Lý luận là hệ thống những hiểu biết, quan điểm được khái quát từ kinh nghiệm thực tế, dùng để giải thích sự việc và định hướng việc làm. Ngoài nghĩa sách vở ấy, trong lời nói hằng ngày lý luận còn là động từ: nói lý, đưa lẽ ra để cãi, thường có ý chê. Hai cách viết lý luận và lí luận đều dùng được.
| Nghĩa ngắn | Hiểu biết được khái quát thành hệ thống; (khẩu ngữ) nói lý để cãi |
| Chữ Hán | 理論: lý (thớ, lẽ) + luận (bàn cho rõ phải trái) |
| Loại từ | Danh từ; động từ trong khẩu ngữ |
| Đối ứng | Thực tiễn, thực hành |

Lý luận: thớ ngọc và lời bàn
Chữ lý (理) mang bộ ngọc. Thiều Chửu giảng nghĩa đầu tiên của nó là sửa ngọc, làm ngọc. Người thợ giỏi phải nhìn ra thớ của viên đá, theo thớ mà mài thì ngọc mới sáng. Từ cái thớ ấy, chữ lý mở sang nghĩa trật tự có trước có sau, rồi thành cái lẽ bên trong của sự vật. Tiếng Việt giữ nghĩa này trong đạo lý, chân lý, hợp lý, vật lý.
Chữ luận (論) mang bộ ngôn, tức lời nói. Nghĩa của nó là bàn bạc, xem xét một việc rồi nói cho rõ phải trái, như trong bàn luận, dư luận, nghị luận, kết luận.
Đặt hai chữ cạnh nhau sẽ ra một hình ảnh dễ nhớ: lý luận là lấy lời mà bàn cho ra cái thớ, cái lẽ của sự việc. Người làm lý luận không dừng ở chỗ “thấy thế”, họ muốn trả lời “vì sao lại thế” và “nhiều việc giống nhau thì có quy luật gì chung”.
Lý luận trên giảng đường và lý luận trong bữa cơm
Theo từ điển của Viện Ngôn ngữ học, danh từ lý luận có hai nét nghĩa, còn động từ thì thuộc khẩu ngữ.
- Hệ thống tư tưởng khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, quay lại soi đường cho thực tiễn. Câu quen thuộc nhất là lý luận đi đôi với thực tiễn.
- Kiến thức được khái quát và hệ thống hóa trong một lĩnh vực, nói chung chung: lý luận văn học, lý luận quân sự, lý luận dạy học.
- (Khẩu ngữ) nói lý, giải thích bằng lý lẽ, thường hàm ý chê: chỉ giỏi lý luận, đừng có lý luận với mẹ nữa, đi rửa bát đi.
Nét thứ ba là thứ học trò gặp nhiều nhất mà sách ít nhắc. Cùng một chữ, trên giảng đường nó là thứ cần học kỹ, còn trong bữa cơm nó lại là lời trách đứa con hay cãi. Đứng một mình trong câu nói thường ngày, “lý luận” dễ nghe như lời phàn nàn; đi kèm tên một ngành (“lý luận văn học”) thì lại trang trọng. Ngành học ấy được giải thích riêng ở bài đối tượng của ngành lí luận văn học.
Về chính tả, nhiều sách Ngữ văn viết lí luận với i ngắn, còn báo chí và không ít giáo trình viết lý luận với y dài. Cả hai đều được chấp nhận; chỉ cần dùng thống nhất trong một bài.
