Viết biên bản một cuộc họp, cuộc thảo luận là bài Viết thuộc nhóm văn bản thông tin ở học kì II lớp 6: Bài 9 (tập 2) của Ngữ văn 6 Kết nối tri thức, Bài 6 (tập 2) của Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo, nơi tên mục mở rộng thêm biên bản về một vụ việc; còn Ngữ văn 6 Cánh diều xếp mục này ở Bài 10 (tập 2) với tên gọn là Viết biên bản. Trang này gồm yêu cầu về thể thức theo từng bộ sách, một dàn ý có khung trống để tập điền và 12 biên bản mẫu: họp lớp, đại hội chi đội, thảo luận nhóm, họp bàn kế hoạch, một cuộc họp gia đình và hai biên bản ghi lại một việc đã xảy ra. Các cuộc họp, sự việc trong 12 biên bản đều do người soạn đặt ra để luyện viết; người, trường, lớp được nhắc tới là hư cấu.

Yêu cầu của kiểu văn bản biên bản
Biên bản ghi lại trung thực, chính xác những gì đã diễn ra trong một cuộc họp, một buổi thảo luận hay một vụ việc, ngay trong lúc nó diễn ra hoặc ngay sau đó. Người ghi, thường gọi là thư kí, không kể chuyện và không khen chê: thư kí chỉ ghi ai nói gì, ai làm gì, cả nhóm đã thống nhất điều gì. Biên bản được giữ lại để sau này lớp, thầy cô hay nhà trường dựa vào mà thực hiện, kiểm tra lại, hoặc dùng làm bằng chứng khi có điều cần làm rõ. Viết xong, hãy soát bản của mình theo bảng dưới đây.
| Phần | Biên bản đạt khi |
|---|---|
| Phần đầu | Góc trái ghi tên đơn vị tổ chức (trường, lớp, chi đội, câu lạc bộ, tổ); góc phải hoặc chính giữa là quốc hiệu và tiêu ngữ. |
| Tên biên bản | Chữ BIÊN BẢN viết in hoa ở giữa trang (có thể kèm loại: BIÊN BẢN HỌP LỚP, BIÊN BẢN THẢO LUẬN NHÓM…); dòng dưới nêu gọn nội dung, ví dụ Sơ kết thi đua nề nếp tháng 10. |
| Thời gian, địa điểm | Giờ bắt đầu, thứ, ngày tháng năm; nơi họp cụ thể: phòng học, thư viện, góc sân trường… |
| Thành phần | Số người có mặt trên tổng số, ai vắng và có lí do hay không, khách mời; họ tên chủ tọa (người điều khiển) và thư kí (người ghi). |
| Nội dung | Diễn biến theo đúng trình tự; mỗi ý kiến ghi tên người nói và ý chính; kết quả biểu quyết bằng con số; kết luận và phân công rõ ai làm việc gì, xong trước ngày nào. |
| Phần cuối | Giờ kết thúc; thư kí đã đọc lại cho mọi người nghe chưa, mọi người có thông qua không; chữ kí và họ tên của chủ tọa, thư kí. Biên bản ghi một vụ việc có thêm chữ kí người chứng kiến hoặc người nhận bàn giao. |
| Ngôn ngữ | Câu ngắn, mỗi câu một ý, hiểu theo một nghĩa; số liệu chính xác; không dùng từ cảm thán, không thêm nhận xét riêng của người ghi. |
Ba bộ sách cùng dạy một thể thức, nhưng phạm vi đề và điều được nhấn mạnh không giống nhau:
| Bộ sách | Vị trí | Điểm nhấn |
|---|---|---|
| Kết nối tri thức | Tập 2, Bài 9 Trái Đất – ngôi nhà chung | Học sinh đọc, phân tích một biên bản tham khảo của một lớp 6, rồi tự lí giải: một biên bản cần có tên gọi, cần ghi giờ giấc, nơi họp, người dự, ai điều khiển và ai ghi; phần nào phải ghi kĩ nhất; chữ kí cuối biên bản để làm gì; ngôn ngữ biên bản có gì dễ nhận ra. Phần thực hành đi qua ba bước: trước khi viết (nhớ lại một cuộc họp, chọn tên biên bản), viết, rồi chỉnh sửa. Đề chỉ yêu cầu cuộc họp hoặc cuộc thảo luận. |
| Chân trời sáng tạo | Tập 2, Bài 6 Điểm tựa tinh thần | Tên mục rộng nhất: ngoài cuộc họp, cuộc thảo luận còn có biên bản về một vụ việc. Sách đưa một bảng kiểm quy cách để soát: có quốc hiệu, tiêu ngữ chưa; có tên văn bản chưa; đã ghi lúc nào, ở đâu, ai dự, ai chủ trì, ai ghi chưa; diễn biến có đúng thực tế không; thư kí và chủ tọa đã cùng kí tên chưa. Đề viết: em được giao làm thư kí trong một buổi thảo luận nhóm hoặc một cuộc họp lớp, hãy ghi biên bản buổi ấy. |
| Cánh diều | Tập 2, Bài 10 Văn bản thông tin | Phần định hướng nói rõ có nhiều loại biên bản tùy nội dung (ghi một vụ việc, ghi một cuộc họp hay buổi thảo luận) và nêu bốn bước: xác định nội dung để đặt tên, thu thập thông tin, viết theo mẫu, đọc lại để sửa. Đề thực hành: nhân dịp Ngày Trái Đất (22-4), một tiết sinh hoạt của lớp được dành để bàn về việc dùng ít túi ni lông và đồ nhựa hơn; em ghi biên bản, viết tay hoặc soạn trên máy tính đều được. |
Biên bản khác bản tường trình và bài thuật lại sự kiện ở chỗ nào?
Cả ba loại đều ghi lại việc có thật, nhưng người viết đứng ở ba vị trí khác nhau. Bản tường trình do chính người liên quan viết sau một sự cố, xưng em, có lời cam đoan và đề nghị. Biên bản do thư kí ghi tại chỗ, kể ở ngôi thứ ba (bạn A phát biểu, tập thể biểu quyết…), cuối trang có chữ kí của cả chủ tọa lẫn thư kí. Bài thuật lại một sự kiện được viết sau, cho nhiều người đọc, nên người viết được chọn chi tiết hấp dẫn và nói cảm nghĩ; biên bản thì phải ghi đủ, kể cả những ý kiến không được thông qua.
Dàn ý biên bản một cuộc họp, cuộc thảo luận
1. Mở đầu: các dòng thể thức
– Góc trái: tên trường, tên lớp (chi đội, tổ, nhóm, câu lạc bộ).
– Quốc hiệu, tiêu ngữ.
– Tên biên bản: BIÊN BẢN… và dòng nêu nội dung chính.
– Thời gian bắt đầu (giờ, thứ, ngày tháng năm), địa điểm.
– Thành phần: có mặt bao nhiêu trên tổng số, vắng ai, khách mời; chủ tọa, thư kí.
2. Phần nội dung
a. Mục đích cuộc họp hoặc vấn đề cần thảo luận (chủ tọa nêu).
b. Các báo cáo, số liệu (nếu có).
c. Ý kiến phát biểu: tên người nói, ý chính; ý kiến đồng tình, phản biện, bổ sung.
d. Biểu quyết: hình thức (giơ tay, phiếu kín), số đồng ý, không đồng ý, tổng số người biểu quyết.
e. Kết luận của chủ tọa hoặc thầy cô; phân công công việc: ai, làm gì, hạn nào.
