Mùa hè năm 1875, khi ông qua đời ở tuổi bảy mươi, người ta tìm thấy trên ngực ông một túi nhỏ đựng lá thư dài của cô gái ông đem lòng yêu từ mấy chục năm trước, khi cô đã hứa hôn với người khác. Người đàn ông cả đời không vợ ấy là An-đéc-xen. An-đéc-xen (Han-xơ Crít-xti-an An-đéc-xen, Hans Christian Andersen, 1805 – 1875) là nhà văn Đan Mạch, tác giả của 156 truyện cổ tích như Nàng tiên cá, Vịt con xấu xí, Cô bé bán diêm, được dịch ra hơn một trăm thứ tiếng. Học sinh đọc Cô bé bán diêm ở lớp 6 và gặp lại chính ông trong truyện Xe đêm ở lớp 8.
Con trai người thợ giày ở Ô-đen-xê

| Tên đầy đủ | Hans Christian Andersen (Han-xơ Crít-xti-an An-đéc-xen); người Đan Mạch thường gọi tắt là H.C. Andersen |
| Năm sinh – năm mất | 2/4/1805 – 4/8/1875 |
| Quê quán | Ô-đen-xê (Odense), đảo Phy-nơ, Đan Mạch; mất tại Cô-pen-ha-ghen |
| Thể loại | Truyện cổ tích (truyện kể sáng tác), tiểu thuyết, kịch, thơ, du ký, tự truyện |
| Tác phẩm tiêu biểu | Cái bật lửa, Nàng công chúa và hạt đậu (1835), Nàng tiên cá, Bộ quần áo mới của hoàng đế (1837), Vịt con xấu xí (1843), Bà chúa tuyết (1844), Cô bé bán diêm (1845); tiểu thuyết Người ứng tác (1835) |
| Số truyện cổ tích | 156 truyện |
| Trong SGK hiện hành | Cô bé bán diêm (Ngữ văn 6, cả ba bộ sách) |
Ông sinh ngày 2/4/1805 ở Ô-đen-xê, một thị trấn tỉnh lẻ trên đảo Phy-nơ. Cha là anh thợ giày nghèo Han-xơ An-đéc-xen, chỉ học hết bậc sơ đẳng nhưng có sách trong nhà: Kinh Thánh, hài kịch của Hôn-be, Nghìn lẻ một đêm. Ông đọc cho con nghe và tự tay làm cho con một nhà hát rối nhỏ. Mẹ là một phụ nữ giặt thuê không biết chữ. Cha mất năm 1816, cậu bé mười một tuổi phải đi học việc ở xưởng dệt, xưởng may.
Trung tâm Nghiên cứu An-đéc-xen thuộc Đại học Nam Đan Mạch nhấn mạnh hai thứ của tuổi thơ ấy về sau thành vốn liếng văn chương: những câu chuyện dân gian ông nghe các bà cụ trong nhà tế bần Ô-đen-xê kể, và việc Ô-đen-xê là thị trấn duy nhất ngoài thủ đô có nhà hát, nơi cậu bé được xem những gánh diễn từ Cô-pen-ha-ghen về.
Mười bốn tuổi một mình lên kinh đô
Ngày 4/9/1819, vài tháng sau lễ thêm sức, cậu bé mười bốn tuổi từ biệt mẹ, lên xe ngựa đi Cô-pen-ha-ghen để tìm đường vào nhà hát. Cậu có giọng nữ cao trong trẻo và được Nhà hát Hoàng gia nhận, nhưng giọng sớm vỡ. Trong ba năm, cậu lần lượt thử làm vũ công ba lê, diễn viên, ca sĩ, rồi viết kịch, và đều thất bại.
Ý định viết lách của cậu lọt vào mắt Giô-nát Côn-lin, giám đốc Nhà hát Hoàng gia, người thuyết phục vua Phơ-rê-đê-rích VI chu cấp một phần tiền học. Cậu thiếu niên được gửi vào trường ngữ pháp ở Xla-gen-xê, rồi Ê-xi-nô, Ông ở nhà thầy hiệu trưởng, bị đối xử tệ “để rèn tính cách”, bị cấm viết, và về sau gọi đó là những năm u tối, cay đắng nhất đời mình. Gia đình Côn-lin thì trở thành gia đình thứ hai của ông suốt đời.
Năm 1829, truyện Cuộc đi bộ từ kênh Hôn-men đến mũi đông đảo A-ma đem lại thành công đầu tiên. Năm 1833, một khoản trợ cấp nhỏ của nhà vua cho ông đi châu Âu; chuyến đi Ý thành cuốn tiểu thuyết Người ứng tác (1835), được hoan nghênh ngay khi ra mắt.
Ba cuốn sách mỏng in từ năm 1835 đến 1837
Ngày 8/5/1835, nhà xuất bản Rai-xen ở Cô-pen-ha-ghen in một tập mỏng sáu mươi mốt trang tên là Truyện kể cho trẻ em, gồm bốn truyện: Cái bật lửa, Claus lớn và Claus nhỏ, Nàng công chúa và hạt đậu, Những bông hoa của bé I-đa. Ba truyện đầu ông dựa vào chuyện dân gian nghe thời nhỏ, truyện thứ tư do ông tự nghĩ ra cho con gái một người bạn.
