Bỏ qua tới nội dung
Thư viện văn học số
Tra chính tả
Lớp mấy?

Tóm tắt văn bản theo yêu cầu khác nhau về độ dài – Dàn ý + 12 bài mẫu (lớp 7)

Cập nhật 08/10/2026·MMavrick Nguyễn·55 phút đọc·Ngữ văn 7·Bài 10: Văn bản thông tin
Nội dung chính
  • Yêu cầu của kiểu bài tóm tắt theo độ dài cho trước
  • Tóm tắt truyện trong Bài 1 Kết nối tri thức
  • Đoạn văn tóm tắt truyện ở Bài 9 Chân trời sáng tạo
  • Tóm tắt văn bản thông tin ở Bài 10 Cánh diều

Tóm tắt văn bản theo những yêu cầu khác nhau về độ dài là bài Viết lớp 7 mà bộ sách nào cũng có: Bài 1 (tập 1) của Ngữ văn 7 Kết nối tri thức, Bài 9 (tập 2) của Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo dưới tên Viết đoạn văn tóm tắt văn bản; với Ngữ văn 7 Cánh diều, mục này nằm ở Bài 10, tập 2. Cùng một văn bản, đề có thể đòi một câu, năm sáu dòng, một đoạn 150–200 chữ hay nửa trang giấy; cái khó là biết bỏ chi tiết nào trước, giữ ý nào đến cùng. Trang này nêu yêu cầu của từng bộ, cách ước lượng độ dài, các bước làm, rồi đưa ra 12 mẫu tóm tắt chính những văn bản trong sách lớp 7. Trừ mẫu đoạn văn đúng khung của Chân trời sáng tạo, mẫu nào cũng có từ hai đến bốn bản dài ngắn khác nhau; bản nào cũng ghi số chữ đã đếm, kèm vài dòng giải thích phần nào bị lược khi rút gọn.

tóm tắt văn bản theo những yêu cầu khác nhau về độ dài lớp 7
Tóm tắt văn bản theo những yêu cầu khác nhau về độ dài – các bước và bài mẫu lớp 7

Yêu cầu của kiểu bài tóm tắt theo độ dài cho trước

Bản tóm tắt là văn bản gốc thu nhỏ: người đọc nó phải biết văn bản kể hoặc trình bày điều gì, theo trình tự nào, kết thúc ra sao, dù chưa từng đọc bản gốc. Độ dài thì do đề quyết định, nên cùng một văn bản em có thể phải viết vài bản. Dưới đây là các tiêu chí để tự chấm bài.

Tiêu chí Bản tóm tắt đạt khi
Trung thành với văn bản gốc Không thêm sự việc, con số, lời nhận xét mà văn bản không có; không đổi thứ tự trước sau của các sự việc.
Đủ ý chính Bản nào cũng có mở đầu, diễn biến chính và kết thúc (với truyện) hoặc ý khái quát và các ý lớn (với văn bản thông tin, nghị luận). Bản ngắn nhất cũng không được cụt phần kết.
Giữ từ ngữ quan trọng Tên nhân vật, tên riêng, thuật ngữ, những từ đặc trưng của văn bản (ăn ong, gác kèo, hải lưu, tàu ngầm…) được giữ nguyên; phần còn lại viết bằng lời của em.
Đúng độ dài Lệch không quá chừng một phần mười so với số chữ, số câu hay số dòng đề yêu cầu.
Liền mạch Các câu nối với nhau bằng từ chỉ thời gian, nguyên nhân, đối lập; đọc lên không giống một chuỗi gạch đầu dòng bị xóa dấu.
Không bình luận Người tóm tắt đứng ngoài: không khen hay, không rút bài học, trừ khi đề yêu cầu thêm câu nêu chủ đề.

Mỗi bộ sách nhấn vào một khía cạnh riêng của kĩ năng:

Bộ sách Vị trí, tên mục Điểm riêng
Kết nối tri thức Tập 1, Bài 1 Bầu trời tuổi thơ, mục Tóm tắt văn bản theo những yêu cầu khác nhau về độ dài (từ trang 27) Học ngay đầu năm, ngữ liệu là truyện. Sách nêu bốn yêu cầu (đúng nội dung, đủ ý chính, dùng từ ngữ quan trọng, đáp ứng độ dài) và cho em so sánh hai bản tóm tắt dài ngắn khác nhau của truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh. Quy trình ba bước kết thúc bằng bảng chỉnh sửa: rút gọn hoặc phát triển bản tóm tắt cho khớp độ dài.
Chân trời sáng tạo Tập 2, Bài 9 Trong thế giới viễn tưởng, mục Viết đoạn văn tóm tắt văn bản (trang 89–92) Sản phẩm là một đoạn văn 150–200 chữ. Đoạn mẫu trong sách tóm tắt truyện Con muốn làm một cái cây của Võ Thu Hương; câu mở phải nêu nhan đề và tác giả, các câu sau kể lại hoàn cảnh, nhân vật và những sự việc chủ yếu. Đề cho em tự chọn một truyện ngắn hoặc một văn bản nghị luận mình thích, không bắt buộc là truyện viễn tưởng của bài học.
Cánh diều Tập 2, Bài 10 Văn bản thông tin, mục Tóm tắt văn bản theo yêu cầu khác nhau về độ dài (trang 86–87) Ngữ liệu là văn bản thông tin. Sách lấy Ghe xuồng Nam Bộ làm ví dụ: có thể tóm tắt trong năm sáu dòng, nửa trang hay một trang. Muốn làm được, em ghi ý theo hệ thống (ý lớn ở phần mở đầu hoặc tiểu mục, ý nhỏ, ví dụ minh họa) rồi chọn ý theo độ dài. Bài tập: tóm tắt văn bản Phương tiện vận chuyển của các dân tộc thiểu số Việt Nam ngày xưa hai lần, một bản 5–6 dòng, một bản 10–12 dòng.

Đổi độ dài của đề ra số chữ

Đề có khi tính bằng câu, có khi bằng dòng, có khi bằng chữ. Bảng dưới là cách quy đổi ước chừng để em lường trước phải giữ bao nhiêu ý; khi viết xong, hãy đếm lại thật.

Đề yêu cầu Ước khoảng Thường giữ được
Một câu 20–50 chữ Ai (cái gì) + sự việc trung tâm + kết quả
3–5 câu hoặc 5–6 dòng vở 60–90 chữ Mở đầu, hai ba sự việc hoặc ý lớn, kết thúc
Một đoạn 150–200 chữ (Chân trời sáng tạo) 8–12 câu Thêm bối cảnh, các bước chuyển, chi tiết then chốt
10–12 dòng vở, nửa trang 130–200 chữ Đủ các phần; mỗi ý lớn có một ý nhỏ đi kèm
Một trang khoảng 300 chữ trở lên Gần đủ sự việc; vẫn bỏ lời thoại, tả cảnh dài
Dàn ý

Dàn ý – các bước tóm tắt theo độ dài cho trước

405 từ

1. Chuẩn bị

– Đọc trọn văn bản tối thiểu hai lượt. Lượt đầu để hiểu, lượt sau đánh số các đoạn, các sự việc hoặc các tiểu mục.
– Tự trả lời bằng một câu: văn bản này chủ yếu bàn về chuyện gì; câu này sẽ thành bản tóm tắt ngắn nhất, hoặc câu mở của bản dài.
– Liệt kê ý chính của từng phần, gạch chân từ ngữ quan trọng: tên riêng, mốc thời gian, con số, thuật ngữ.
– Đọc kĩ yêu cầu về độ dài, quy ra số chữ.