3. Phần kết thúc
– Giờ kết thúc; biên bản đã đọc lại cho mọi người nghe chưa, có ai bổ sung không.
– Chữ kí, họ tên thư kí (bên trái) và chủ tọa (bên phải).
Với biên bản ghi một vụ việc (Chân trời sáng tạo), phần nội dung thay bằng: thời gian, địa điểm phát hiện sự việc; người lập, người ghi, người có mặt; hiện trạng ghi nhận được (số lượng, tình trạng, điều chưa rõ); việc đã xử lí và ai xử lí; ai nhận bàn giao. Cuối biên bản có chữ kí của người lập, người ghi và người liên quan.
Khung trống để tập viết nháp
TRƯỜNG ……
LỚP ……
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN ……
……………… (nội dung)
Thời gian: … giờ … phút, thứ …, ngày … tháng … năm …
Địa điểm: ……
Thành phần: ……; có mặt …/…, vắng …
Chủ tọa: …… Thư kí: ……
Nội dung: 1. …… 2. …… 3. ……
Biểu quyết: đồng ý …/…; không đồng ý …
Kết luận, phân công: ……
Kết thúc lúc … giờ … phút; đọc lại cho mọi người nghe.
| Thư kí (Kí và ghi rõ họ tên) |
Chủ tọa (Kí và ghi rõ họ tên) |
Trong lúc họp, thư kí không cần viết câu hoàn chỉnh. Hãy kẻ sẵn khung, ghi tắt tên người nói, ghi ngay các con số và mốc giờ; họp xong mới chép sạch thành câu. Chép trong ngày, khi trí nhớ còn rõ, sẽ ít sai nhất.
Biên bản họp lớp, họp tổ và đại hội chi đội
Bốn biên bản đầu ghi những cuộc họp quen thuộc nhất ở lớp 6. Cuộc họp nào cũng do người soạn tự đặt ra, người dự họp và ngôi trường đều không có thật. Hãy chú ý cách mỗi biên bản ghi số liệu và kết quả biểu quyết.
Mẫu 1: Họp lớp sơ kết thi đua nề nếp tháng 10
Bối cảnh giả định: tiết sinh hoạt cuối tháng 10, lớp trưởng điều khiển, thư kí ghi theo từng phần của buổi họp.
TRƯỜNG THCS HƯỚNG DƯƠNG (giả định)
LỚP 6A2
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP LỚP
Sơ kết thi đua nề nếp tháng 10 năm 2025
Thời gian: bắt đầu lúc 10 giờ 15 phút, thứ Bảy, ngày 01 tháng 11 năm 2025 (tiết sinh hoạt lớp).
Địa điểm: phòng học lớp 6A2.
Thành phần: cô Lương Thị Hạnh, giáo viên chủ nhiệm; 39/40 học sinh, vắng một bạn nghỉ ốm có giấy xin phép.
Chủ tọa: Đỗ Minh Quân, lớp trưởng.
Thư kí: Vương Khánh Chi, lớp phó học tập.
1. Lớp trưởng báo cáo kết quả thi đua tháng 10
Bạn Minh Quân đọc bảng tổng hợp của ban cán sự:
– Học tập: lớp có 112 điểm 9 và điểm 10 ở các bài kiểm tra thường xuyên, nhiều hơn tháng 9 là 27 điểm; còn 6 lượt quên làm bài được giao về nhà, chủ yếu ở môn Toán và Tiếng Anh.
– Nề nếp: 5 lượt đi học muộn, 2 lượt thiếu khăn quàng trong giờ chào cờ; lớp bị trừ 8 điểm ở mục vệ sinh vì ngày 21/10 tổ trực quên đổ thùng rác.
– Xếp hạng: lớp đứng thứ 4 trong 9 lớp của khối 6.
2. Các tổ trưởng báo cáo
– Bạn Phan Gia Bách, tổ trưởng tổ 1: tổ không có ai đi muộn; hai bạn quên vở bài tập Toán đã nộp bù vào thứ Hai tuần sau.
– Bạn Lý Thu Huệ, tổ trưởng tổ 3: tổ để xảy ra lỗi quên đổ rác ngày 21/10; tổ nhận lỗi và đề nghị dán lịch trực nhật ngay cạnh cửa lớp.
– Tổ 2 và tổ 4 không có vi phạm mới ngoài các lượt đi muộn đã nêu.
3. Ý kiến thảo luận
– Bạn Kha Đình Lực đề nghị lập nhóm đôi bạn học Toán: mỗi bạn học vững kèm một bạn hay quên bài, kiểm tra vở đầu giờ.
– Bạn Thu Huệ đề nghị lớp phó lao động nhắn vào nhóm lớp mỗi chiều để nhắc tổ trực ngày hôm sau.
– Một số bạn đề nghị bỏ việc ghi tên bạn đi muộn lên góc bảng. Ý kiến này chưa thống nhất được, lớp xin cô chủ nhiệm quyết định.
4. Ý kiến của cô chủ nhiệm
Cô Lương Thị Hạnh ghi nhận kết quả học tập tiến bộ và nhắc lớp sửa ngay lỗi vệ sinh. Cô đồng ý lập nhóm đôi bạn môn Toán, đồng thời thay việc ghi tên lên bảng bằng một cuốn sổ theo dõi do lớp phó nề nếp giữ.
5. Kết luận và phân công
Lớp thống nhất mục tiêu tháng 11: không quá 2 lượt đi muộn, không bị trừ điểm vệ sinh, vào nhóm ba lớp dẫn đầu khối. Bạn Đình Lực lập danh sách nhóm đôi bạn trước thứ Tư, ngày 05/11; bạn Thu Huệ dán lịch trực nhật cạnh cửa lớp ngay trong buổi chiều.
Buổi họp dừng lúc 10 giờ 55 phút cùng ngày. Thư kí đọc lại biên bản, cả lớp không có ý kiến bổ sung.
| Thư kí (đã kí) Vương Khánh Chi |
Chủ tọa (đã kí) Đỗ Minh Quân |
Ghi chú: biên bản ghi cả ý kiến chưa được thống nhất và người quyết định cuối cùng, vì người đọc sau cần biết vấn đề đó đã được giải quyết ra sao.
Mẫu 2: Đại hội chi đội bầu Ban chỉ huy đầu năm học
Biên bản này có phần bầu bằng phiếu kín, nên thư kí ghi số phiếu của từng người chứ không chỉ ghi tên người trúng cử.
LIÊN ĐỘI TRƯỜNG THCS ĐỒI THÔNG (giả định)
CHI ĐỘI 6A4
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN ĐẠI HỘI CHI ĐỘI
Bầu Ban chỉ huy cho năm học 2025–2026
Bắt đầu: 14 giờ 30 phút, thứ Sáu, ngày 12 tháng 9 năm 2025.
Nơi họp: phòng học lớp 6A4.
Có mặt: 38/38 đội viên; cô Huỳnh Ngọc Liên, người phụ trách chi đội, cũng là cô chủ nhiệm lớp.
