả loài vật, ghi lại cảm xúc, ít có chuỗi sự việc như truyện. Sơ đồ cho hai văn bản dưới đây vì thế không chạy thành chuỗi mà tỏa thành nhánh hoặc chia thành nhóm.
Mẫu 9: Hang Én – các nhánh đặc điểm tỏa từ một ô trung tâm
Bài kí của Hà My kể chuyến đi bộ vào hang Én, trong vùng lõi Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (thuộc Quảng Bình cũ, nay thuộc tỉnh Quảng Trị). Người viết vừa đi vừa ngắm, nên nội dung là một chùm đặc điểm hơn là một chuỗi sự việc.
Sơ đồ
Ô trung tâm: Hang Én – tổ ấm khổng lồ giữa rừng già
- Đường tới hang
- (1) không có xe, chỉ đi bằng đôi chân: băng qua rừng già, lội chừng ba mươi khúc sông suối
- (2) dốc Ba Giàn gần 2 km: lối đi chỉ đủ một người lách qua, trơn, cây đổ, dây leo chắn ngang; cây cổ thụ, phong lan, sên, vắt
- (3) thung lũng Rào Thương: suối trong thấy đáy sỏi, bướm nhiều màu đậu thành từng mảng
- Lòng hang
- ba cửa hang; vào trong phải lội nước, leo vách đá, ngồi bè
- rộng mênh mông, trần cao ngang một tòa nhà bốn mươi tầng
- một cửa mở lên trời, đón nắng và gió
- Chim én
- làm tổ khắp vách hang
- hồn nhiên, không né tránh con người: chim bố mẹ bận kiếm mồi, chim non chập chững tập bay, có con lạc xuống tận chỗ người nằm
- Đá
- dải đá gốc san hô, hóa thạch vỏ sò ốc, nhũ đá, măng đá, ngọc động
- mỗi hình thù là công của nước và thời gian qua cả trăm triệu năm
- Đêm trong hang và buổi sớm hôm sau
- đêm: ngồi trên bãi cát, sông lấp lánh, trời sao ở miệng hang, chim ríu rít không ngớt
- sáng: nắng xiên vào làm lòng hang bừng sáng, mọi người xuống mép sông rửa mặt cho tỉnh
- Cảm nhận của người viết
- thiên nhiên kì vĩ mà gần gũi; hang như một tổ ấm che chở con người
Đọc sơ đồ thành lời
Muốn đến hang Én, đoàn khám phá phải cuốc bộ qua rừng già, leo con dốc Ba Giàn trơn trượt, qua thung lũng Rào Thương có suối trong và bướm đủ sắc. Hang có ba cửa; muốn vào tới khoảng rộng nhất bên trong, đoàn phải lội nước, leo đá và đi bè. Bên trong rộng đến choáng ngợp, trần hang cao như một tòa nhà chọc trời, một khoảng trần thủng mở ra bầu trời. Én ở khắp nơi, hồn nhiên tới mức không hề tránh người. Ở phía trong cùng là thế giới của đá, nơi san hô hóa thạch, nhũ đá, măng đá được thời gian tạc nên. Đêm trong hang có sao, có sông, có tiếng chim; khi trời hửng, ánh nắng rọi xuống, ai cũng nô nức ra mép nước. Người viết khép bài bằng cảm giác được thiên nhiên che chở như trong một tổ ấm.
Vì sao chọn dạng này
Các đặc điểm của hang đứng ngang hàng nhau, không cái nào là nguyên nhân của cái nào, nên sáu nhánh chỉ cần tỏa ra từ ô giữa, không dùng mũi tên chỉ thứ tự. Riêng nhánh đường tới hang có đánh số nhỏ (1), (2), (3), vì đó là một chặng đi theo đúng bước chân của đoàn.
Mẫu 10: Lao xao ngày hè – bảng phân nhóm các loài chim
Đoạn trích từ hồi kí Tuổi thơ im lặng của Duy Khán nhắc tới hơn chục loài chim. Kê tên từng loài thành chuỗi thì dài và khó nhớ; xếp chúng vào nhóm theo cách cậu bé trong truyện nhìn chúng thì vừa gọn vừa giữ được thái độ của người kể.