2. Chọn ý và viết

– Xếp ý theo thứ tự của văn bản gốc (truyện theo diễn biến; văn bản thông tin theo cách văn bản chia ý: thời gian, phân loại, so sánh).
– Viết bản dài trước, sau đó lược dần: bỏ lời thoại, tả cảnh, ví dụ phụ, rồi gộp hai ba sự việc thành một câu. Cách ngược lại (thêm dần từ bản ngắn) cũng được, miễn là ý thêm vào nằm đúng chỗ trong mạch.
– Câu mở nên có nhan đề, tác giả hoặc nhân vật chính; câu cuối phải là kết thúc của văn bản, không phải lời bình của em.

3. Kiểm tra

– Đếm chữ hoặc đếm câu, dòng; thừa thì cắt chi tiết phụ, thiếu thì bổ sung ý nhỏ cho ý lớn.
– So từng câu với văn bản gốc: có câu nào thêm điều sách không nói, có tên riêng nào viết sai?
– Đọc liền một mạch: chỗ nào phải dừng lại mới hiểu thì thêm từ nối.

Tóm tắt truyện trong Bài 1 Kết nối tri thức

Hai mẫu đầu lấy hai truyện của Bài 1, nơi kĩ năng này được dạy lần đầu. Cả hai đều có nhiều lời thoại và đoạn tả, nên đây là dịp luyện thói quen lược những phần ấy khi độ dài bị thu hẹp.

Mẫu 1

Mẫu 1: Bầy chim chìa vôi – một câu, khoảng 80 chữ và khoảng 200 chữ

732 từ

Truyện của Nguyễn Quang Thiều mở đầu sách Kết nối tri thức 7, cho nên thầy cô hay chọn nó để giao bài tóm tắt nhiều mức. Ba bản dưới cùng một khung: bản sau giữ đủ ý của bản trước rồi mới thêm chi tiết.

Bản một câu (49 chữ)

Sợ bầy chim chìa vôi non trên dải cát giữa sông bị nước lũ nhấn chìm, Mên và em trai là Mon thao thức giữa đêm mưa, liều ra sông, rồi lặng người đến bật khóc khi tận mắt thấy cả bầy chim cất cánh bay được vào bờ.

Bản khoảng 80 chữ (87 chữ)

Hai giờ sáng một đêm mưa to, Mon gọi anh dậy vì lo những con chim chìa vôi non trên dải cát giữa sông sẽ chết đuối. Mên cũng chưa ngủ. Hai anh em lấy đò của ông Hảo ra sông định đưa chim vào bờ, nhưng nước xiết cuốn đò đi xa, chúng phải vất vả kéo đò về bến. Trời sáng, dải cát vừa chìm thì bầy chim non vụt bay lên, hạ xuống bờ an toàn. Hai đứa trẻ khóc lúc nào không biết.

Bản khoảng 200 chữ (210 chữ)

Khoảng hai giờ sáng một đêm mưa lớn, Mon tỉnh giấc, thì thào hỏi anh xem nước sông đã lên tới đâu. Cả hai cùng lo cho tổ chim chìa vôi trên dải cát nổi giữa sông Đáy. Năm nào, vào mùa nước cạn, chim cũng ra đó đẻ trứng trên lớp rong héo, và khi mùa mưa làm dải cát chìm, chim non phải bay chuyến đầu tiên vào bờ. Năm nay mưa đến sớm, hai anh em sợ lũ chim chưa kịp lớn. Giữa câu chuyện, Mon còn khoe đã lén thả con cá bống bố đánh được xuống cống sông, làm bố tưởng con cá măng nuốt mất. Rồi Mon rủ anh đi mang chim vào bờ. Hai đứa lấy đò của ông Hảo, bị dòng nước cuốn trôi gần hai cây số mới tạt vào được bờ; Mên kéo, Mon đẩy, đưa được đò về chỗ cũ thì trời tang tảng sáng. Lúc nước nuốt nốt phần cát cuối cùng, bầy chim non đồng loạt cất cánh; một con đuối sức rơi xuống, chân vừa chạm mặt sông thì lại vút lên. Cả bầy đậu xuống cạnh lùm dứa dại. Hai anh em nhận ra mình đã khóc, nhìn nhau cười ngượng rồi chạy về nhà.

Bỏ gì, giữ gì: bản một câu chỉ còn ba thứ: ai, lo điều gì, kết cục ra sao. Lên tới 80 chữ thì có thêm hai chặng hành động là ra sông và chờ trời sáng. Tập tính làm tổ của chim, chuyện con cá bống và con chim non suýt rơi chỉ xuất hiện ở bản dài, vì chúng làm rõ tâm hồn hai đứa trẻ chứ không làm đổi hướng câu chuyện.

Mẫu 2

Mẫu 2: Đi lấy mật – giữ từ ngữ riêng của vùng rừng U Minh

709 từ

Một trong bốn yêu cầu của Kết nối tri thức là giữ những từ ngữ then chốt của bản gốc. Với đoạn trích Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi, đó là những từ mang màu sắc Nam Bộ. Trước khi viết, em gom chúng lại để bản nào cũng có mặt.

Từ ngữ phải giữ: thằng Cò, tía nuôi, rừng U Minh, đi ăn ong, kèo ong, má nuôi, gác kèo, cây tràm.

Bản khoảng 70 chữ (73 chữ)

An, người kể chuyện, lần đầu theo tía nuôi và thằng Cò vào rừng U Minh đi ăn ong. Dọc đường, An mệt, được nghỉ chân, được Cò rồi tía chỉ cho thấy con ong mật, được ngắm rừng tràm lúc nắng lên. Khi tận mắt thấy kèo ong trên một cây tràm thấp, An mới hiểu cách gác kèo má nuôi từng kể, một cách lấy mật không nơi nào khác có.

Bản khoảng 200 chữ (213 chữ)

Đoạn trích được kể bằng lời An, cậu bé sống với gia đình tía nuôi ở vùng U Minh. Từ lúc gà gáy canh tư, An theo tía nuôi và thằng Cò bơi xuồng rồi lội bộ vào rừng tràm để ăn ong. Lần đầu đi, An mau mệt; chỉ nghe tiếng thở sau lưng, tía đã cho cả nhóm dừng lại. Cò đố An tìm con ong mật, An nhìn mãi chịu thua, đến khi tía cầm tay chỉ lên mới thấy từng chấm nhỏ bay vụt qua kẽ lá. Ăn cơm vắt xong thì nắng lên, rừng thơm mùi hoa tràm, chim hót, mấy con kì nhông đổi màu trên gốc cây mục. Qua một trảng cỏ, An reo lên trước bầy chim, bị Cò chê là thứ chim tầm thường; An tự ái nên không hỏi thêm. Rồi Cò chỉ cho An một kèo ong trên cây tràm thấp. An nhớ lời má nuôi: phải chọn vùng rừng, xem hướng gió, đoán đường ong bay thì gác kèo mới có ong về làm tổ. Nghĩ tới những kiểu tổ ong của người La Mã, Ai Cập, châu Phi mà thầy giáo từng kể, An thấy không nơi nào giống người U Minh. Cả nhóm ngồi ăn cơm dưới bóng tràm.