Chủ trì: cô Huỳnh Ngọc Liên.
Thư kí: Võ Thùy Dung.
Ban kiểm phiếu: Lê Minh Cát, Dư Thanh Nhạn.
1. Cô Ngọc Liên nêu mục đích đại hội: chi đội mới được lập từ học sinh của nhiều trường tiểu học, cần bầu Ban chỉ huy ba người (chi đội trưởng, chi đội phó, một ủy viên) để điều hành sinh hoạt Đội trong năm học.
2. Ứng cử, đề cử. Lã Phương Nhi tự ứng cử, cho biết đã làm phụ trách sao nhi đồng ở tiểu học. Trần Gia Hưng được bạn Minh Cát đề cử vì quen dẫn trò chơi tập thể. Đinh Quốc Thịnh tự ứng cử. Chu Minh Hòa được đề cử nhưng xin rút vì đã nhận làm lớp phó lao động; đại hội đồng ý. Danh sách bầu còn ba người.
3. Bỏ phiếu kín. Phát ra 38 phiếu, thu về 38 phiếu, cả 38 phiếu hợp lệ; mỗi phiếu được chọn tối đa ba tên. Kết quả do ban kiểm phiếu công bố:
| Họ và tên | Số phiếu |
|---|---|
| Lã Phương Nhi | 35/38 |
| Trần Gia Hưng | 31/38 |
| Đinh Quốc Thịnh | 29/38 |
4. Phân công trong Ban chỉ huy. Sau 5 phút họp riêng, ba bạn trúng cử thống nhất: Phương Nhi làm chi đội trưởng; Gia Hưng làm chi đội phó, phụ trách văn nghệ và phong trào; Quốc Thịnh làm ủy viên, phụ trách nề nếp. Đại hội giơ tay thông qua: 38/38 đồng ý.
5. Chi đội trưởng Phương Nhi nhận nhiệm vụ và đề xuất ba việc trong tháng 9: luyện đội hình cờ, trống cho giờ chào cờ; nộp danh sách đội viên còn thiếu khăn quàng trước ngày 19/9; chọn tên cho công trình măng non của chi đội ở buổi sinh hoạt sau.
6. Cô Ngọc Liên đề nghị Ban chỉ huy họp ngắn vào đầu mỗi tuần và báo cáo lại cho chi đội trong tiết sinh hoạt.
Đại hội bế mạc lúc 15 giờ 20 phút. Biên bản được viết thành hai bản: chi đội giữ một bản, bản còn lại nộp Liên đội.
| Thư kí (đã kí) Võ Thùy Dung |
Chủ trì (đã kí) Huỳnh Ngọc Liên |
Mẫu 3: Thảo luận chọn tên và biểu trưng cho lớp
Cuộc thảo luận có hai vòng giơ tay. Thư kí ghi kết quả từng vòng, nhờ vậy cả lớp thấy vì sao tên được chọn lại không phải tên dẫn đầu ở vòng đầu.
TRƯỜNG THCS HƯỚNG DƯƠNG (giả định)
LỚP 6A5
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN THẢO LUẬN
Chọn tên và biểu trưng cho lớp 6A5
Thời gian bắt đầu: 15 giờ 40 phút, thứ Sáu, ngày 19 tháng 9 năm 2025.
Địa điểm: lớp 6A5, tầng 2 nhà B.
Thành phần: thầy Nghiêm Văn Lợi, giáo viên chủ nhiệm; 41 học sinh, đủ sĩ số.
Chủ tọa: Quách Thiện Nhân, lớp trưởng.
Thư kí: Doãn Mỹ Tiên.
1. Chủ tọa nêu yêu cầu của nhà trường: mỗi lớp 6 chọn một tên gọi và một biểu trưng để in lên cờ lớp, dùng trong hội thao và các buổi cắm trại; hạn nộp là thứ Sáu, ngày 26/9.
2. Các đề xuất (mỗi tổ chuẩn bị từ tuần trước):
– Tổ 1, bạn Phí Hoàng Sơn trình bày: tên Đom Đóm, mỗi bạn là một đốm sáng nhỏ, góp lại thành vùng sáng lớn; biểu trưng con đom đóm trên nền xanh đêm.
– Tổ 2, bạn Kim Ngọc Xuyến trình bày: tên Cánh Cam, gợi sự chăm chỉ; biểu trưng con cánh cam xanh óng. Bạn Mẫn Đức Toàn phản biện: cánh cam nhiều chi tiết, in nhỏ trên cờ dễ bị nhòe.
– Tổ 3: tên Hải Đăng. Nhiều bạn cho biết một lớp 7 của trường đã dùng tên này.
– Tổ 4: tên Hạt Thóc, biểu trưng bông lúa.
3. Biểu quyết vòng 1 (mỗi bạn giơ tay một lần): Đom Đóm 15, Cánh Cam 13, Hạt Thóc 9, Hải Đăng 4; tổng 41 lượt.
4. Theo đề nghị của bạn Đức Toàn, lớp giữ hai tên nhiều phiếu nhất để biểu quyết lại. Trước vòng 2, tổ 2 vẽ lại biểu trưng cánh cam thành hình khối đơn giản, chỉ hai màu. Biểu quyết vòng 2: Cánh Cam 22, Đom Đóm 19.
5. Kết luận. Lớp 6A5 lấy tên Cánh Cam; biểu trưng con cánh cam hai màu xanh lục và vàng. Bạn Ngọc Xuyến và bạn Hoàng Sơn vẽ bản hoàn chỉnh; câu khẩu hiệu do các bạn bỏ vào hộp thư lớp đến hết thứ Ba, ngày 23/9. Thầy Văn Lợi nhận bản vẽ ngày 24/9 để gửi nhà trường đúng hạn.
Thảo luận dừng lúc 16 giờ 25 phút; biên bản được thông qua với 41/41 bạn giơ tay.
| Thư kí (đã kí) Doãn Mỹ Tiên |
Chủ tọa (đã kí) Quách Thiện Nhân |
Mẫu 4: Họp tổ phân công trực nhật học kì II (bản ngắn)
Mẫu tối giản: buổi họp tổ chỉ bàn một việc nên thư kí gói phần nội dung trong một bảng phân công.
TRƯỜNG THCS PHÙ SA (giả định)
LỚP 6A1 – TỔ 2
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP TỔ
Phân công trực nhật học kì II
Lúc 16 giờ 30 phút chiều thứ Sáu 16/01/2026, tại góc cuối lớp 6A1.
Có mặt 9/10 tổ viên; vắng Tạ Gia Phong (nghỉ ốm, có phép).
Chủ trì: tổ trưởng Âu Quốc Cường. Thư kí: Trịnh Thanh Loan.
