Thi pháp là những phương pháp, quy tắc làm thơ, và theo nghĩa rộng là toàn bộ cách thức tổ chức nghệ thuật của một tác phẩm văn học: thể loại, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu, cách xây dựng không gian, thời gian, con người. Môn nghiên cứu các nguyên tắc ấy gọi là thi pháp học. Đọc theo hướng thi pháp là hỏi tác phẩm “được làm ra như thế nào” chứ không chỉ “nói về điều gì”.
| Nghĩa hẹp | Phương pháp, quy tắc làm thơ nói chung (luật, vần, đối, nhịp) |
| Nghĩa rộng | Hệ thống phương thức, phương tiện nghệ thuật của tác phẩm, tác giả, thể loại hay một thời kỳ |
| Gốc từ | Thi là thơ, pháp là phép; tương ứng với chữ poetics của phương Tây |
| Thuộc | Lí luận văn học |
| Dấu hiệu nhận biết | Bàn về hình thức mang nghĩa: thể thơ, điểm nhìn, không gian, thời gian, giọng điệu |

Thi pháp: luật thơ hay cả nghệ thuật?
Lúc đầu, chữ này chỉ đúng như mặt chữ. Thi là thơ, pháp là phép; thi pháp là phép làm thơ. Các từ điển tiếng Việt giảng ngắn gọn là “phương pháp, quy tắc làm thơ nói chung”, và cho ví dụ kiểu “thi pháp ca dao”. Theo nghĩa này, nói đến thi pháp thơ Đường là nói đến niêm, luật, vần, đối, số câu, số chữ.
Ở phương Tây, từ tương ứng là poetics, gốc Hy Lạp, gắn với chữ chỉ việc làm thơ, sáng tạo. Cuốn sách nổi tiếng của Aristotle mang tên này bàn về bi kịch và sử thi, tức là bàn cả văn chương chứ không riêng thơ. Từ đó, nghĩa của thi pháp rộng dần: nó chỉ cách tổ chức nghệ thuật của mọi tác phẩm, kể cả truyện và kịch.
Cần tách hai chữ hay đi cùng. Thi pháp là đối tượng, tức các nguyên tắc nghệ thuật có trong tác phẩm. Thi pháp học là ngành nghiên cứu những nguyên tắc ấy. Ở Việt Nam, hướng nghiên cứu thi pháp học phát triển mạnh từ khoảng những năm 1980, gắn với các công trình của Trần Đình Sử như Thi pháp thơ Tố Hữu và Dẫn luận thi pháp học. Thi pháp học là một nhánh của lí luận văn học, phần khái quát hơn có ở bài đối tượng của lí luận văn học.
Điểm cốt lõi của cách đọc thi pháp: hình thức không phải cái vỏ. Một bài thơ chọn thể thất ngôn bát cú, chọn đối, chọn nhịp 4/3, chọn ngôi “ta” chứ không phải “tôi”, mỗi lựa chọn ấy đều mang nghĩa. Bài hình thức của tác phẩm văn học giải thích thêm vì sao hình thức và nội dung không tách rời.
Những phạm trù làm nên thi pháp một tác phẩm
Giáo trình thi pháp học ở nước ta thường dùng một bộ phạm trù để phân tích. Bảng dưới gom những phạm trù hay gặp nhất, kèm câu hỏi nên đặt ra khi đọc.
| Phạm trù | Câu hỏi đặt cho văn bản | Ví dụ gợi ý |
|---|---|---|
| Quan niệm nghệ thuật về con người | Tác phẩm nhìn con người là gì: con người đạo đức, con người cá nhân, con người số phận? | Thơ trung đại đề cao con người bổn phận; Thơ mới đề cao cái tôi cá nhân |
| Không gian nghệ thuật | Nhân vật sống trong không gian nào, rộng hay hẹp, mở hay khép? | Không gian lầu Ngưng Bích khép kín, bốn bề bát ngát mà không lối ra |
| Thời gian nghệ thuật | Thời gian trôi xuôi, quay ngược hay đứng lại? | Chiều tà, hoàng hôn trong thơ cổ; hồi ức đan cài trong truyện hiện đại |
| Thể loại, kết cấu | Tác phẩm theo thể nào, bố cục ra sao, có phá luật không? | Đề, thực, luận, kết của thơ thất ngôn bát cú |
| Trần thuật, điểm nhìn | Ai kể, kể từ vị trí nào? | Ngôi thứ nhất trong hồi kí, ngôi thứ ba toàn tri trong tiểu thuyết |
| Ngôn ngữ, giọng điệu | Chữ Hán hay chữ Nôm, trang trọng hay khẩu ngữ, giọng trang nghiêm hay giễu cợt? | Giọng trào phúng của Tú Xương khác giọng trang nghiêm của thơ thù tạc |
Không cần dùng hết các phạm trù cho mọi bài. Thường chỉ một hai phạm trù nổi bật đã đủ mở ra cái hay riêng của văn bản.
Khi nào đề văn đang hỏi về thi pháp?
- Đề nhắc tới “đặc điểm nghệ thuật”, “tính quy phạm”, “đặc trưng thể loại”. Đó là câu hỏi về thi pháp, dù chữ “thi pháp” không xuất hiện.
- Đề so sánh hai thời kỳ. “Thơ trung đại khác Thơ mới ở cái nhìn con người” là bài toán thi pháp thời đại.
- Đề yêu cầu phân tích không gian, thời gian, điểm nhìn, giọng điệu. Đây là những phạm trù trong bảng trên.