Sơ đồ
Khung mở: hè vừa sang ở làng quê: cây lá rậm rạp, hoa thơm, ong bướm rộn ràng → thế giới chim chóc lao xao.
| Nhóm | Các loài | Nhận ra nhờ đâu (theo lời kể) |
|---|---|---|
| Chim hiền, mang niềm vui | sáo sậu, sáo đen, tu hú, chim ngói, chim nhạn | gần gũi con người, báo mùa, bay lượn, hót mừng |
| Chim gắn với lời kể dân gian | bồ các, chim ri, bìm bịp | được nhắc trong bài đồng dao xếp vai vế bà con giữa các loài chim; tiếng kêu của bìm bịp gắn với chuyện ông sư hóa kiếp |
| Chim ác | diều hâu, quạ, chim cắt | rình bắt gà con, dòm ngó chuồng lợn, lao xuống bất ngờ |
| Chim trị kẻ ác | chèo bẻo | mang tiếng kẻ cắp mà gan dạ, dám đánh cả diều hâu, quạ, chim cắt → cậu bé chuyển từ ghét sang quý |
Dòng chốt: qua thế giới loài chim hiện lên một làng quê Bắc Bộ ngày hè sống động, cùng cái nhìn hồn nhiên, giàu hiểu biết dân gian của cậu bé.
Vì sao chọn dạng này
Văn bản kể ra nhiều đối tượng cùng loại thì nên dùng bảng phân nhóm. Mẹo: đặt tên nhóm bằng một lời nhận xét (hiền, ác, trị ác) chứ không chỉ đánh số, như vậy bảng giữ được cả cách nhìn của người kể. Duy Khán mất năm 1993, sáng tác của ông vẫn đang được bảo hộ, vì vậy các tiếng kêu và câu đồng dao trong bài không được chép lại ở đây; muốn đọc thành lời, em chỉ việc đi lần lượt từ hàng trên xuống hàng dưới.
Sơ đồ cho văn bản nghị luận
Văn bản nghị luận không kể chuyện mà nêu ý kiến rồi chứng minh, vì thế sơ đồ cần cho thấy các tầng: ý kiến lớn, lí lẽ đỡ cho ý kiến, bằng chứng đỡ cho lí lẽ.
Mẫu 11: Học thầy, học bạn – ý kiến, lí lẽ, bằng chứng
Bài viết của Nguyễn Thanh Tú bắt đầu từ hai câu tục ngữ ai cũng thuộc: Không thầy đố mày làm nên và Học thầy không tày học bạn. Liệu hai lời khuyên ấy có trái nhau? Sơ đồ bên dưới ghi lại cách tác giả trả lời.
Sơ đồ
Vấn đề: học thầy với học bạn, cái nào cần hơn; hai câu tục ngữ có mâu thuẫn không?
- Ý kiến 1: người thầy quan trọng trước hết
- Lí lẽ → dân tộc ta trọng đạo thầy trò; nghề nào, việc nào cũng cần người thầy giỏi dẫn dắt
- Bằng chứng → cậu bé Đa Vin-chi theo học Ve-rốc-chi-ô, ngày ngày chỉ vẽ trứng → hiểu rằng không quả trứng nào giống hệt quả nào → kiên trì luyện tập → thành danh họa
- Ý kiến 2: học bạn cũng rất cần
- Lí lẽ → việc học không chọn chỗ, chọn giờ, chọn người; bạn cùng lứa cùng sở thích nên trao đổi dễ dàng
- Bằng chứng → trong giờ thảo luận nhóm, mỗi người lượm thêm cách làm hay của những người cùng nhóm
- Kết luận → hai lời khuyên bổ sung cho nhau; thầy được ví với ngọn hải đăng, còn bạn bè là những người cùng đi trên đường học
Đọc sơ đồ thành lời
Hai câu tục ngữ nghe qua thì ngược nhau, và văn bản lần lượt gỡ điều tưởng như mâu thuẫn ấy. Theo tác giả, học thầy quan trọng trước hết, vì không có người giỏi chỉ dẫn thì ai cũng khó thành công; câu chuyện Đa Vin-chi kiên nhẫn vẽ trứng theo lời thầy Ve-rốc-chi-ô là bằng chứng. Mặt khác, học bạn cũng cần thiết, bởi ta phải học từ mọi người, và bạn bè cùng trang lứa dễ chia sẻ với nhau, như trong những giờ thảo luận nhóm. Từ đó, tác giả kết luận hai lời khuyên không loại trừ mà bổ sung cho nhau.
Vì sao chọn dạng này
Ba tầng ý kiến – lí lẽ – bằng chứng đúng như cách Chân trời sáng tạo dạy ở Bài 8, nên sơ đồ này dùng lại được khi làm phần đọc hiểu. Mẹo: ghi hẳn chữ Lí lẽ và Bằng chứng ở đầu mỗi nhánh con để khỏi lẫn lí lẽ với dẫn chứng.