Tổ trưởng thông báo: trong học kì II, tổ 2 trực vào thứ Ba và thứ Năm hằng tuần. Tổ chia làm hai nhóm, mỗi nhóm giữ một ngày cố định; việc trong nhóm đổi vòng mỗi tháng.
| Ngày trực | Thành viên | Việc |
|---|---|---|
| Thứ Ba | Hà Đăng Khoa, Lò Thị Quế, Văn Đình Tín, Từ Ngọc Hằng, Tạ Gia Phong | Lau bảng, quét lớp, đổ rác, tưới chậu cây cửa sổ |
| Thứ Năm | Cù Minh Đạt, Ông Thục Nghi, Lưu Thế Hiển, Trịnh Thanh Loan, Âu Quốc Cường | Lau bảng, quét lớp, xếp bàn ghế, đóng cửa sổ, tắt quạt |
Bạn Lò Thị Quế đề nghị nhắn lịch cho bạn Gia Phong ngay hôm nay; tổ đồng ý, giao bạn Đăng Khoa nhắn. Biểu quyết thông qua bảng phân công: 9/9.
Họp xong lúc 16 giờ 45 phút.
| Thư kí (đã kí) Trịnh Thanh Loan |
Tổ trưởng (đã kí) Âu Quốc Cường |
Bản ngắn vẫn giữ đủ các phần bắt buộc: thời gian, địa điểm, người vắng, chủ trì, thư kí, kết quả biểu quyết và chữ kí. Phần nào có thể bỏ bớt chữ thì dùng bảng.
Biên bản cuộc thảo luận nhóm, thảo luận lớp
Ở buổi thảo luận, điều khó nhất với thư kí là ghi đúng ý từng người khi ý kiến trái nhau. Ba biên bản dưới đây (tình huống giả định) cho thấy ba cách ghi: theo từng phần của bài đọc, theo từng giải pháp, và chia hai cột ý kiến.
Mẫu 5: Thảo luận nhóm về văn bản Trái Đất – cái nôi của sự sống
Biên bản một buổi thảo luận trong giờ đọc hiểu (Kết nối tri thức, Bài 9): thư kí tóm ý từng bạn bằng lời của mình, không chép lại câu trong sách.
TRƯỜNG THCS ĐỒI THÔNG (giả định)
LỚP 6A3 – NHÓM 3
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN THẢO LUẬN NHÓM
Tìm hiểu văn bản Trái Đất – cái nôi của sự sống
Mở đầu lúc 9 giờ 05 phút, thứ Ba, ngày 14 tháng 4 năm 2026 (tiết 3, môn Ngữ văn).
Nơi thảo luận: bàn nhóm 3, phòng học lớp 6A3.
Thành viên: đủ 5/5 bạn gồm Đàm Khánh Vy (nhóm trưởng, điều khiển), Lục Bảo Trinh (thư kí), Giang Hữu Nghĩa, Mai Ngọc Hiền, Viên Thế Hào.
Nhiệm vụ cô giáo giao: trong 15 phút, chia bố cục văn bản, nêu ý chính từng phần và trả lời câu hỏi đoạn kết có lạc đề hay không.
1. Chia bố cục. Bạn Thế Hào đề nghị dựa vào các đề mục in đậm để chia văn bản làm năm phần. Bạn Ngọc Hiền đề nghị gộp thành ba phần: Trái Đất và nước, muôn loài, con người. Sau khi đối chiếu lại các đề mục, nhóm chọn cách chia năm phần vì đúng với cách tác giả sắp xếp thông tin.
2. Ý chính từng phần (mỗi bạn phụ trách một phần, thư kí tóm lại):
– Phần 1 (bạn Hữu Nghĩa): cho biết Trái Đất thuộc hệ Mặt Trời (hệ này có tám hành tinh) và là nơi có sự sống.
– Phần 2 (bạn Ngọc Hiền): nước, được tác giả gọi là vị thần hộ mệnh, có ở đại dương, ở băng tuyết hai cực, ở sông hồ trên các lục địa; nước phủ phần lớn bề mặt, khiến Trái Đất nhìn từ vũ trụ giống một giọt nước màu xanh; thiếu nước, hành tinh sẽ chỉ còn khô cằn.
– Phần 3 (bạn Thế Hào): Trái Đất là chỗ ở của muôn loài, từ những sinh vật nhỏ tới mức mắt thường không nhìn thấy đến những loài to lớn, có loài đã tuyệt chủng, chỉ để lại hóa thạch.
– Phần 4 (nhóm trưởng Khánh Vy): con người là đỉnh cao của sự sống vì có bộ não phát triển, có ý thức, tình cảm, ngôn ngữ, và bằng lao động đã cải tạo thiên nhiên quanh mình.
– Phần 5 (thư kí Bảo Trinh): Trái Đất đang chịu nhiều tổn hại vì con người khai thác thiên nhiên quá mức; văn bản khép lại bằng câu hỏi Trái Đất còn chịu đựng được bao lâu nữa.
3. Đoạn kết có lạc đề không? Bạn Hữu Nghĩa cho rằng có, vì nhan đề nói về cái nôi của sự sống mà đoạn cuối lại nói chuyện Trái Đất bị tàn phá. Bạn Khánh Vy và bạn Ngọc Hiền phản biện: đoạn cuối chỉ ra mối đe dọa với chính cái nôi ấy, nên không lạc đề mà còn cho thấy vì sao phải bảo vệ Trái Đất. Bạn Thế Hào bổ sung: phần 4 nói con người làm Trái Đất đẹp hơn, phần 5 nói con người làm Trái Đất tổn thương, hai phần nối liền nhau. Kết quả: 4/5 bạn cho rằng đoạn kết không lạc đề; bạn Hữu Nghĩa giữ ý kiến riêng và xin trình bày thêm với cô.
4. Phân công trình bày trước lớp. Bạn Khánh Vy trình bày bố cục; bạn Ngọc Hiền trình bày câu trả lời về đoạn kết, nêu cả ý kiến khác của bạn Hữu Nghĩa.
Nhóm dừng thảo luận lúc 9 giờ 20 phút, đúng thời gian cô giao.
| Thư kí (đã kí) Lục Bảo Trinh |
Nhóm trưởng (đã kí) Đàm Khánh Vy |
Mẫu 6: Nhóm dự án bàn cách giảm chai nhựa dùng một lần trong lớp
Nhóm dự án có số liệu tự đếm trong lớp (số liệu giả định), nên biên bản dành riêng một mục cho số liệu trước khi ghi các ý kiến.
TRƯỜNG THCS PHÙ SA (giả định)
LỚP 6A6 – NHÓM DỰ ÁN XANH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN THẢO LUẬN
Giải pháp giảm chai nhựa dùng một lần ở lớp 6A6
I. Thông tin chung
– 13 giờ 45 phút, thứ Sáu, ngày 20 tháng 3 năm 2026, tại thư viện trường.
– Thành viên nhóm có mặt 6/6: Lâm Gia Luân (trưởng nhóm, chủ trì), Hứa Diệu Nhàn (thư kí), Cao Minh Triều, Tống Thị Lan, Phùng Đức Thắng, Châu Nguyệt Cầm.
– Khách mời: thầy Mạc Văn Hoàn, giáo viên Khoa học tự nhiên, hướng dẫn dự án.
II. Số liệu nhóm đã thu thập (đếm trong 5 ngày học, từ 09/3 đến 13/3/2026)
– Thùng rác của lớp có tất cả 96 chai nhựa dùng một lần, tức gần 20 chai mỗi ngày.
– Phiếu hỏi thu về 40/42 bạn: 31 bạn mua nước đóng chai ở căng tin hoặc cổng trường từ 3 lần mỗi tuần trở lên; 18 bạn có bình nước riêng nhưng hay để ở nhà; lí do được chọn nhiều nhất là bình nặng, dễ đổ nước ra cặp.