Lý luận, lý thuyết, lý lẽ, lý sự đặt cạnh nhau
| Từ | Trọng tâm | Câu ví dụ |
|---|---|---|
| Lý luận | Hệ thống quan điểm rút ra từ thực tiễn, có tính khái quát cao | Lý luận phải được thực tiễn kiểm nghiệm |
| Lý thuyết | Phần kiến thức nền của một môn, đối lập với thực hành | Thi lý thuyết trước, thi thực hành sau |
| Lý lẽ | Từng lời giải thích đưa ra để bảo vệ một ý kiến | Lý lẽ của bạn ấy rất chặt |
| Lý sự | Lý lẽ đưa ra chỉ cốt để cãi, nghĩa chê | Tính hay lý sự, ai nói gì cũng cãi |
| Lập luận | Cách sắp xếp lý lẽ, dẫn chứng để đi tới kết luận | Bài văn lập luận chặt chẽ |
Lý luận và lý thuyết là cặp hay lẫn nhất. Một mẹo nhỏ: lý thuyết thường gắn với môn học cụ thể và đứng đối diện thực hành; lý luận rộng hơn, hay đi với các ngành khoa học xã hội và đứng đối diện thực tiễn. Bài chữ lý thuyết và câu lý thuyết suông bàn kỹ vế bên kia. Còn khi viết văn nghị luận, thứ thầy cô chấm là từng lí lẽ được nêu ra để bảo vệ ý kiến, không phải “lý luận” theo nghĩa hệ thống học thuật.
Ở nghĩa khẩu ngữ, lý luận đồng nghĩa với lý sự, gần với cãi lý, cãi cố. Nghĩa sách vở thì không có từ trái nghĩa thật sự; thứ đứng ở đầu kia là thực tiễn, thực hành, kinh nghiệm.
Khi nào lý luận thành lý sự cùn?
Lý luận có giá trị khi nó được rút ra từ việc thật và quay lại giúp làm việc thật tốt hơn. Người nông dân nhiều năm nhìn trời đoán mưa, khi gom kinh nghiệm ấy thành nguyên tắc dạy được cho người khác thì đã chạm tới lý luận. Mối quan hệ hai chiều này được trình bày ở bài khái niệm thực tiễn trong triết học.
Ngược lại, lý luận tách khỏi việc thật thì thành suông. Nếu gặp đề nghị luận kiểu “Bàn về hiện tượng nói hay mà làm dở” hay “Học đi đôi với hành”, có thể triển khai ba ý:
- Giải thích: lý luận là hiểu biết đã được khái quát; nó cần, vì nhờ nó người ta không phải mò mẫm lại từ đầu.
- Mặt trái: người chỉ giỏi lý luận nói rất trơn nhưng không làm, hoặc dùng lý lẽ để né việc; đó là lúc lý luận biến thành lý sự.
- Bài học: học lý luận phải kèm thử nghiệm, thực hành; mỗi khi đúc kết được điều gì từ việc mình làm, ta đang tự viết lý luận nhỏ cho bản thân.
Sinh viên làm khóa luận sẽ gặp chữ này ở một chỗ khác: chương tổng hợp các khái niệm và nghiên cứu đi trước, gọi là phần cơ sở lý luận của khóa luận. Ở đó, lý luận là cái nền để người viết đứng lên mà phân tích số liệu của mình.
Nghe mẹ bảo “con lý luận vừa thôi” thì đừng vội cãi rằng lý luận là thứ đáng quý. Lúc ấy mẹ đang dùng nét nghĩa thứ ba.
Lý luận trong lớp học, trong luận văn và trong lúc cãi nhau
Lí luận hay lý luận mới đúng?
Cả hai đều đúng, từ điển ghi cả hai dạng. Sách Ngữ văn hay dùng i ngắn (lí luận), nhiều báo và giáo trình dùng y dài (lý luận). Nên chọn một cách và giữ nguyên trong cả bài viết.
Lý luận tiếng Anh là gì?
Nghĩa danh từ thường dịch là theory (lý luận văn học: literary theory). Nghĩa khẩu ngữ “nói lý để cãi” gần với to argue hoặc reasoning, tùy câu.
Nói ai đó “chỉ giỏi lý luận” là khen hay chê?
Là chê. Câu này ý nói người đó nói thì hay, giải thích thì nhiều, nhưng làm không được bao nhiêu hoặc dùng lời để né việc.
Lý luận và thực tiễn quan hệ thế nào?
Lý luận được khái quát từ thực tiễn, rồi quay lại hướng dẫn thực tiễn; thực tiễn lại là nơi kiểm tra lý luận đúng hay sai. Thiếu một bên thì bên kia dễ thành mò mẫm hoặc thành suông.