Mẫu 12: Vì sao chúng ta phải đối xử thân thiện với động vật? – sơ đồ luận điểm
Nhan đề hỏi vì sao, nên phần lớn văn bản là các lí do, lời kêu gọi chỉ đến ở cuối. Sơ đồ đặt ý kiến chung lên đầu, bên dưới là bốn luận điểm về sự gắn bó giữa người và vật, một luận điểm về thực trạng, rồi khép bằng ô kết luận. Văn bản là bản dịch từ bộ sách 10 vạn câu hỏi vì sao, được Cánh diều đưa vào Bài 8.
Sơ đồ
Ý kiến chung: con người cần thân thiện, cảm thông và bảo vệ động vật, vì muôn loài và loài người ở chung một ngôi nhà.
- Luận điểm 1 – Tuổi thơ nào cũng có bóng dáng con vật → trẻ nhỏ mải ngắm kiến tha mồi, buộc chỉ vào cánh cam thả như thả diều → tâm hồn thêm phong phú
- Luận điểm 2 – Động vật làm nên nhịp sống làng quê → sớm mai gà gáy, chim chuyền cành, đàn bò thủng thẳng ra bãi, mẻ vó kéo lên đầy tôm cá
- Luận điểm 3 – Loài người thuộc thế giới động vật → khỉ ở công viên: khỉ mẹ ôm con cho bú, bóc vỏ chuối khéo như người → theo khoa học, người với khỉ, vượn cùng một tổ tiên xa
- Luận điểm 4 – Mỗi loài có chỗ đứng trong hệ sinh thái → loài nào cũng do tự nhiên tạo ra qua thời gian rất dài → một loài biến mất là hệ sinh thái hổng một mắt xích, con người cũng chịu ảnh hưởng
- Luận điểm 5 – Thực trạng đáng lo → dân số tăng, nơi ở của các loài bị lấn chiếm; săn bắt, ngược đãi → nhiều loài đứng bên bờ diệt vong
Kết luận: hiểu và đồng cảm với động vật, đổi cách đối xử với chúng, cùng giữ gìn Trái Đất.
Đọc sơ đồ thành lời
Câu trả lời của văn bản gồm nhiều lí do nối tiếp. Trước hết, động vật có mặt trong tuổi thơ của mỗi người, từ đàn kiến tha mồi tới con cánh cam bị buộc chỉ làm diều. Buổi sớm ở quê sẽ trống trải biết bao nếu vắng tiếng gà, tiếng chim, vắng đàn bò thong thả ra đồng. Lũ khỉ trong công viên giống người tới mức khiến ta bất ngờ; các nhà nghiên cứu còn chỉ ra rằng người và khỉ, vượn có cùng một nguồn gốc, tức là chính ta cũng thuộc về muôn loài. Mỗi loài là thành quả của tự nhiên qua một thời gian rất dài, thiếu đi một loài thì mạng lưới sự sống bao quanh chúng ta cũng bị tổn hại. Thế nhưng các loài vật đang gặp nạn: dân số tăng, rừng đồng bị lấn, nhiều con vật bị săn đuổi, hành hạ. Vì vậy, văn bản kêu gọi mỗi người hiểu, thương và bảo vệ động vật để cùng giữ ngôi nhà chung.