III. Diễn biến thảo luận
1. Trưởng nhóm Gia Luân nêu mục tiêu: đến cuối tháng 4, số chai nhựa trong thùng rác của lớp giảm ít nhất một nửa.
2. Các giải pháp được đề xuất:
– Bạn Minh Triều: đặt một bình nước lọc lớn có vòi ở cuối lớp, mỗi bạn mang một chiếc cốc riêng. Bạn Thị Lan hỏi ai sẽ thay nước; bạn Minh Triều đề nghị giao cho tổ trực nhật.
– Bạn Đức Thắng: thi đua giữa các tổ, tổ có ít chai nhựa nhất trong tuần được cộng điểm. Bạn Nguyệt Cầm lo các bạn sẽ mang chai đi bỏ chỗ khác để tổ mình không bị tính; nhóm ghi nhận băn khoăn này.
– Bạn Nguyệt Cầm: làm móc treo bình nước ở cạnh bàn, để bình không phải nằm trong cặp.
– Bạn Thị Lan: gom chai đã dùng làm chậu trồng cây cho góc xanh của lớp.
3. Thầy Mạc Văn Hoàn góp ý: dùng chai cũ làm chậu là việc nên làm nhưng không giúp giảm số chai mua mới, vì vậy nên xếp sau; nhóm cần đếm lại sau hai tuần để biết giải pháp có tác dụng hay không.
4. Biểu quyết trong nhóm (6 người, giơ tay):
| Giải pháp | Đồng ý | Quyết định |
|---|---|---|
| Bình nước chung có vòi, cốc riêng | 6/6 | Làm ngay |
| Móc treo bình nước cạnh bàn | 5/6 | Làm thử ở tổ 1 và tổ 2 |
| Thi đua đếm chai giữa các tổ | 2/6 | Chưa làm |
| Chai cũ làm chậu cây | 6/6 | Làm vào tuần cuối tháng 4 |
IV. Phân công
– Bạn Minh Triều, bạn Đức Thắng: xin ý kiến cô chủ nhiệm về bình nước chung, báo lại nhóm trước thứ Tư, ngày 25/3.
– Bạn Nguyệt Cầm: làm 10 móc treo bằng dây dù, xong trước ngày 27/3.
– Bạn Diệu Nhàn, bạn Thị Lan: đếm lại chai nhựa trong 5 ngày, từ 06/4 đến 10/4.
– Bạn Gia Luân: tổng hợp kết quả, báo cáo trước lớp ở tiết sinh hoạt ngày 10/4.
Buổi thảo luận khép lại lúc 14 giờ 30 phút. Các thành viên đã nghe đọc lại và nhất trí với toàn bộ nội dung.
| Thư kí (đã kí) Hứa Diệu Nhàn |
Trưởng nhóm (đã kí) Lâm Gia Luân |
Mẫu 7: Thảo luận lớp có nên mang điện thoại đến trường hay không
Hai luồng ý kiến trái ngược nhau, nên thư kí chia phần ý kiến thành hai cột để không thiên về bên nào.
TRƯỜNG THCS HƯỚNG DƯƠNG (giả định)
LỚP 6A7
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN THẢO LUẬN LỚP
Học sinh lớp 6 có nên mang điện thoại đến trường?
Thời điểm bắt đầu: 10 giờ 10 phút, thứ Sáu, ngày 05 tháng 12 năm 2025.
Phòng họp: lớp học của 6A7.
Tham dự: cô Phan Thị Quyên, giáo viên chủ nhiệm (dự, không điều khiển); 37/38 học sinh, vắng 1 bạn có phép.
Điều khiển: Ngô Hải Yên, lớp phó học tập.
Ghi biên bản: Bạch Kim Xoan.
1. Lí do thảo luận. Tuần trước có hai bạn trong lớp mang điện thoại đến trường, một máy đổ chuông trong giờ Toán. Cô chủ nhiệm đề nghị lớp tự thảo luận để đưa ra quy ước chung.
2. Hỏi nhanh trước khi thảo luận (giơ tay): 12 bạn muốn được mang điện thoại, 21 bạn không muốn, 4 bạn chưa quyết định.
3. Ý kiến hai phía (thư kí tóm ý):
| Nên được mang | Không nên mang |
|---|---|
| Bạn Đới Tiến Dũng: bạn đi xe buýt một mình, cần gọi cho bố mẹ khi xe đến muộn. | Bạn Lương Bảo Châm: phòng bảo vệ có điện thoại bàn, khi cần có thể nhờ thầy cô gọi; mang máy theo dễ mất, dễ hỏng. |
| Bạn Mạch Gia Hậu: có thể dùng để tra từ điển, chụp lại phần bài trên bảng khi chép không kịp. | Bạn Kiều Minh Tường: giờ ra chơi các bạn sẽ cúi vào màn hình, ít chơi đá cầu, nhảy dây với nhau. |
| Bạn Tiến Dũng bổ sung: nếu tắt máy và cất trong cặp thì không ảnh hưởng giờ học. | Bạn Bảo Châm bổ sung: khó kiểm tra ai đã tắt máy thật; chiếc máy đổ chuông tuần trước là của một bạn tưởng mình đã tắt. |
4. Đề xuất dung hòa. Bạn Gia Hậu đề xuất: bạn nào cần liên lạc thì được mang, nhưng đầu buổi phải tắt máy và gửi vào một hộp có khóa đặt ở bàn giáo viên, tan học mới nhận lại. Bạn Minh Tường đồng ý với cách này, kèm điều kiện không dùng điện thoại cả trong giờ ra chơi.
5. Biểu quyết đề xuất gửi máy vào hộp: 30 bạn đồng ý, 5 bạn không đồng ý, 2 bạn không biểu quyết (tổng 37).
6. Kết luận của cô chủ nhiệm. Quy ước của lớp phải theo nội quy nhà trường. Cô Phan Thị Quyên sẽ trình đề xuất lên Ban giám hiệu và thông báo lại cho lớp, cho phụ huynh khi có trả lời. Trong thời gian chờ, lớp giữ quy định hiện hành: không mang điện thoại đến lớp; trường hợp đặc biệt thì phụ huynh báo trước với cô.
Phiên thảo luận khép lại vào 10 giờ 50 phút. Biên bản gồm 2 trang, đã đọc lại trước lớp.
| Người ghi biên bản (đã kí) Bạch Kim Xoan |
Người điều khiển (đã kí) Ngô Hải Yên |
Ghi chú: bảng hai cột giúp người đọc so từng cặp lí lẽ. Thư kí ghi cả kết quả hỏi nhanh lúc đầu và kết quả biểu quyết lúc cuối, để thấy buổi thảo luận đã làm ý kiến của lớp thay đổi thế nào.
Biên bản họp bàn kế hoạch một hoạt động
Với cuộc họp bàn kế hoạch, phần quan trọng nhất là phân công. Ba biên bản giả định dưới đây đi từ hoạt động của lớp, của câu lạc bộ đến một cuộc họp vui trong gia đình.
