Năm 1973, Nguyễn Hiến Lê được chính quyền Sài Gòn chọn trao Giải Tuyên dương sự nghiệp văn chương – học thuật – mỹ thuật, kèm một triệu đồng, theo báo chí khi ấy tương đương khoảng 25 lượng vàng. Ông từ chối, và đề nghị dùng số tiền ấy giúp nạn nhân chiến tranh. Nguyễn Hiến Lê (1912 – 1984) là học giả, nhà văn, dịch giả miền Nam với khoảng 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn và dịch thuật, người đã dịch và đặt nhan đề tiếng Việt cho cuốn Đắc nhân tâm. Học sinh hôm nay gặp ông qua hai văn bản trong sách Ngữ văn 6 và 7 bộ Chân trời sáng tạo.
Lộc Đình: cái tên mang theo một con ngõ Hà Nội

| Tên thật | Nguyễn Hiến Lê |
| Bút danh | Lộc Đình |
| Năm sinh – năm mất | 8/1/1912 – 22/12/1984 |
| Quê quán | Làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội, vùng Ba Vì); lớn lên ở Hà Nội |
| Lĩnh vực | Sách tự học, học làm người; ngữ pháp, luyện văn; văn học, triết học, sử học Trung Quốc; du ký, hồi ký; dịch thuật |
| Tác phẩm tiêu biểu | Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, Luyện văn, Tự học – một nhu cầu thời đại, Đại cương triết học Trung Quốc, Đông Kinh nghĩa thục, Hồi ký Nguyễn Hiến Lê; dịch Đắc nhân tâm |
| Giải thưởng | Không nhận giải nào; từng từ chối hai giải thưởng văn chương |
| Trong SGK hiện hành | Một năm ở Tiểu học (Ngữ văn 6 CTST); Tự học – một thú vui bổ ích (Ngữ văn 7 CTST) |
Bút danh Lộc Đình có một gốc gác rất cụ thể. Theo hồi ký của ông, được Wikipedia và VnExpress dẫn lại, chữ “Lộc” lấy từ ngõ Phất Lộc trong phố cổ Hà Nội, nơi có nhà bà ngoại, còn chữ “Đình” là ngôi đình gần con ngõ ấy. Mẹ ông là người Hà Nội. Cha mất khi ông mới tám tuổi, người mẹ một mình nuôi con ăn học.
Ông học trường Yên Phụ, trường Bưởi, rồi vào trường Cao đẳng Công chánh Hà Nội và tốt nghiệp năm 1934. VnExpress cho biết một người bác ruột của ông từng là người của Đông Kinh nghĩa thục; về sau ông dành hẳn một cuốn sách để khảo cứu phong trào ấy.
Người kỹ sư đo nước khắp miền Tây
Ngày 19/1/1935, chàng kỹ sư hai mươi ba tuổi lên tàu từ ga Hàng Cỏ vào Sài Gòn nhận việc ở Sở Thủy lợi. Công việc đo đạc đưa ông đi khắp các tỉnh miền Tây, từ Tiền Giang, Hậu Giang đến Đồng Tháp Mười. Song song với nghề đo đạc, ông tập tành viết những trang ghi chép đường đi, những bài bàn luận và thử dịch sách.
Cuốn sách đầu tay Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười có số phận lận đận: bản thảo viết thời Thế chiến thứ hai bị thất lạc, ông phải viết lại sau năm 1945, mãi đến năm 1954 mới in. Đọc nó, ta thấy con mắt của một người làm thủy lợi: biết đường nước, biết đất phèn, biết đời sống người dân vùng trũng chứ không chỉ ngắm cảnh.
Sau Cách mạng tháng Tám, ông bỏ ngạch công chức, tản cư về Đồng Tháp Mười rồi dừng chân ở Long Xuyên, nhận lời mời đứng lớp tại trường Thoại Ngọc Hầu. Báo Pháp Luật TP.HCM ghi ông dạy ở đây chừng bốn năm, từ 1947 đến 1951. Vùng đất ấy rồi sẽ gắn với ông lâu hơn cả Hà Nội.
Đắc nhân tâm và con đường dịch giả tự học
Năm 1951, bản dịch How to Win Friends and Influence People của Dale Carnegie ra mắt bạn đọc miền Nam dưới cái tên Đắc nhân tâm, do nhà Phạm Văn Tươi in lần đầu. Nhan đề ba chữ Hán Việt ấy do chính Nguyễn Hiến Lê đặt và đến nay vẫn được dùng. Bốn năm sau, ông dịch tiếp Quẳng gánh lo đi và vui sống của cùng tác giả.
Điều đáng nói là phần lớn vốn ngoại ngữ của ông là tự học. Ông giỏi tiếng Pháp từ thời đi học, tự học tiếng Anh để dịch, và dịch cả từ tiếng Trung. Danh mục dịch thuật của ông trải rộng đến mức khó tin với một người làm việc một mình:
| Năm | Sách dịch | Tác giả gốc |
|---|---|---|
| 1951 | Đắc nhân tâm | Dale Carnegie |
| 1955 | Quẳng gánh lo đi và vui sống | Dale Carnegie |
| 1962 | Kiếp người | W. Somerset Maugham |
| 1968 | Chiến tranh và hòa bình (4 tập) | Lev Tolstoy |
| 1972 | Cầu sông Drina | Ivo Andrić |
| 1971 – 1975 | Lịch sử văn minh Ấn Độ, Nguồn gốc văn minh, Văn minh Ả Rập | Will Durant |
Riêng bộ sách của Will Durant, cộng cả cuốn Lịch sử văn minh Trung Quốc in sau khi ông mất, đã hơn 2.000 trang, có chú giải cẩn thận.