Khi rút từ bản dài xuống bản ngắn: ba ý dựng nên mạch đoạn trích là lần đầu đi ăn ong, những điều An học được trên đường và chiếc kèo ong. Các cảnh tả (kì nhông, bầy chim, mùi hoa tràm) được gói vào một cụm ngắn, còn lời má nuôi về cách chọn chỗ gác kèo chỉ giữ ở bản dài. Đoàn Giỏi mất năm 1989, tác phẩm còn được bảo hộ, nên câu chữ trong bài đều là lời tự viết, chỉ giữ những từ riêng của vùng đất.

Đoạn văn tóm tắt truyện ở Bài 9 Chân trời sáng tạo

Đề của Chân trời sáng tạo đòi một đoạn văn 150–200 chữ, mở bằng nhan đề và tác giả. Ba mẫu dưới dùng chính ba văn bản của Bài 9; mẫu đầu đúng một đoạn như đề, hai mẫu sau thêm bản ngắn hơn để em thấy cùng một truyện co lại thế nào.

Mẫu 3

Mẫu 3: Dòng “Sông Đen” – một đoạn văn đúng khung 150–200 chữ

502 từ

Đây là dạng bài Chân trời sáng tạo chấm: chỉ một đoạn, câu đầu giới thiệu văn bản, các câu sau đi theo diễn biến, câu cuối là kết thúc của đoạn trích.

Đoạn văn (196 chữ)

Dòng “Sông Đen” trích từ Hai vạn dặm dưới biển, tiểu thuyết của Giuyn Véc-nơ; lời kể thuộc về giáo sư A-rô-nắc trên tàu ngầm Nau-ti-lơtx. Sau khi Nê-mô cáo lui, giáo sư băn khoăn về vị thuyền trưởng khó hiểu: không rõ quê quán, căm ghét loài người mà tiếp khách chu đáo. Nhìn tấm bản đồ, ông biết tàu đang đi theo một hải lưu nước ấm mà người Nhật gọi là Cư-rô-xi-ô, nghĩa là Sông Đen. Đúng lúc đó, Công-xây cùng Nét Len vào phòng. Công-xây say sưa với các tủ trưng bày sinh vật biển, còn Nét chỉ dò hỏi về Nê-mô, coi con tàu như nhà tù và tính chuyện trốn đi, nhưng giáo sư bảo anh nên kiên nhẫn quan sát. Bất chợt phòng khách tối lại, hai ô kính lớn hiện ra, bên ngoài là lòng biển được đèn điện rọi sáng, cá đủ loại bơi kèm con tàu. Ba người ngắm liền hai tiếng, Nét chẳng còn nhớ đến cơn bực bội. Năm giờ chiều cửa sắt khép lại; giáo sư về phòng và chìm vào giấc ngủ, còn con tàu tiếp tục trôi theo dòng Sông Đen.

Đối chiếu với đề: câu đầu có nhan đề, tác giả, người kể; ba nhân vật và bối cảnh con tàu đều có mặt; các sự việc giữ nguyên thứ tự. Đoạn không có câu nhận xét nào của người viết, đúng lời dặn của sách: chỉ thuật lại sự việc, không khen chê. Nếu đoạn vượt 200 chữ, chỗ nên cắt đầu tiên là danh sách những điều giáo sư băn khoăn về Nê-mô.

Mẫu 4

Mẫu 4: Xưởng Sô-cô-la – từ bản đánh số câu đến bản ba câu

507 từ

Mẫu này đi ngược chiều: viết bản đủ ý trước, đánh số từng câu, rồi chỉ ra câu nào được gộp, câu nào bị bỏ để có bản ngắn. Văn bản là chương truyện Charlie và nhà máy sô-cô-la của Rô-a Đan.

Bản đủ ý, khoảng 170 chữ (175 chữ)

(1) Ông Quơn-cơ đưa Sác-li, các bạn nhỏ khác và những người lớn đi theo tới trước một cánh cửa trong nhà máy kẹo, bảo rằng phía sau là nơi quan trọng bậc nhất, trái tim của toàn nhà máy. (2) Cửa mở ra một thung lũng cỏ xanh, dưới đáy có dòng sông màu nâu và một con thác lớn. (3) Từ trần treo thõng xuống mặt sông vô số ống thủy tinh to lớn. (4) Theo lời ông chủ, nước trong dòng sông kia chính là sô-cô-la tan chảy hảo hạng. (5) Thác nước đánh trộn để sô-cô-la thêm mịn, xốp; những đường ống thì hút lấy sô-cô-la, chuyển tới các phòng khác. (6) Ông khoe cây cối, hoa lá hai bên bờ, mời mọi người ngắt cỏ ăn thử, vì cỏ ở đây làm bằng một loại đường vị bạc hà, đến cả hoa mao lương vàng cũng là đồ ăn. (7) Mọi người còn đang trầm trồ thì sững sờ nhận ra có những người tí hon đứng bên chân thác.

Bản ba câu (55 chữ)

Ông Quơn-cơ dẫn khách vào căn xưởng được coi là trái tim nhà máy: một thung lũng có sông sô-cô-la, con thác trộn sô-cô-la cùng các ống thủy tinh vận chuyển nó đi khắp nơi. Cỏ và hoa ở đây đều ăn được. Bên chân thác, cả đoàn bất ngờ thấy những người tí hon.

Câu nào đi đâu: câu (1) đến (5) gộp lại thành câu đầu của bản ngắn, nhờ dấu hai chấm liệt kê ba bộ phận của xưởng. Câu (6) chỉ giữ ý cỏ và hoa ăn được, bỏ tên cây cối. Câu (7) giữ nguyên ý vì đó là kết thúc đoạn trích, chỉ rút gọn cách nói.

Mẫu 5

Mẫu 5: Trái tim Đan-kô – bảng ba tầng độ dài

843 từ

Truyền thuyết về Đan-kô nằm trong truyện Bà lão I-déc-ghin của Go-rơ-ki. Đoạn trích ở sách lớp 7 bắt đầu giữa chừng, từ chỗ bà lão lặng nhìn thảo nguyên rồi kể tiếp; vì vậy bản dài nhất có thêm một câu nhắc lại vì sao đoàn người ở trong rừng. Bảng cho thấy mỗi tầng thêm gì so với tầng trên.