Giới phê bình Đan Mạch không mặn mà. Họ chê lối kể chuyện như nói chuyện thường ngày, và cho rằng truyện viết cho trẻ con phải để dạy dỗ chứ không phải để mua vui. Ông chờ cả năm mới in tập thứ ba, ngày 7/4/1837, gồm Nàng tiên cá và Bộ quần áo mới của hoàng đế. Ngay trước khi in, ông sửa lại đoạn kết truyện sau: thay vì để hoàng đế cứ thế diễu hành, ông thêm tiếng một đứa trẻ kêu lên rằng hoàng đế chẳng mặc gì cả. Chi tiết ấy về sau thành điều ai cũng nhớ.
Chính Nàng tiên cá đem lại cho ông danh tiếng quốc tế. Các tập tiếp theo ra đều đặn cho đến năm 1872, với Vịt con xấu xí, Bà chúa tuyết, Chú lính chì dũng cảm, Đôi giày đỏ… Khác với anh em Grim, những người sưu tầm truyện dân gian, phần lớn truyện của ông là sáng tác: đồ vật biết nói, con vật biết buồn, và rất nhiều kết thúc không có hậu.
Một đời không vợ
An-đéc-xen không bao giờ lập gia đình. Cô gái có lá thư theo ông đến lúc chết là Ri-bo Voi-tơ, em gái một người bạn học, mối tình đầu của ông; khi hai người gặp nhau, cô đã đính hôn với người khác. Ông còn đơn phương yêu Xô-phi Ơ-xtét, con gái nhà vật lý Ơ-xtét, và Lu-i-dơ Côn-lin, con gái út của ân nhân.
Người phụ nữ nổi tiếng nhất ông từng yêu là nữ danh ca Thụy Điển Giên-ni Lin. Truyện Chim họa mi được coi là lời bày tỏ của ông với cô, và từ đó cô có biệt danh “chim họa mi Thụy Điển”. Ông trao thư cầu hôn cho cô ngay trên sân ga; cô chỉ coi ông như một người anh.
Ông kết bạn với nhiều văn nhân châu Âu. Năm 1847, ông gặp Đích-ken ở London và rất ngưỡng mộ ông. Mười năm sau, ông sang thăm, định ở nhà Đích-ken ít ngày nhưng kéo dài thành năm tuần, khiến gia đình chủ nhà mệt mỏi. Sau chuyến đi ấy, Đích-ken thôi hồi âm thư của ông, và An-đéc-xen không bao giờ hiểu vì sao.
Ngày 2 tháng 4: từ sinh nhật nhà văn đến Ngày Sách thiếu nhi
Đầu năm 1872, ông ngã khỏi giường, bị thương nặng và không bao giờ hồi phục hẳn. Ngày 2/4/1875, sinh nhật lần thứ bảy mươi của ông được cả nước Đan Mạch long trọng chúc mừng. Ông mất ngày 4/8/1875 tại Rô-li-he (Rolighed), biệt thự của gia đình bạn thân Men-khi-o gần Cô-pen-ha-ghen. Đến lúc ấy, chính phủ Đan Mạch đã trả cho ông khoản trợ cấp hằng năm như một “báu vật quốc gia”.
Ngày sinh của ông, 2 tháng 4, hiện là Ngày Sách thiếu nhi quốc tế. Giải thưởng mang tên ông, do Hội đồng Quốc tế về Sách cho người trẻ (IBBY) trao cho nhà văn và họa sĩ minh họa có cống hiến lâu dài cho văn học thiếu nhi. Năm 2005, kỷ niệm hai trăm năm ngày sinh của ông, được Đan Mạch gọi là Năm An-đéc-xen.
Cô bé bán diêm và An-đéc-xen trong sách giáo khoa
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Cô bé bán diêm | Ngữ văn 6 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 3 (Yêu thương và chia sẻ) | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
| Cô bé bán diêm | Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 9 (đọc mở rộng theo thể loại); Ngữ văn 6 Cánh diều, tập 2 – Bài 6 (thực hành đọc hiểu) | Tóm tắt · Phân tích nhân vật |
| Xe đêm (Pau-tốp-xki viết về An-đéc-xen) | Ngữ văn 8 Kết nối tri thức | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
Cô bé bán diêm in lần đầu vào tháng 12/1845, trong một cuốn lịch dân gian Đan Mạch cho năm 1846, sau đó được đưa vào tập Truyện cổ tích mới năm 1848. Đêm giao thừa, em bé chân trần không bán được bao diêm nào, không dám về nhà vì sợ cha đánh, ngồi nép vào góc tường quẹt từng que diêm để sưởi; mỗi que diêm mở ra một ảo ảnh, cho đến lúc em thấy bà nội. Bản dịch in trong sách giáo khoa còn được bảo hộ, các bài trên Văn VN chỉ tóm lược; khi viết bài có thể tham khảo các mẫu mở bài và kết bài Cô bé bán diêm.
Nhiều truyện khác của ông đã có trên Văn VN: Nàng tiên cá, Bộ quần áo mới của hoàng đế, Nàng công chúa và hạt đậu, Vịt con xấu xí, Con chim họa mi. Đọc liền vài truyện sẽ thấy điều làm nên giọng An-đéc-xen: một người kể ấm áp, hóm hỉnh, nhưng không ngại để nhân vật của mình chịu thiệt thòi, như chính tuổi thơ nghèo khó của cậu bé con người thợ giày ở Ô-đen-xê.