Một nhà xuất bản nhỏ và trăm đầu sách
Năm 1952, ông lên Sài Gòn, lập một nhà xuất bản mang tên mình và sống hẳn bằng nghề viết, dịch, làm báo (một nguồn ghi ông rời dạy năm 1953, lập nhà xuất bản năm 1954). Từ đó đến cuối đời, theo Wikipedia, trung bình mỗi năm ông cho ra ba bộ sách với khoảng 800 trang bản thảo; VnExpress đưa con số cao hơn, bốn bộ và 900 trang. Riêng thập niên 1960, ông viết khoảng năm chục đầu sách; tự in không quá bốn cuốn, phần lớn để các nhà Cảo Thơm, Khai Trí, Tao Đàn… xuất bản.
Gom theo đề tài, sách của ông chia thành mấy mảng khá rõ:
- Học làm người: Rèn nghị lực (1956), Tương lai trong tay ta (1962), Sống đẹp (1964), loạt sách gương danh nhân như Gương kiên nhẫn, Einstein.
- Tiếng Việt và nghề viết: Để hiểu văn phạm (1952), Luyện văn (3 tập, 1953–1957), Nghề viết văn (1956), Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam (1963, viết chung với Trương Văn Chình).
- Trung Quốc học: Đại cương văn học sử Trung Quốc, Đại cương triết học Trung Quốc (1965, viết với Giản Chi, khoảng 1.700 trang), Sử ký Tư Mã Thiên (1970), Tô Đông Pha (1970).
- Sử và văn hóa Việt Nam: Đông Kinh nghĩa thục (1956), Vấn đề xây dựng văn hóa (1967).
Ai quan tâm đến phong trào Đông Kinh nghĩa thục ở góc nhìn giáo dục có thể đọc thêm bài soạn bài Giáo dục khai phóng ở Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục trong chương trình Ngữ văn 12.
Hai lần từ chối giải thưởng
Nguyễn Hiến Lê nổi tiếng là người giữ mình đứng ngoài danh vị. Lần thứ nhất, ông không nhận Giải văn chương trao cho bộ Đại cương triết học Trung Quốc viết chung với Giản Chi (báo Sài Gòn Giải Phóng ghi năm 1966). Lần thứ hai là Giải Tuyên dương năm 1973 đã kể ở trên. Có lời mời ông vào Hội đồng Giáo dục toàn quốc, ông cũng khước từ; người rủ mở trường tư hay làm sách giáo khoa kiếm lời, ông đều không nhận.
Giải thích cho lối sống ấy, ông viết trong hồi ký một câu mà VnExpress và Sài Gòn Giải Phóng đều dẫn: “Tôi tri túc theo đạo Nho, cuộc sống như vầy là đủ quá rồi”. Theo lời con nuôi của ông kể với báo chí, ngày nào ông cũng ngồi vào bàn từ sáng, ăn mặc chỉnh tề như đi làm công sở, buổi tối chỉ đọc sách, khách đến chơi chỉ tiếp một lát rồi xin phép quay lại bàn viết.
Văn Nguyễn Hiến Lê trong sách giáo khoa
| Văn bản | Sách – bài học | Trích từ | Bài trên Văn VN |
|---|---|---|---|
| Một năm ở Tiểu học | Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 5 (đọc mở rộng theo thể loại) | Hồi ký Nguyễn Hiến Lê | Soạn bài Một năm ở Tiểu học |
| Tự học – một thú vui bổ ích | Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 6 (Hành trình tri thức) | Tự học – một nhu cầu thời đại | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Tóm tắt |
Hai văn bản cho thấy hai mặt của ông. Một năm ở Tiểu học là hồi ký, kể chuyện đi học thời thơ ấu bằng giọng điềm đạm, nhiều chi tiết. Tự học – một thú vui bổ ích là văn nghị luận, lấy ý từ một cuốn sách ông theo đuổi lâu năm: bản đầu ra năm 1954 với tên Tự học để thành công, đến năm 1964, theo báo Pháp Luật TP.HCM, được sửa lại thành Tự học – một nhu cầu thời đại. Một người tự học ngoại ngữ, tự học chữ Hán để dịch sách viết về tự học thì lời khuyên có sức nặng riêng.
Những năm cuối ở Long Xuyên

Sau năm 1975, Nguyễn Hiến Lê ở lại trong nước. Năm 1980, ông về hẳn Long Xuyên, sống trong căn nhà có thư phòng riêng mà nay con nuôi ông vẫn gìn giữ. Ở đây ông viết xong Hồi ký Nguyễn Hiến Lê vào tháng 9/1980, rồi tách phần chuyện nghề thành cuốn Đời viết văn của tôi, hoàn chỉnh năm 1983. Lời mở đầu cuốn sách tóm cả đời ông vào hai chữ học và viết, với câu mà báo chí hay nhắc: “tôi viết để học và học để viết”.
Ông mất ngày 22/12/1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh, khi đang chữa bệnh, thọ 72 tuổi. Theo ý nguyện, tang lễ rất giản dị và thi hài được hỏa táng. Tro cốt ban đầu đặt trong vườn nhà ở Long Xuyên, về sau được đưa về chùa Phước Ân ở huyện Lấp Vò (Đồng Tháp).
Đọc lại Nguyễn Hiến Lê hôm nay, có lẽ điều còn nguyên giá trị nhất không nằm ở một cuốn sách cụ thể, mà ở hình ảnh một người tự học suốt đời, sống thanh đạm và làm việc đều đặn như một người thợ.