Độ dài Bản tóm tắt Thêm gì so với tầng trên
Một câu (36 chữ) Bị chính những người mình dẫn đường kết tội giữa cơn giông, Đan-kô tự mở lồng ngực, giơ trái tim rực sáng soi lối cho cả đoàn tới thảo nguyên chan nắng, sau đó gục chết. Chỉ có nhân vật, hành động phi thường và kết cục.
Khoảng 90 chữ (94 chữ) Đan-kô dẫn đường, đưa cả đoàn tìm lối thoát khỏi khu rừng tăm tối. Càng đi rừng càng dày, đầm lầy nuốt dần người, họ kiệt sức và quay sang trách chàng. Giông bão kéo đến, cả đoàn đứng lại, đổ hết tội cho chàng và vây chặt lấy chàng. Thương họ hơn giận, Đan-kô tự mở ngực mình, nâng trái tim cháy sáng lên làm đuốc. Nhờ ánh sáng ấy cả đoàn thoát ra thảo nguyên đầy nắng; Đan-kô cười rồi ngã xuống, còn trái tim chàng bị ai đó dẫm cho tắt. Lí do đoàn người nổi giận, lòng thương của Đan-kô, chi tiết trái tim bị giẫm.
Khoảng 200 chữ (219 chữ) Đêm ấy, bà lão I-déc-ghin tiếp tục câu chuyện về Đan-kô. Kẻ thù đã dồn bộ lạc của chàng tới tận rừng già, và chàng trai trẻ ấy đã nhận dẫn mọi người tìm đường ra. Lúc đầu ai cũng tin, nhưng càng đi rừng càng dày, đầm lầy càng nhiều, sức người cạn dần, họ bắt đầu oán trách. Rồi một cơn giông ập tới, sấm chớp làm cả đoàn khiếp sợ. Không chịu nhận mình yếu hèn, họ dừng lại, gọi Đan-kô là kẻ đã đẩy họ vào chỗ chết và vây lấy chàng như bầy thú dữ. Chàng giận lắm, song tình thương với họ còn lớn hơn. Chàng dùng tay xé ngực, lấy trái tim đang bừng cháy giơ lên cao. Ánh sáng xua tan bóng tối, đoàn người hăng hái ùa theo, không ai còn than vãn. Rừng thưa dần rồi mở ra thảo nguyên rực nắng vừa tạnh mưa. Ngắm vùng đất tự do trước mặt, chàng cười kiêu hãnh rồi gục xuống. Chẳng ai để mắt tới chàng, chỉ có một kẻ dè dặt đặt chân dẫm lên trái tim còn cháy; trái tim tóe lửa và lịm tắt. Theo bà lão, những đốm sáng xanh lập lòe trên thảo nguyên trước các cơn giông đều sinh ra từ trái tim ấy. Khung kể của bà lão, hoàn cảnh bộ lạc phải vào rừng, cơn giông, cảnh ra khỏi rừng và nguồn gốc những đốm lửa xanh.

Mẹo: từ tầng hai trở xuống, em vẫn phải giữ cặp đối lập làm nên truyện này: cả đoàn buộc tội chàng, còn chàng hi sinh vì chính họ. Bỏ một vế là bản tóm tắt mất ý nghĩa.

Tóm tắt văn bản thông tin ở Bài 10 Cánh diều

Văn bản thông tin không có cốt truyện, nên bản tóm tắt bám vào cách văn bản chia ý. Hai mẫu dưới là hai văn bản đọc của Bài 10: một bài viết phân loại, một bản đồ họa toàn số liệu.

Mẫu 6

Mẫu 6: Ghe xuồng Nam Bộ – năm sáu dòng và mười hai dòng

867 từ

Đúng như ví dụ trong sách Cánh diều, mẫu này làm hai bản theo số dòng. Bước ghi ý theo hệ thống được trình bày thành bảng, vì văn bản của Minh Nguyên xếp ghe xuồng vào hai nhóm lớn rồi tách tiếp từng loại.

Ý lớn Ý nhỏ (các loại) Điều đáng giữ khi tóm tắt
Ghe xuồng Nam Bộ rất đa dạng Căn cứ phân loại: cách làm, mục đích dùng, cách điều khiển Câu mở của mọi bản
Xuồng: nhỏ, gọn Ba lá, năm lá, tam bản, vỏ gòn, độc mộc, xuồng máy Xuồng ba lá ghép từ ba tấm ván, dài chừng 4 mét, chở 4–6 người; xuồng máy đi nhanh, hợp với dân thương hồ
Ghe: lớn, chở nặng, đi xa Ghe bầu, ghe lồng, ghe chài, ghe cào tôm, ghe ngo, ghe hầu Ghe chài lớn nhất, chở 150–200 tấn; ghe ngo của người Khmer dùng đua trong lễ hội
Loại ghe mang tên từng vùng Ghe câu Phú Quốc, ghe cửa Bà Rịa, ghe lưới rùng Phước Hải, ghe Cửa Đại Chỉ nhắc chung ở bản ngắn
Giá trị Phương tiện hữu ích, gắn bó với cư dân sông nước, chứa giá trị văn hóa Câu kết của mọi bản

Bản 5–6 dòng (92 chữ)

Ghe xuồng Nam Bộ có rất nhiều loại, được phân chia dựa trên cách đóng, mục đích sử dụng và cách điều khiển. Xuồng nhỏ gọn, gồm xuồng ba lá, năm lá, tam bản, vỏ gòn, độc mộc và xuồng máy. Ghe to hơn, chở nặng và đi xa, như ghe bầu, ghe lồng, ghe chài, ghe cào tôm, ghe ngo, ghe hầu, cùng những kiểu ghe đặc trưng cho mỗi vùng. Với cư dân sông nước, ghe xuồng là phương tiện không thể thiếu, lại mang giá trị văn hóa riêng.

Bản 10–12 dòng (198 chữ)

Văn bản giới thiệu sự phong phú của ghe xuồng Nam Bộ, xếp chúng thành nhiều loại dựa vào cách đóng, mục đích sử dụng và cách cho ghe chạy. Nhóm xuồng gồm những chiếc nhỏ, gọn. Phổ biến nhất là xuồng ba lá, ghép từ ba tấm ván, dài chừng bốn mét, chở được bốn đến sáu người; ngoài ra có xuồng năm lá ở Cần Thơ, xuồng tam bản, xuồng vỏ gòn, xuồng độc mộc của người Khmer và xuồng máy rất cơ động. Nhóm ghe gồm những chiếc to, chở nặng, chạy được xa: ghe bầu chạy buồm đi biển, ghe lồng có mui chuyên chở hàng ven biển, ghe chài to nhất với sức chở 150–200 tấn, ghe cào tôm hoạt động ban đêm, ghe ngo dùng cho các cuộc đua của đồng bào Khmer, ghe hầu dành cho quan lại thời trước. Mỗi vùng còn có ghe mang tên đất của mình như ghe câu Phú Quốc hay ghe Cửa Đại. Cuối bài, tác giả khẳng định ghe xuồng là người bạn đường khó thay thế của người dân vùng sông nước, đồng thời chứa đựng nét văn hóa riêng của Nam Bộ.

Phần được lược: cước chú về nguồn gốc các từ tam bản, chài, phần ghi nguồn tài liệu ở cuối bài và phần lớn số đo. Bản 10–12 dòng chỉ giữ hai con số tiêu biểu cho hai nhóm, đủ để người đọc hình dung chênh lệch giữa chiếc xuồng nhỏ nhất và chiếc ghe lớn nhất.

Mẫu 7

Mẫu 7: Tổng kiểm soát phương tiện giao thông – từ đồ họa sang chữ

427 từ

Đây là văn bản dạng đồ họa: chữ ít, hình và số nhiều. Tóm tắt nó tức là chọn ra vài con số nói được nhiều nhất rồi đặt vào câu. Mẫu gồm bản một câu và bản khoảng 100 chữ.