Mẫu 8: Họp chuẩn bị tiết mục văn nghệ chào mừng ngày 20/11
Cuộc họp nhỏ của ban cán sự và các bạn tham gia văn nghệ; trọng tâm biên bản là bảng việc – người phụ trách – hạn hoàn thành.
TRƯỜNG THCS PHÙ SA (giả định)
LỚP 6B1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP
Chuẩn bị tiết mục văn nghệ chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11
Khai mạc: 16 giờ, thứ Sáu, ngày 24 tháng 10 năm 2025.
Tại: phòng học lớp 6B1.
Thành phần: ban cán sự lớp, 4 tổ trưởng và các bạn đăng kí tham gia văn nghệ, tổng 17 người; cô Tạ Thanh Hoa, giáo viên chủ nhiệm, dự 15 phút đầu.
Chủ tọa: Trương Khả Vi, lớp phó văn thể mĩ.
Thư kí: Đoàn Thiên An.
1. Bạn Khả Vi thông báo: nhà trường tổ chức hội diễn vào sáng thứ Hai, ngày 17/11/2025; mỗi lớp một tiết mục không quá 5 phút, nộp tên tiết mục trước ngày 03/11.
2. Ba phương án được nêu:
– Tốp ca một bài hát về thầy cô (bạn Ninh Quang Vinh đề xuất; lớp có 6 bạn hát tốt).
– Múa quạt kết hợp hát (bạn Nhan Thị Lụa đề xuất; cần mượn 10 chiếc quạt ở nhà văn hóa khu phố).
– Kịch ngắn về một ngày làm cô giáo (bạn Hầu Diệu Liễu đề xuất; cần viết kịch bản, khó kịp tập trong ba tuần).
3. Cô Thanh Hoa góp ý: nên chọn tiết mục tập được trong giờ ra chơi và sau giờ học, buổi tập không kéo quá 17 giờ 30 phút.
4. Biểu quyết (17 người): tốp ca 4, múa quạt kết hợp hát 11, kịch ngắn 2. Lớp chọn múa quạt kết hợp hát.
5. Phân công
| Việc | Người phụ trách | Hạn |
|---|---|---|
| Chọn bài hát, cắt nhạc nền | Ninh Quang Vinh | 31/10 |
| Mượn và kiểm tra quạt | Nhan Thị Lụa | 05/11 |
| Dàn dựng động tác múa | Trương Khả Vi, Hầu Diệu Liễu | Bắt đầu tập 03/11 |
| Thống kê áo dài, áo trắng sẵn có | Các tổ trưởng | 07/11 |
| Viết lời giới thiệu tiết mục | Đoàn Thiên An | 10/11 |
Lịch tập: từ 16 giờ 45 phút đến 17 giờ 30 phút các ngày thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu, tại sân sau.
Cuộc họp tan lúc 16 giờ 50 phút.
| Thư kí (đã kí) Đoàn Thiên An |
Chủ tọa (đã kí) Trương Khả Vi |
Mẫu 9: Câu lạc bộ đọc sách chọn sách đọc chung của tháng
Câu lạc bộ ngoài giờ cũng ghi biên bản như một cuộc họp lớp; ở đây dòng tên đơn vị là tên câu lạc bộ.
TRƯỜNG THCS ĐỒI THÔNG (giả định)
CÂU LẠC BỘ ĐỌC SÁCH KHỐI 6
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN SINH HOẠT CÂU LẠC BỘ
Chọn sách đọc chung tháng 2 năm 2026
Bắt đầu: 16 giờ 15 phút, thứ Sáu, ngày 09 tháng 01 năm 2026.
Nơi họp: thư viện trường.
Có mặt: 14/16 thành viên, 2 bạn vắng không báo trước; cô Ngô Thảo Nguyên, cán bộ thư viện, phụ trách câu lạc bộ.
Chủ tọa: Lê Hoàng Phi, trưởng ban câu lạc bộ.
Thư kí: Dương Mai Trà.
1. Bạn Hoàng Phi báo cáo: sách của tháng 1 có 11/16 thành viên đọc hết; buổi chia sẻ ngày 30/01 giữ nguyên.
2. Đề cử sách tháng 2. Tháng này có kì nghỉ Tết nên sách cần vừa sức, đọc xong trong khoảng hai tuần.
– Bạn Bế Đức Thạc đề cử Dế Mèn phiêu lưu kí, vì lớp đã học một đoạn trích trong sách Ngữ văn và muốn đọc trọn cuốn.
– Bạn Hoàng Kim Ngà đề cử Hoàng tử bé, sách mỏng, nhiều tranh.
– Bạn Mai Trà đề cử Không gia đình. Cô Thảo Nguyên cho biết thư viện chỉ có 4 bản cuốn này, còn hai cuốn kia mỗi cuốn có từ 10 bản trở lên.
3. Biểu quyết (14 thành viên): Dế Mèn phiêu lưu kí 8 phiếu, Hoàng tử bé 5 phiếu, Không gia đình 1 phiếu. Câu lạc bộ chọn Dế Mèn phiêu lưu kí; Hoàng tử bé để dành cho tháng 3.
4. Quyết định. Thư viện cho thành viên mượn sách từ ngày 12/01 đến hết ngày 27/02. Buổi chia sẻ sách tháng 2 dự kiến vào ngày 27/02/2026; mỗi bạn chuẩn bị một trang ghi chép về nhân vật mình nhớ nhất.
5. Bạn Kim Ngà đề nghị: thành viên vắng hai buổi liền không báo thì ban câu lạc bộ hỏi thăm trước, chưa xóa tên ngay. Câu lạc bộ đồng ý.
Buổi sinh hoạt dừng ở 16 giờ 55 phút.
| Thư kí (đã kí) Dương Mai Trà |
Chủ tọa (đã kí) Lê Hoàng Phi |
Mẫu 10: Cuộc họp gia đình chọn nơi đi chơi hè
Mẫu vui ngoài trường học, do một bạn lớp 6 làm thư kí. Lời ghi vẫn khách quan; cái vui nằm ở chính sự việc.
GIA ĐÌNH ÔNG VŨ VĂN TRỌNG
Tổ dân phố số 4 (giả định)
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP GIA ĐÌNH
Chọn nơi đi chơi hè năm 2026
Thời gian: 20 giờ, Chủ nhật, ngày 17 tháng 5 năm 2026.
Địa điểm: phòng khách.
Thành phần: đủ 5/5 thành viên: ông Vũ Văn Trọng; bố Vũ Quang Hiệp; mẹ Đặng Thu Hường; Vũ Minh Khuê (học sinh lớp 6); Vũ Minh Sóc (5 tuổi).
Chủ tọa: bố Vũ Quang Hiệp.
Thư kí: Vũ Minh Khuê.
1. Bố thông báo: cả nhà có thể đi chơi 3 ngày 2 đêm vào đầu tháng 7, chi phí không vượt quá số tiền mẹ đã để dành. Mẹ đề nghị không ghi con số này vào biên bản; cả nhà đồng ý.
2. Các đề xuất
– Ông: về quê thăm bà con, câu cá ở ao nhà ông bác.
– Mẹ: đi biển, vì Minh Sóc chưa từng thấy biển.
– Minh Khuê: lên vùng núi có thác nước, cắm trại một đêm.