Vì sao chọn dạng này
Khác Mẫu 11, sơ đồ luận điểm không tách lí lẽ với bằng chứng: mỗi nhánh gói luôn ví dụ sau mũi tên, hợp với văn bản có nhiều lí do ngắn. Mẹo trình bày: bốn luận điểm đầu dùng một màu, luận điểm thực trạng một màu khác, để người xem thấy văn bản chuyển từ gắn bó sang lo âu.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi | Sửa thế nào |
|---|---|
| Chép nguyên câu dài trong sách vào ô | Rút còn cụm từ khóa; một ô tốt thường chỉ dài một dòng vở. Văn bản còn bảo hộ bản quyền thì càng phải dùng lời của mình. |
| Vẽ đẹp nhưng thiếu ý, nhất là thiếu phần kết của văn bản | Trước khi vẽ, đếm số đoạn hoặc số sự việc; vẽ xong đếm lại số ô cho khớp. |
| Mũi tên lung tung, có ô đứng lẻ không nối với ô nào | Mỗi ô phải nối ít nhất một đường; mũi tên chỉ dùng cho quan hệ trước – sau hoặc nhân – quả, ý nhỏ thuộc ý lớn thì nối bằng đường thẳng. |
| Đưa cảm nghĩ của mình vào sơ đồ | Sơ đồ chỉ ghi điều văn bản nói. Muốn nêu cảm nghĩ, viết ra ngoài khung hoặc ở phần trả lời khác. |
| Dùng một kiểu sơ đồ cho mọi văn bản | Xem văn bản sắp ý theo thời gian, theo đề mục, theo nhân – quả hay theo ý kiến – lí lẽ rồi mới chọn hình. |
| Sai tên riêng, ngày tháng, con số | Đối chiếu lại với văn bản gốc; tên nhân vật nước ngoài viết đúng phiên âm trong sách (Mu-pha-sa, Ve-rốc-chi-ô…). |
| Thiếu ô trung tâm hoặc tiêu đề | Luôn ghi tên văn bản và một câu nội dung bao quát ở trên cùng hoặc ở giữa. |
| Bài Cánh diều viết đoạn tóm tắt dài gần bằng văn bản gốc | Đoạn tóm tắt chỉ nên dài khoảng một phần năm đến một phần ba văn bản; mỗi ý một hai câu, giữ mốc thời gian quan trọng. |
Ba mẹo nhỏ khi làm bài trên lớp:
- Phác khung bằng bút chì trước, viết chữ vào sau; sai chỗ nào tẩy chỗ ấy mà sơ đồ vẫn sạch.
- Tự kiểm tra bằng cách đưa sơ đồ cho một bạn chưa đọc văn bản và nhờ bạn kể lại; bạn kể sai chỗ nào là sơ đồ còn mờ ở chỗ ấy.
- Thống nhất kí hiệu ngay từ đầu: ô vuông cho sự việc hay ý chính, ô tròn cho ví dụ, mũi tên cho quan hệ trước – sau.
Chọn mẫu nào để luyện?
Nếu em học Kết nối tri thức, hãy luyện trước Mẫu 4 và Mẫu 5, vì đó là hai văn bản ngay trong Bài 9, rồi thử một dạng khác ở Mẫu 9 với bài Hang Én đã học từ tập 1. Học sinh dùng Chân trời sáng tạo nên bắt đầu từ Mẫu 1 và Mẫu 2 (hai truyền thuyết của Bài 1), sau đó xem Mẫu 10 và Mẫu 11 để thấy sơ đồ cho hồi kí, nghị luận khác sơ đồ cho truyện thế nào. Với Cánh diều, Mẫu 6 và Mẫu 7 thuộc chính Bài 10, Mẫu 8 và Mẫu 12 lấy từ các bài thông tin, nghị luận trước đó; riêng Mẫu 6 có cả bản đoạn văn để em so sánh hai cách tóm tắt mà sách cho phép. Khi chỉ có một tiết, Mẫu 3 và Mẫu 8 cho thấy một sơ đồ ngắn vẫn đủ ý; khi muốn luyện sơ đồ nhiều tầng, đọc Mẫu 4 và Mẫu 12.
Xem thêm:
- Soạn bài Trái Đất – cái nôi của sự sống, Soạn bài Các loài chung sống với nhau như thế nào? (Bài 9, Kết nối tri thức 6)
- Soạn bài Thánh Gióng, Soạn bài Sự tích Hồ Gươm, Soạn bài Bánh chưng, bánh giầy, Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân (Bài 1, Chân trời sáng tạo 6)
- Soạn bài Điều gì giúp bóng đá Việt Nam chiến thắng?, Soạn bài Phạm Tuyên và ca khúc mừng chiến thắng (Bài 10, Cánh diều 6)
- Các văn bản khác trong trang: Diễn biến Chiến dịch Điện Biên Phủ, Hang Én, Lao xao ngày hè, Học thầy, học bạn, Vì sao chúng ta phải đối xử thân thiện với động vật?, Bài học đường đời đầu tiên
- Tóm tắt bằng đoạn văn: Tóm tắt Thánh Gióng, Tóm tắt Sự tích Hồ Gươm, Tóm tắt Bài học đường đời đầu tiên, Tóm tắt Trái Đất – cái nôi của sự sống, Tóm tắt Hang Én, Tóm tắt Lao xao ngày hè, Tóm tắt Học thầy, học bạn
- Văn mẫu lớp 6 khác: Thuyết minh thuật lại một sự kiện, Kể lại một truyện cổ tích, truyền thuyết
- Cùng Bài 9 (Kết nối tri thức) và Bài 10 (Cánh diều): Viết biên bản một cuộc họp, cuộc thảo luận; lên lớp 7 luyện tiếp: Tóm tắt văn bản theo yêu cầu khác nhau về độ dài