Số liệu được chọn (giữ đúng như văn bản): thời gian từ 15/5 đến 14/6/2020; 401 027 phương tiện vi phạm bị xử phạt, trong đó xe mô tô 287 085; 61 563 phương tiện bị tạm giữ; 27 293 trường hợp bị tước giấy phép lái xe; lỗi nhiều nhất là thiếu giấy phép lái xe (49 715 trường hợp).

Bản một câu (32 chữ)

Trong đợt tổng kiểm soát từ 15/5 đến 14/6/2020, hơn 401 000 người lái xe vi phạm luật giao thông đã bị xử phạt, nhiều nhất là người đi xe mô tô.

Bản khoảng 100 chữ (111 chữ)

Bản đồ họa tổng kết đợt kiểm soát phương tiện giao thông diễn ra từ 15/5 đến 14/6/2020. Chỉ trong khoảng một tháng, 401 027 phương tiện vi phạm đã bị xử phạt; riêng xe mô tô chiếm 287 085 trường hợp, phần còn lại là xe tải, xe con, xe khách, xe container và các loại xe khác. Có 61 563 phương tiện bị tạm giữ và 27 293 người bị tước giấy phép lái xe. Năm lỗi phổ biến nhất lần lượt là không có giấy phép lái xe, chạy quá tốc độ, vi phạm nồng độ cồn, không chấp hành đèn tín hiệu và chở quá tải trọng.

Lưu ý riêng với văn bản số liệu: con số trong bản tóm tắt phải chép đúng từng chữ số; bản một câu được phép làm tròn như chính nhan đề đồ họa đã làm (hơn 401 000). Các cột và chấm tròn chỉ là cách vẽ độ lớn của số, không cần tả lại.

Luyện thêm với truyện viễn tưởng và văn bản thông tin khác trong sách lớp 7

Năm mẫu cuối lấy văn bản ở các bài khác của Kết nối tri thức và Cánh diều. Đề kiểm tra thường ra đúng những dạng này: tóm tắt theo số câu, tóm tắt kèm bảng sự việc, hoặc viết bản dài rồi rút lại nhiều lần.

Mẫu 8

Mẫu 8: Cuộc chạm trán trên đại dương – từ bảng sự việc đến bản viết

844 từ

Đoạn trích thứ hai của Giuyn Véc-nơ trong trang này (Kết nối tri thức, Bài 7) là cảnh mở màn cho chuyến phiêu lưu mà Mẫu 3 kể tiếp. Sách Kết nối tri thức phiên tên giáo sư là A-rôn-nác. Trước khi viết, em lập bảng ba phần của đoạn trích.

Phần Sự việc chính Từ ngữ cần giữ
1. Cuộc rượt đuổi Tàu chiến Lin-côn sẵn sàng từ trước rạng đông; sương tan thì Nét Len trông thấy con vật; tàu chạy hết tốc lực suốt một giờ mà khoảng cách giữa hai bên vẫn y nguyên cá thiết kình, thuyền trưởng Phác-ra-guýt, Nét Len
2. Mũi lao trong đêm Con vật phát sáng rồi nằm im; tàu tắt máy lướt tới gần; Nét phóng lao, nghe tiếng kim loại va nhau; hai cột nước đổ xuống boong, giáo sư rơi xuống biển mũi lao, cột nước
3. Trên lưng con quái vật Công-xây giúp giáo sư bơi; tay ông chạm phải một thứ cứng; gặp lại Nét; biết con vật là tàu ngầm vỏ thép; sáng ra những người bí ẩn kéo cả ba vào trong tàu tàu ngầm, bọc thép

Bản khoảng 190 chữ (194 chữ)

Câu chuyện do giáo sư A-rôn-nác kể lại; ông cùng anh giúp việc Công-xây có mặt trên chiến hạm Lin-côn để săn một sinh vật bí ẩn được đồn là con cá thiết kình. Từ trước rạng đông, cả tàu đã sẵn sàng; sương vừa tan thì tay săn cá voi Nét Len trông thấy nó. Thuyền trưởng Phác-ra-guýt ra lệnh chạy hết tốc lực, nhưng suốt một giờ con vật vẫn giữ nguyên khoảng cách, như cố ý trêu người đuổi. Đến đêm, nó lại phát sáng rồi nằm im. Tàu tắt máy, lướt sát tới. Mũi lao của Nét bật ra kèm một tiếng chát như sắt đập vào sắt; đèn trên mình con vật phụt tắt, hai luồng nước cực lớn đổ ập lên boong, hất giáo sư xuống biển. Ông bơi đến kiệt sức, được Công-xây đỡ, rồi chạm phải một khối cứng dưới nước và lịm đi. Khi hồi tỉnh, ông gặp Nét và cùng hiểu rằng con quái vật thực ra là tàu ngầm có vỏ thép, do người điều khiển. Trời vừa sáng, mấy người lạ từ trong tàu bước ra, đưa cả ba vào bên trong.

Bản ba câu (68 chữ)

Suốt một ngày, chiến hạm Lin-côn rượt con cá thiết kình mà khoảng cách không hề ngắn lại. Khi màn đêm buông, mũi lao của Nét Len trúng con vật, nước ập lên boong hất giáo sư A-rôn-nác xuống biển. Nhờ Công-xây, ông trèo lên được lưng con vật, cùng Nét phát hiện nó là tàu ngầm vỏ thép; sáng ra, cả ba được đưa vào lòng tàu.

Ghi chú: bảng giúp em không quên phần 3, phần hay bị bỏ vì học sinh dừng ở cảnh rơi xuống biển. Từ bản dài sang bản ba câu, mỗi phần của bảng còn đúng một câu; tốc độ con tàu, cảnh con vật phát sáng và những người lạ bịt mặt đều được lược.

Mẫu 9

Mẫu 9: Chất làm gỉ – tóm tắt theo số câu

569 từ

Đề kiểm tra hay ghi độ dài bằng số câu. Truyện ngắn của Rây Brét-bơ-ry (Cánh diều, Bài 3) có kết thúc bất ngờ, nên bản ngắn đến đâu cũng phải giữ câu cuối.

Bản ba câu (82 chữ)

Người trung sĩ trẻ kể với viên đại tá rằng anh đã chế được thiết bị làm mọi vũ khí bằng thép gỉ nát, chấm dứt chiến tranh. Không tin, đại tá viết giấy cho anh đến chỗ bác sĩ, và anh lặng lẽ đi khỏi doanh trại. Lát sau, bút máy, súng của lính gác rồi khẩu súng lục của đại tá đều hóa thành bụi gỉ, khiến ông nổi cơn thịnh nộ, vác chân ghế gỗ chạy đi tìm anh.