– Minh Sóc: đi vườn thú. Khi ông hỏi lại, Sóc đổi ý, muốn đi biển để xem cá.
3. Thảo luận. Bố cho biết đường lên núi có đoạn đèo dài, Sóc dễ say xe. Ông nói đi biển thì ông chỉ cần một buổi ngồi dưới bóng cây. Mẹ đề nghị đi biển trước, trên đường về ghé quê.
4. Biểu quyết (mỗi người một phiếu, kể cả Sóc): đi biển rồi ghé quê 4 phiếu (ông, bố, mẹ, Sóc); lên núi cắm trại 1 phiếu (Minh Khuê).
5. Kết luận và phân công. Cả nhà đi biển 2 ngày, ngày thứ ba về quê. Minh Khuê được chọn một trò chơi cho cả nhà ở bãi biển, bù cho phương án không được chọn. Mẹ đặt phòng; bố kiểm tra xe; Minh Khuê lập danh sách đồ cần mang; Sóc tự chuẩn bị xô và xẻng xúc cát.
Cuộc họp gia đình kết thúc lúc 20 giờ 35 phút, sau khi thư kí đọc lại và cả nhà gật đầu đồng ý.
| Thư kí (đã kí) Vũ Minh Khuê |
Chủ tọa (đã kí) Vũ Quang Hiệp |
Họp gia đình không bắt buộc có quốc hiệu, tiêu ngữ; mẫu này giữ đủ các phần để luyện đúng khuôn như khi làm bài trên lớp. Câu Sóc đổi ý được ghi lại vì nó làm thay đổi kết quả biểu quyết.
Biên bản ghi lại một vụ việc
Chân trời sáng tạo mở rộng đề sang biên bản về một vụ việc. Loại này không có phần tranh luận; trọng tâm là hiện trạng, số liệu, việc đã xử lí và chữ kí của những người có mặt. Hai biên bản dưới đây cũng là tình huống giả định.
Mẫu 11: Kiểm kê tủ sách lớp cuối năm học
Biên bản kiểm kê ghi một công việc chứ không ghi một cuộc họp: thay cho phần ý kiến là bảng kiểm đếm và chữ kí của những người cùng kiểm.
TRƯỜNG THCS PHÙ SA (giả định)
LỚP 6B3
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN KIỂM KÊ
Tủ sách lớp 6B3 cuối năm học 2025–2026
Hồi 15 giờ 30 phút, thứ Sáu, ngày 22 tháng 5 năm 2026, tại lớp 6B3, chúng tôi gồm:
– Cô Trần Thị Thơm, giáo viên chủ nhiệm;
– Lê Ngọc Ánh, phụ trách tủ sách lớp;
– Đậu Văn Khiết, lớp phó lao động;
– Thân Mỹ Lệ, thư kí,
đã cùng kiểm kê tủ sách của lớp. Kết quả như sau.
1. Số sách theo sổ theo dõi: 86 cuốn, gồm 64 cuốn học sinh góp đầu năm và 22 cuốn mua bằng quỹ lớp.
2. Kết quả kiểm đếm
| Tình trạng | Số cuốn | Ghi chú |
|---|---|---|
| Còn trong tủ, nguyên vẹn | 71 | |
| Còn trong tủ, rách bìa hoặc bong gáy | 9 | Đã dán tạm 6 cuốn |
| Đang có người mượn | 4 | Có tên trong sổ mượn |
| Không tìm thấy | 2 | Không có trong sổ mượn |
| Cộng | 86 |
3. Sách đang mượn: 4 cuốn, mượn từ tháng 4; bạn Hồ Gia Tuệ mượn 1 cuốn, ba bạn khác mỗi bạn 1 cuốn. Bạn Gia Tuệ có mặt, hẹn trả vào thứ Hai, ngày 25/5. Bạn Ngọc Ánh nhắn tin cho ba bạn còn lại.
4. Hai cuốn không tìm thấy: một cuốn truyện tranh khoa học và một cuốn từ điển chính tả. Chưa xác định được nguyên nhân; sổ mượn không ghi hai cuốn này. Lớp sẽ thông báo tìm sách ở tiết sinh hoạt ngày 29/5.
5. Đề xuất: gửi 9 cuốn rách, bong gáy nhờ thư viện trường đóng lại; trong hè tủ sách được khóa, chìa do cô chủ nhiệm giữ; từ năm học sau, mỗi lần mượn đều ghi sổ và có chữ kí người mượn.
Việc kiểm kê hoàn tất lúc 16 giờ 25 phút. Có 2 bản giống nhau: cô chủ nhiệm giữ 1 bản, 1 bản để trong tủ sách.
| Thư kí (đã kí) Thân Mỹ Lệ |
Phụ trách tủ sách (đã kí) Lê Ngọc Ánh |
Giáo viên chủ nhiệm (đã kí) Trần Thị Thơm |
Mẫu 12: Tổ chim rơi ở sân trường và việc chuyển chim non cho người chăm sóc
Sự việc xảy ra bất ngờ đầu giờ sáng; thư kí ghi theo đúng mốc giờ và tách riêng điều nhìn thấy với điều chưa biết.
TRƯỜNG THCS HƯỚNG DƯƠNG (giả định)
LỚP 6A8
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN SỰ VIỆC
Tổ chim rơi ở sân trường và việc bàn giao chim non
Lập lúc: 7 giờ 25 phút, thứ Tư, ngày 08 tháng 4 năm 2026.
Địa điểm: góc sân trường cạnh cây bàng lớn, trước dãy nhà C.
Người lập: Nguyễn Đức Chính, lớp trưởng lớp 6A8.
Người ghi: Âu Thanh Trúc, học sinh lớp 6A8.
Người có mặt: bác Hoàng Văn Thạch, bảo vệ trường; thầy Đào Duy Thuần, giáo viên Khoa học tự nhiên; hai bạn Mông Thị Gấm và Tiêu Hữu Bằng, lớp 6A8.
1. Phát hiện. Khoảng 7 giờ 05 phút, bạn Mông Thị Gấm thấy một tổ chim nằm dưới gốc cây bàng, cạnh bồn hoa. Đêm trước có mưa giông; gần đó có một cành bàng nhỏ bị gãy.
2. Hiện trạng ghi nhận lúc 7 giờ 10 phút. Tổ làm bằng cỏ khô lẫn sợi ni lông, rách một bên. Trong tổ có 3 chim non chưa mọc đủ lông; cả 3 con còn cử động, 1 con có vết trầy ở cánh trái. Chưa xác định được đây là loài chim gì. Lúc đó không thấy chim bố mẹ ở gần.
3. Báo tin. Lúc 7 giờ 12 phút, bạn Tiêu Hữu Bằng báo bác bảo vệ; bạn Đức Chính lên phòng giáo viên báo thầy Duy Thuần. Trong lúc chờ, các bạn không cầm chim non bằng tay.
4. Xử lí. Bác Văn Thạch lót tổ vào một chiếc rổ nhựa nhỏ, đặt 2 chim non khỏe vào, rồi dùng thang buộc chặt chiếc rổ lên chạc cây bàng thấp, cách mặt đất khoảng 2,5 mét. Chim non bị trầy cánh được thầy Duy Thuần đặt vào hộp giấy lót khăn, mang về phòng thực hành để theo dõi. Thầy cho biết sẽ nhờ một người quen có kinh nghiệm chăm chim non nhận nuôi tiếp.