- Bài viết bàn về cái mới của một tập thơ. Nhà phê bình hay nói “đổi mới thi pháp” khi nhà thơ thay đổi cách tổ chức câu chữ, hình ảnh. Bài bình tập thơ Thương lượng với thời gian của Hữu Thỉnh là một ví dụ đọc tập thơ theo hướng này.
Ngược lại, câu hỏi về tiểu sử tác giả, hoàn cảnh sáng tác hay “ý nghĩa giáo dục” của tác phẩm thì chưa phải câu hỏi thi pháp, dù chúng có thể giúp ta hiểu thi pháp rõ hơn.
Thử đọc Qua Đèo Ngang theo hướng thi pháp
Bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan là ví dụ gọn cho thi pháp văn học trung đại.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
- Thể loại và quy phạm: bài viết theo thất ngôn bát cú Đường luật, tám câu bảy chữ, hai cặp câu giữa đối nhau chỉnh: “Lom khom” đối “Lác đác”, “dưới núi” đối “bên sông”, “Nhớ nước” đối “Thương nhà”. Phần luật thơ được tóm trong bài cách xác định thể thơ.
- Không gian, thời gian: không gian rộng (trời, non, nước), thời gian chiều tà. Đó là khung quen của thơ cổ để nói nỗi buồn xa xứ.
- Con người và giọng điệu: con người nhỏ bé, thưa thớt trước thiên nhiên; cái tôi trữ tình tự xưng “ta” ở câu kết, kín đáo, trang nghiêm, không than khóc ồn ào.
- Ngôn ngữ: chơi chữ đồng âm “quốc quốc” (tiếng chim cuốc, cũng là nước), “gia gia” (tiếng chim đa đa, cũng là nhà), một nét quen của thơ Nôm.
Đặt cạnh một bài Thơ mới, ta thấy thi pháp đổi hẳn: câu thơ dài ngắn tự do hơn, cái “tôi” xưng thẳng, cảm xúc bộc lộ trực tiếp. Muốn luyện thêm, có thể đối chiếu với phần soạn văn bản Qua Đèo Ngang theo câu hỏi SGK.
Bốn câu luyện đọc theo hướng thi pháp
Câu 1: “Thi pháp” và “thi pháp học” khác nhau thế nào?
Đáp án: Thi pháp là các nguyên tắc, phương thức nghệ thuật có sẵn trong tác phẩm (thể thơ, kết cấu, giọng điệu…). Thi pháp học là ngành khoa học nghiên cứu những nguyên tắc ấy. Một bên là đối tượng, một bên là môn nghiên cứu đối tượng.
Câu 2: Câu hỏi “Hãy nêu hoàn cảnh ra đời của bài thơ” có phải câu hỏi thi pháp không?
Đáp án: Không. Hoàn cảnh ra đời thuộc về tiểu sử, lịch sử tác phẩm. Câu hỏi thi pháp phải hướng vào cách tác phẩm được tổ chức, ví dụ “Phân tích không gian nghệ thuật trong bài thơ”.
Câu 3: Chỉ ra một đặc điểm thi pháp trung đại trong hai câu “Lom khom dưới núi, tiều vài chú / Lác đác bên sông, chợ mấy nhà”.
Đáp án: Tính quy phạm của luật Đường, thể hiện ở phép đối chỉnh từng vế: từ láy đối từ láy (lom khom – lác đác), vị trí đối vị trí (dưới núi – bên sông), người đối cảnh (tiều vài chú – chợ mấy nhà). Phép đối làm cảnh cân xứng mà vẫn thưa vắng.
Câu 4: Nêu hai khác biệt về thi pháp giữa thơ trung đại và Thơ mới.
Đáp án tham khảo: Thứ nhất, về con người: thơ trung đại thiên về con người bổn phận, cái tôi ẩn mình; Thơ mới đề cao cái tôi cá nhân, xưng “tôi” trực tiếp. Thứ hai, về hình thức: thơ trung đại theo luật chặt (niêm, luật, đối); Thơ mới phá bớt luật, câu thơ, khổ thơ tự do hơn và hình ảnh lấy từ đời sống nhiều hơn từ điển cố.
Thi pháp qua vài cách dùng quen
Thi pháp học là gì?
Là ngành nghiên cứu các phương thức, phương tiện nghệ thuật của văn học: thể loại, kết cấu, không gian, thời gian, ngôn ngữ, giọng điệu. Nó tìm hiểu cái hay của tác phẩm từ chính cách tác phẩm được làm ra, thay vì chỉ từ đời tác giả hay bối cảnh xã hội.
Thi pháp văn học trung đại có đặc điểm gì?
Đề văn thường nêu mấy nét: tính quy phạm (luật thơ, thể văn chặt chẽ), lối tả ước lệ tượng trưng, thói quen dùng điển cố, và cái tôi tác giả thường ẩn sau cái ta chung. Mỗi nét đều có ngoại lệ ở những tác giả lớn như Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương.
Thi pháp tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh dùng poetics. Từ này vừa chỉ lý thuyết về thơ, vừa chỉ lý thuyết về văn chương nói chung, nên khi đọc tài liệu nước ngoài cần xem ngữ cảnh để dịch là thi pháp hay thi pháp học.
Thi pháp khác bút pháp và phong cách ra sao?
Thi pháp là cả hệ thống nguyên tắc nghệ thuật. Bút pháp là một lối viết cụ thể nằm trong hệ thống đó. Phong cách là dấu ấn riêng của một tác giả khi vận dụng hệ thống ấy. Nói “thi pháp thơ Đường” là nói cả luật chơi; nói “bút pháp chấm phá” là nói một nước đi; còn nói “phong cách Nguyễn Khuyến” là nói người chơi ấy đi cờ ra sao.