Bản bảy câu (185 chữ)

Biết người lính trẻ dưới quyền dạo này căng thẳng, việc gì cũng làm hỏng, viên đại tá cho gọi anh lên, muốn chuyển anh sang đơn vị khác. Người lính từ chối, nói anh chỉ mong chiến tranh chấm dứt hẳn. Anh đã mày mò nghiên cứu vật lí, luyện kim, rồi chế ra một thiết bị nhỏ như bao diêm, có thể làm thép của súng đạn, xe tăng, máy bay gỉ ra mà không hại đến đồ dùng thường ngày. Đại tá không tin, viết phiếu chuyển anh sang chỗ bác sĩ Mét-thiu, còn anh chào ông rồi rời doanh trại. Lúc đại tá gọi điện kể cho bác sĩ về chàng lính lạ lùng, cây bút trong túi ông đã thành nhúm bột gỉ. Ông ra lệnh cho trạm gác chặn người trung sĩ lại, nhưng lính gác không bắn nổi vì súng đã hỏng, rồi mọi vũ khí quanh doanh trại lần lượt mục rã, kể cả khẩu súng lục của ông. Tức tối, đại tá bẻ gãy chân một chiếc ghế gỗ, cầm nó chạy ra ngoài tìm anh.

Giữ gì khi cắt từ bảy câu xuống ba: câu một giữ phát minh, câu hai giữ thái độ không tin của đại tá, câu ba giữ cả chuỗi vũ khí hỏng lẫn chiếc chân ghế gỗ. Chiếc chân ghế là chi tiết đắt nhất của truyện: vũ khí bằng thép mất hết, kẻ hiếu chiến chỉ còn một khúc gỗ.

Mẫu 10

Mẫu 10: Dấu ấn Hồ Khanh – tóm tắt theo trục thời gian

799 từ

Bài báo của Nhật Văn, học ở Bài 7 sách Kết nối tri thức, kể theo năm tháng, nên bước ghi ý là một trục thời gian. Từ trục ấy viết ra hai bản. Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng mà văn bản nhắc tới khi ấy thuộc tỉnh Quảng Bình; sau đợt sáp nhập tỉnh năm 2025, vùng này nằm trong địa phận tỉnh Quảng Trị.

  • Trước đây: dân làng vùng Phong Nha kiếm sống chủ yếu bằng việc vào rừng tìm trầm; Hồ Khanh là thợ sơn tràng, mỗi chuyến đi thường dừng lại ngắm thạch nhũ trong hang.
  • Khoảng năm 1989: trú mưa trong một hang đá, anh thấy hơi lạnh lạ thường, nghe gió rít qua vách.
  • Từ 1999 đến 2004: bỏ nghề rừng, được dân làng giới thiệu làm người dẫn lối cho các đoàn nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài; được ông Hô-oát Lim-bơ của Hiệp hội hang động Hoàng gia Anh quý mến, mời hợp tác.
  • Sau đó: tự mình lần lại đường cũ tìm cái hang có gió lạnh, thấy cửa hang nhưng chưa dám vào sâu.
  • Năm 2009: dẫn đoàn thám hiểm Hoàng gia Anh vào hang; hang được đặt tên Sơn Đoòng, được xác nhận có chiều cao và độ rộng lớn nhất thế giới.
  • Về sau: tiếp tục dẫn các đoàn nghiên cứu, làm phim; vận động dân bảo vệ di sản; tìm thêm hàng chục hang khác.

Bản khoảng 50 chữ (54 chữ)

Hồ Khanh, một thợ sơn tràng vùng Phong Nha, tình cờ gặp một hang đá thổi ra hơi lạnh trong lần tránh mưa. Nhiều năm dẫn lối cho giới nghiên cứu, đến năm 2009 chính anh dẫn đoàn Anh vào cái hang năm nào, nay mang tên Sơn Đoòng, hang lớn nhất thế giới.

Bản khoảng 160 chữ (158 chữ)

Nhân vật của bài báo là Hồ Khanh, người đưa hang Sơn Đoòng ở Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng ra ánh sáng. Anh vốn là thợ sơn tràng, nhưng khác bạn nghề, anh mê ngắm thạch nhũ. Khoảng năm 1989, đang đi rừng thì trời đổ mưa, anh tạt vào một hang có hơi lạnh và tiếng gió rít khác thường. Từ năm 1999 đến 2004, nhờ thông thuộc địa hình, anh làm người dẫn lối cho các đoàn nghiên cứu trong nước và quốc tế, được trưởng đoàn thám hiểm Hoàng gia Anh Hô-oát Lim-bơ tin quý. Nhớ mãi cái hang năm nào, anh tự mình tìm lại được cửa hang, rồi năm 2009 dẫn đoàn Anh vào khám phá. Hang mang tên Sơn Đoòng, giữ kỉ lục thế giới về độ cao lẫn bề rộng. Về sau, anh còn tìm thêm hàng chục hang khác và vận động bà con giữ gìn di sản.

Về mốc thời gian: với văn bản kể theo năm, mốc nào cũng muốn giữ, nên bản ngắn chỉ giữ năm 2009 là mốc làm nên dấu ấn. Một số tài liệu khác ghi Hồ Khanh phát hiện cửa hang năm 1991; còn bản tóm tắt thì theo đúng năm ghi trong văn bản đang học.

Mẫu 11

Mẫu 11: Hội thi thổi cơm – bảng so sánh bốn hội rồi viết

661 từ

Văn bản ở Bài 5 Cánh diều có sa pô và bốn mục nhỏ, mỗi mục mang tên một làng. Bước ghi ý vì vậy nên làm thành bảng so sánh: nhìn theo hàng biết từng hội, nhìn theo cột thấy chỗ giống và khác.

Hội Người thi Thử thách riêng
Thị Cấm (Hà Nội) Các đội, có cả nam và nữ Ba chặng: tự làm gạo từ thóc; cọ nứa lấy lửa, chạy đi lấy nước; nấu cơm. Nồi thắng được dâng cúng thần.
Làng Chuông (Hà Nội) Thi riêng nữ, riêng nam Nữ vừa nấu vừa dỗ em bé, không cho con cóc nhảy khỏi vòng tròn; nam giới chèo thuyền qua sông rồi thổi cơm ngay trên thuyền.
Từ Trọng (Thanh Hóa) Người dự thi trên thuyền thúng Nấu giữa đầm rộng lộng gió, thuyền tròng trành, lửa khó bén.
Hành Thiện (vùng Nam Định cũ) Từng cặp nam giới Niêu cơm treo trên cành tre buộc sau lưng một người, người kia cầm đuốc đun; vừa nấu vừa đi quanh sân đình.

Bản một câu (39 chữ)

Văn bản giới thiệu luật thi nấu cơm ở bốn lễ hội Thị Cấm, làng Chuông, Từ Trọng, Hành Thiện, nơi nào cũng đặt ra thử thách riêng và chọn nồi cơm chín sớm, ngon nhất làm người thắng.

Bản khoảng 130 chữ (131 chữ)

Ở nhiều làng quê Bắc Bộ và miền Trung, ngày hội có màn thi nấu cơm, luật mỗi nơi một khác. Ở hội Thị Cấm, các đội phải biến thóc thành gạo, cọ nứa tạo lửa, mang nước về, sau cùng mới bắc nồi; nồi cơm thắng được đem cúng thần. Ở làng Chuông, chị em thổi cơm trong khi phải dỗ một em bé và giữ con cóc ở yên trong vòng tròn, còn cánh đàn ông chèo thuyền qua sông rồi nấu trên thuyền. Ở Từ Trọng, người thi ngồi thuyền thúng nấu giữa đầm lộng gió. Ở Hành Thiện, hai người đàn ông một cặp, vừa đi vòng sân đình vừa đun niêu cơm buộc trên cành tre. Nồi cơm chín trước, dẻo và ngon là thắng cuộc.