5. Theo dõi. Đến 7 giờ 40 phút vẫn chưa thấy chim bố mẹ quay lại tổ. Bác Văn Thạch nhận để ý chiếc rổ trong ngày và báo lại cho thầy Duy Thuần.
Biên bản dừng ghi lúc 7 giờ 45 phút, có chữ kí của người lập, người ghi và người nhận chim non.
| Người ghi (đã kí) Âu Thanh Trúc |
Người lập (đã kí) Nguyễn Đức Chính |
Người nhận chim non (đã kí) Đào Duy Thuần |
Những câu như chưa xác định được loài chim hay chưa thấy chim bố mẹ quay lại cho thấy người ghi không đoán thay sự việc. Ai muốn biết kết quả sau đó sẽ cần một biên bản khác hoặc lời báo của thầy phụ trách.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi hay gặp | Sửa thế nào |
|---|---|
| Viết như kể chuyện, chen cảm xúc của người ghi: không khí rất sôi nổi, ai cũng hào hứng | Ghi việc đếm được: 6 bạn phát biểu, 2 lần biểu quyết, cuộc họp kéo dài 40 phút. |
| Thiếu giờ bắt đầu hoặc giờ kết thúc; ghi thứ không khớp với ngày | Ghi đủ giờ, thứ, ngày tháng năm ở đầu; giờ kết thúc ở cuối. Xem lại lịch trước khi điền thứ. |
| Chỉ ghi: các bạn phát biểu nhiều ý kiến hay | Mỗi ý kiến một dòng: tên người nói và ý chính (Mẫu 3, Mẫu 6). |
| Biểu quyết không có con số | Ghi số đồng ý, không đồng ý, không biểu quyết và tổng số; kiểm tra các con số cộng lại có khớp sĩ số có mặt không (Mẫu 7). |
| Kết luận chung chung: cả lớp sẽ cố gắng hơn | Phân công cụ thể ai làm, làm gì, xong trước ngày nào (Mẫu 8). |
| Bỏ qua ý kiến không được thông qua | Vẫn ghi, kèm kết quả xử lí ý kiến đó (Mẫu 1, Mẫu 5). |
| Biên bản vụ việc đoán nguyên nhân, đoán kết quả | Tách điều nhìn thấy với điều chưa rõ; với điều chưa rõ, ghi thẳng: chưa xác định được (Mẫu 11, Mẫu 12). |
| Thiếu chữ kí của chủ tọa, hoặc chỉ kí mà không ghi họ tên | Cuối biên bản có hai chữ kí (thư kí, chủ tọa) và họ tên đầy đủ dưới mỗi chữ kí. |
Đổi câu kể chuyện thành câu biên bản. Thư kí lớp 6 hay mang giọng bài văn kể vào biên bản. Vài cách sửa:
| Câu kể chuyện (nên tránh) | Câu biên bản (nên viết) |
|---|---|
| Bạn Lực có một sáng kiến tuyệt hay. | Bạn Kha Đình Lực đề nghị lập nhóm đôi bạn học Toán. |
| Cả lớp gần như ai cũng thích tên Cánh Cam. | Vòng 2: Cánh Cam 22 phiếu, Đom Đóm 19 phiếu. |
| Hai bạn cãi nhau mãi về chuyện điện thoại. | Bạn Tiến Dũng và bạn Bảo Châm mỗi bạn nêu hai lí lẽ, ghi ở bảng ý kiến. |
| Chú chim non đáng thương bị gió quật rơi xuống. | Tổ chim nằm dưới gốc cây; đêm trước có mưa giông, gần đó có một cành gãy. |
| Cuộc họp kết thúc trong niềm vui của mọi người. | Kết thúc: 16 giờ 50 phút; thư kí đã đọc lại, không ai bổ sung. |
Mẹo nhỏ khi làm bài:
- Kẻ khung trước khi cuộc họp bắt đầu: các dòng thời gian, thành phần, chủ tọa, thư kí điền xong ngay từ phút đầu.
- Khi ghi nhanh, dùng chữ tắt và tên gọi tắt (Lực: nhóm đôi bạn Toán); lúc chép sạch mới viết đủ họ tên và câu hoàn chỉnh.
- Đánh số các mục nội dung theo đúng trình tự cuộc họp; cuộc họp nhỏ chỉ có một việc thì một bảng là đủ (Mẫu 4).
- Gặp phần biểu quyết, ghi số ngay tại chỗ và cộng thử với sĩ số có mặt.
- Đề bài cho tự chọn cuộc họp giả định thì chọn cuộc họp quen thuộc, có ít nhất hai ý kiến khác nhau và một kết luận rõ ràng, để biên bản có đủ diễn biến.
- Đọc lại biên bản cho cả nhóm nghe trước khi kí, rồi thêm một câu ghi nhận việc đọc lại ấy.
Nên luyện biên bản nào trước?
Học sinh dùng sách Kết nối tri thức nên bắt đầu với Mẫu 1 hoặc Mẫu 4: một cuộc họp lớp, họp tổ quen thuộc giúp nắm chắc khung trước khi viết những biên bản dài; sau đó đọc Mẫu 5, vì nó ghi một buổi thảo luận về chính văn bản của Bài 9. Với đề Chân trời sáng tạo giao em làm thư kí một buổi thảo luận nhóm hoặc họp lớp, Mẫu 5, Mẫu 6 cho thấy cách ghi ý kiến từng bạn, Mẫu 2 và Mẫu 3 cho thấy cách ghi biểu quyết; nếu muốn viết biên bản một vụ việc, xem Mẫu 11 và Mẫu 12. Bài thực hành trong sách Cánh diều (thảo luận dùng ít đồ nhựa hơn) gần nhất với Mẫu 6: em có thể giữ nguyên khung, thay số liệu bằng ý kiến của các tổ trong lớp mình. Buổi thảo luận ở phần Nói và nghe của bài học cũng là dịp tốt để một bạn trong nhóm tập ghi biên bản thật.
Xem thêm:
- Soạn bài Trái Đất – cái nôi của sự sống, Soạn bài Các loài chung sống với nhau như thế nào? (cùng Bài 9 sách Kết nối tri thức)
- Soạn bài Gió lạnh đầu mùa, Soạn bài Tuổi thơ tôi, Soạn bài Con gái của mẹ, Soạn bài Chiếc lá cuối cùng (cùng Bài 6 sách Chân trời sáng tạo)
- Soạn bài Phạm Tuyên và ca khúc mừng chiến thắng, Soạn bài Điều gì giúp bóng đá Việt Nam chiến thắng? (cùng Bài 10 sách Cánh diều)
- Văn mẫu lớp 6 cùng nhóm văn bản thông tin: Tóm tắt nội dung chính của một văn bản bằng sơ đồ (học cùng bài với đề biên bản ở hai bộ sách), Thuyết minh thuật lại một sự kiện lớp 6
- Văn bản có khuôn ở lớp trên: Viết văn bản tường trình lớp 7
- Muốn viết thành bài văn về chuyện mang điện thoại đến trường: Trình bày ý kiến về một hiện tượng đời sống lớp 6