Rút gọn bằng cách nào: bản một câu giữ tên bốn hội và tiêu chí thắng chung; bản dài cho mỗi hội đúng một câu, thứ tự giống thứ tự các tiêu đề nhỏ trong văn bản. Nguồn gốc tích xưa của hội Thị Cấm và số đo vòng tròn ở làng Chuông được bỏ.

Mẫu 12

Mẫu 12: Đường vào trung tâm vũ trụ – rút gọn dần qua bốn nấc

884 từ

Mẫu cuối cho thấy toàn bộ quá trình co một bản tóm tắt. Văn bản trích từ Thiên Mã, một tiểu thuyết viễn tưởng của Hà Thủy Nguyên, cũng thuộc Bài 7 của Kết nối tri thức; bản dài được viết trước, rồi mỗi nấc cắt bớt khoảng một nửa.

Nấc 1 – khoảng 240 chữ (239 chữ)

Người kể chuyện xưng tôi cùng Thần Đồng và Thần Thoại, chú ngựa biết bay, tìm tới Đen-phi, khu thánh địa cổ ở Hy Lạp, mong thấy lối vào trung tâm vũ trụ. Để chú ngựa ở lại trong rừng cho khỏi bị chú ý, hai bạn tới bảo tàng của khu di tích ngắm hòn đá Ôm-phe-lốt, thứ người Hy Lạp xưa tin là rốn vũ trụ. Dù chạm trổ tinh xảo, nó chẳng có vẻ gì của một vật thần bí. Thần Đồng nghĩ ngợi rồi cho rằng bí mật còn nằm ở đền thờ, cả nhóm hẹn tối quay lại. Đêm đó, giữa những hàng cột đá trắng dưới trăng, Thần Đồng trượt chân ngã xuống một hố sâu giữa lối đi. Thay vì bực bội, cậu gạt lớp sỏi cát, lá khô, và lộ ra một đường rãnh tròn trông như một chi tiết máy móc rất xưa. Nghĩ rằng phải có thứ gì lắp vừa, cậu cưỡi chú ngựa có cánh trở lại bảo tàng, mang hòn đá về. Hòn đá vừa đặt vào rãnh, cả ba bị cuốn sang một nơi khác: một thung lũng vây kín bởi vách đá, trời không có mặt trời mà vẫn sáng, nấm cao như cây, dương xỉ vươn lên sừng sững, những con chuồn chuồn to khác thường, cả những con vật tưởng đã tuyệt chủng như khủng long. Họ đã tới trung tâm vũ trụ.

Nấc 2 – khoảng 100 chữ (101 chữ)

Ba người bạn, trong đó có chú ngựa biết bay Thần Thoại, lặn lội tới Đen-phi tìm lối vào trung tâm vũ trụ. Hòn đá Ôm-phe-lốt trong bảo tàng trông bình thường, nên đêm ấy họ lẻn vào đền thờ thần A-pô-lô. Thần Đồng bị ngã xuống một hố đất, nhờ thế phát hiện dưới đáy một rãnh tròn như chi tiết máy cổ. Cậu bay đi lấy hòn đá, đặt khớp vào rãnh, và ngay lập tức cả ba bị đưa tới một thung lũng chẳng thấy mặt trời, đầy cây cỏ khổng lồ và muông thú thời tiền sử.

Nấc 3 – khoảng 50 chữ (50 chữ)

Trong đền thờ thần A-pô-lô, cậu bé Thần Đồng tình cờ tìm thấy một rãnh tròn bí ẩn. Đặt hòn đá Ôm-phe-lốt vào đó, cậu cùng hai người bạn được đưa đến trung tâm vũ trụ, một thung lũng có cây cỏ khổng lồ và các sinh vật cổ đại.

Nấc 4 – một câu (20 chữ)

Nhờ hòn đá Ôm-phe-lốt và một rãnh tròn trong đền thờ, ba người bạn bước vào trung tâm vũ trụ.

Mỗi nấc mất gì: từ nấc 1 xuống nấc 2 mất các chi tiết tả (cột đá dưới trăng, hình dáng hòn đá) và lí do để ngựa trong rừng. Xuống nấc 3, chuyến tham quan bảo tàng biến mất, chỉ còn phát hiện và kết quả. Nấc 4 giữ duy nhất mối quan hệ nhân quả: hòn đá cộng với cái rãnh mở ra đường vào. Em có thể dùng chính cách này để kiểm tra bản của mình: nếu cắt đến nấc một câu mà vẫn đúng ý văn bản, các nấc trên mới chắc chắn không lạc ý.

Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao

Lỗi Sửa thế nào
Bản ngắn chỉ là phần đầu của bản dài, bị cụt kết thúc Rút gọn đều ở mọi đoạn, không cắt đuôi. Viết câu kết trước, rồi mới phân chữ cho phần giữa.
Thêm lời khen, bài học vào cuối (truyện cảm động, văn bản bổ ích…) Bỏ hết, trừ khi đề yêu cầu nêu chủ đề. Câu cuối của bản tóm tắt là kết thúc của văn bản gốc.
Bê nguyên những câu dài của văn bản gốc Chỉ giữ từ ngữ quan trọng (tên riêng, thuật ngữ, từ địa phương); phần còn lại diễn đạt bằng lời mình, nhất là với tác phẩm chưa hết thời hạn bảo hộ.
Giữ lời thoại trong bản tóm tắt Chuyển thành lời kể gián tiếp: Mon rủ anh đi mang chim vào bờ, thay cho cả đoạn đối đáp.
Lệch độ dài quá nhiều Đếm chữ thật, không ước bằng mắt. Thừa thì cắt tả cảnh, ví dụ phụ; thiếu thì thêm ý nhỏ cho ý lớn sẵn có, không thêm ý ngoài văn bản.
Văn bản thông tin bị kể như truyện, mất thứ tự chia ý Giữ đúng khung của văn bản: phân loại, so sánh, thời gian. Bảng ý lớn – ý nhỏ giúp không bỏ sót nhóm nào.
Sai tên riêng, số liệu, phiên âm Đối chiếu lại với sách; mỗi bộ có thể phiên âm khác (A-rô-nắc ở Chân trời sáng tạo, A-rôn-nác ở Kết nối tri thức), em theo đúng sách mình học.

Mấy mẹo khi làm bài trên lớp:

  • Khi đề cho hai mức độ dài, viết bản dài trước rồi rút lại sẽ nhanh hơn viết hai bản độc lập.
  • Gạch chân các từ nối chỉ thời gian (từ lúc, đến đêm, sáng hôm sau) trong bản nháp; thiếu chúng, bản ngắn dễ thành chuỗi câu rời rạc.
  • Với đoạn văn của Chân trời sáng tạo, câu mở luôn có tên văn bản và tác giả; đừng để tên văn bản xuất hiện lần đầu ở giữa đoạn.

Gợi ý cho phần Nói và nghe: nghe rồi tóm tắt ý chính

Cùng Bài 10, Cánh diều có mục Nghe và tóm tắt ý chính của bài nói. Kĩ năng y như tóm tắt văn bản, chỉ khác là em không đọc lại được, nên phải ghi nhanh:

  • Nghe kĩ câu mở của người nói: thường đó là ý khái quát, cũng là câu đầu của bản tóm tắt.
  • Ghi từ khóa và kí hiệu thay vì cả câu: mũi tên cho nguyên nhân – kết quả, số thứ tự cho các ý lớn.
  • Để ý những từ chuyển ý như thứ nhất, tiếp theo, cuối cùng; mỗi lần nghe thấy là một ý lớn mới.
  • Nghe xong, viết ngay bản ba bốn câu khi trí nhớ còn mới, rồi đối chiếu với bạn ngồi cạnh để bổ sung ý thiếu.

Luyện theo thứ tự nào cho nhanh tiến bộ?

Học sinh dùng Kết nối tri thức nên luyện hai truyện của Bài 1 trước (Mẫu 1, Mẫu 2), rồi để dành Mẫu 8, Mẫu 10, Mẫu 12 cho lúc học Bài 7. Với Chân trời sáng tạo, Mẫu 3 là khung chuẩn của đoạn 150–200 chữ; Mẫu 4 và Mẫu 5 giúp em luyện co một truyện về độ dài khác khi thầy cô đổi đề. Học Cánh diều thì hai văn bản của Bài 10 nằm ở Mẫu 6, Mẫu 7; văn bản thông tin của Bài 5 ở Mẫu 11; truyện viễn tưởng của Bài 3 ở Mẫu 9. Nếu chỉ có một buổi ôn, hãy đọc Mẫu 12: bốn nấc rút gọn ở đó gói gần đủ mọi thao tác của kiểu bài này.

Xem thêm:

Vietnammm
VJOL
s666
s666
cakhiatv
xoilac
gavangtv
trực tiếp bóng đá
xoilac tv
xoilac tv
trực tiếp bóng đá
cakhiatv
xem bóng đá trực tiếp
socolive
trực tiếp bóng đá
cakhiatv
thapcamtv
90phut
luongsontv
Socolive
Cakhiatv
Tiếu lâm tv
90phut
Thapcamtv
Luongsontv
sunwin
hitclub
go88
go88
kèo nhà cái
game bài
sunwin20
lô đề uy tín
https://hitclub3.jp.net/
https://kqbd.deal/
7m
789club
789club
b52
bomwin
https://trangcacuocbongda.bio/
iwin
vaobet
hitclub
https://tylekeonhacai.top/
https://sunwinn.za.com/
https://go881.jp.net/
7m
789club
game bài đổi thưởng
Rikvip
Socolive TV
Socolive TV
kèo nhà cái
hitclub
sunwin
789club
Kèo nhà cái
b52 club
b52 club
sunwin
kèo nhà cái
kèo bóng đá hôm nay
cá cược bóng đá
cakhiatv
socolive
xoilac
Kèo nhà cái
b52 club
ok9
https://fly88h.com/
789bet
tỷ lệ bóng đá hôm nay
tỷ lệ bóng đá hôm nay
Twin68
ww88
hitclub
tỷ lệ kèo
tylekeonhacai
V9bet
tỷ lệ kèo
nổ hũ
sunwin
188bet
Hit club
hitclub
Game bài 789club
BongdaNET
keonhacai5
Sunwin
hitclub
98win
RR88
123Bet
kèo nhà cái 5
NOHU
https://lucky88.us/
kubet
Sunwin
https://da888.app/
five88
da88
vin88
Five88
MAY88
FABET
sunwin
sunwin
sin88
Sumclub
Sao789
tỷ lệ kèo nhà cái
V88
ww88
ww88
Gamvip
Winclub
Xeng88
Vip69
Vic88
Kwin
Sumvip
Hit Club
https://cm88.so/
https://keonhacai.gb.net/
kèo nhà cái
Iwin68
dn88
https://ae8888.gr.com/
cakhiatv
xôi lạc tv
socolive
JBO
CakhiaTV
Socolive
b52club
kèo nhà cái 55
HITCLUB
lô đề online
https://mm88.blog/
8 DAY
kèo nhà cái
88xx
go99
sc88
23win
go8
go8
go99
33win
tỷ lệ kèo
kèo nhà cái
Go88
nowgoal
tỷ lệ kèo bóng đá anh
soi kèo nhà cái
Tài xỉu online
https://keonhacai6.io/
Luck8
B29
go8
https://sunwinor.com/
Rikvip
B52club
Kèo Nhà Cái
Go88
Socolive
Sutbongtv
Socolive
hitclub
bet168
game bài đổi thưởng
w 88
tỷ lệ kèo nhà cái
sun win
kết quả bóng đá
VN88
hello88
sunwin
f168
uu88
nổ hũ
Kèo Nhà Cái
Tài Xỉu
rikvip
xocdia88
xóc đĩa online
88vin
bay789
kwin
sunwin
https://sunwin35.io/
mu88
sunwin
B52
qq887p com
qq88 social
kèo nhà cái
kèo nhà cái
https://sunwins.eu.com
hitclub
Game bài đổi thưởng
v9bet
kubet
go88
b52 club
https://98win.kiwi/
au88
B52club
kèo nhà cái 5
https://sunwinkt.com/
AE888
Sunwin
go88
kqbd
Go88
kèo nhà cái
hit club
https://keonhacaim88.info/
trực tiếp bóng đá
Sunwin
sunwin
ok9
789Club
Sumclub
sonclub
alo789
bet88
123b
cm88
go 88
https://sunwinvy.com/
xoilactv
http://taixiuonline.markets/
nohu90 com
23win
game bai doi thuong
hitclub
sunwin
tài xỉu 789club
Bong88
Tỷ lệ kèo
Sunwin
hitclub
789club
trực tiếp bóng đá socolive
cm88
https://sunwin.vision/
hitclub
du88
du88
9bet
9bet
sunwin
lucky88
uk88
kèo nhà cái 5
Sunwin
https://ae888.co.com/
mu88
sunwin
sunwin
trang cá cược bóng đá
sunwin
GO99
789WIN
Lucky88
AO88
789Club
Nhà cái Xocdia88
8xbet
fb88
https://shbet800.com/
https://789bethv.com/
sunwin
sunwin
HITCLUB
https://keonhacai.forsale/
bay789
mu88
mu88
keo nha cai 5
đánh đề online
qq8876 net
https://metruyen.biz/
789 Club
HITCLUB
tỷ lệ kèo
luck8
tg88
789bet
789club
qh88
kubet
S8
Sunwin
Go88
Hay88
Hay88
Hay88
Hay88
https://go88n.co/
8xbet
b52club
kèo nhà cái
game bài đổi thưởng
https://ae888li.com/
79KING
https://npunks.io/
sun win
sun win
bắn cá đổi thưởng
Luckywin
RIK VIP
UY88
sun win
https://keonhacaingoaihanganh.com/
au88
SUNWIN
mê truyện
Xóc đĩa
tài xỉu
đánh đề online
kèo nhà cái
nhà cái uy tín
https://dstruct.io
sunwin
nha cai uy tin
789 club
99ok
VN88
90phut
trực tiếp bóng đá
Tai xiu
789club
nowgoal
J88
sunwin
go88
https://789betlove.com/
rikvip
hitclub
lô đề online
https://tylekeonhacai.co.com/
789club
Exness
kubet