Ngày 10/12/1954, ở Xtốc-khôm, giải Nô-ben Văn học được trao cho một người vắng mặt. Đầu năm ấy ông vừa sống sót qua hai vụ rơi máy bay liên tiếp ở châu Phi, sức khỏe chưa cho phép đi xa, nên bài phát biểu ngắn của ông do đại sứ Mỹ tại Thụy Điển đọc thay. Người đoạt giải là Hê-minh-uê. Hê-minh-uê (Ernest Miller Hemingway, 1899 – 1961) là nhà văn, nhà báo Mỹ, tác giả Ông già và biển cả, người đã thay đổi cách viết văn xuôi tiếng Anh thế kỷ XX bằng những câu văn ngắn, lạnh và lối kể mà chính ông ví với một tảng băng trôi.
Oak Park, cây súng săn và tờ Kansas City Star

| Tên đầy đủ | Ernest Miller Hemingway; SGK phiên âm Ơ-nít Hê-minh-uê |
| Năm sinh – năm mất | 21/7/1899 – 2/7/1961 |
| Quê | Oak Park, ngoại ô Chi-ca-gô, bang I-li-noi, Mỹ |
| Nghề nghiệp | Nhà văn, nhà báo, phóng viên chiến trường |
| Thể loại | Tiểu thuyết, truyện ngắn, ký, phóng sự |
| Tác phẩm tiêu biểu | Mặt trời vẫn mọc (1926), Giã từ vũ khí (1929), Chuông nguyện hồn ai (1940), Ông già và biển cả (1952), các truyện ngắn Những ngọn đồi như đàn voi trắng, Tuyết trên núi Ki-li-man-gia-rô |
| Giải thưởng | Pu-lít-dơ (1953), Nô-ben Văn học (1954) |
| Trong SGK | Ông lão bên chiếc cầu (Ngữ văn 9 Cánh diều); Trở về (Ngữ văn 12 Kết nối tri thức); Con người không thể bị đánh bại (Ngữ văn 12 Cánh diều, phần tự đánh giá) |
Hê-minh-uê là con thứ hai trong sáu người con của một bác sĩ và một người mẹ học thanh nhạc. Cha dạy ông câu cá, săn bắn, dựng lều ở những cánh rừng phía bắc bang Mi-si-gân, nơi cả nhà nghỉ hè; những khu rừng, con suối ấy về sau trở lại nhiều lần trong truyện ngắn của ông qua nhân vật Nick Adams. Ở trường trung học Oak Park, ông chơi bóng, đấm bốc và viết cho tờ báo của trường.
Học xong trung học năm 1917, ông không vào đại học mà đến làm phóng viên tập sự cho tờ Kansas City Star. Tờ báo có một bản quy tắc văn phong cho phóng viên, đòi hỏi câu ngắn, đoạn mở đầu ngắn, tiếng Anh mạnh mẽ, nói điều khẳng định thay vì phủ định. Ông chỉ làm ở đó khoảng sáu tháng, nhưng những quy tắc ấy theo ông suốt đời viết văn.
Mặt trận Ý năm 1918: người lái xe cứu thương mười tám tuổi
Muốn ra mặt trận Thế chiến thứ nhất nhưng bị loại vì mắt kém, Hê-minh-uê đăng ký làm tài xế xe cứu thương cho Hội Chữ thập đỏ Mỹ và sang mặt trận Ý giữa năm 1918. Ngày 8/7/1918, ở tiền tuyến gần Fossalta di Piave, ông bị trúng mảnh đạn cối, bị thương nặng ở hai chân, khi chưa tròn mười chín tuổi. Dù vậy, ông vẫn giúp đưa lính Ý bị thương về chỗ an toàn, và được nước Ý tặng huân chương bạc vì lòng dũng cảm.
Gần sáu tháng nằm điều trị ở Mi-lan, ông yêu một cô y tá người Mỹ lớn tuổi hơn mình. Mối tình không thành, nhưng thương tích, bệnh viện và cô y tá ấy mười năm sau thành chất liệu cho Giã từ vũ khí, cuốn tiểu thuyết đưa ông vào hàng nhà văn bán chạy.
Paris và “thế hệ mất mát”
Năm 1921, Hê-minh-uê cưới Hát-li Ri-sát-xơn và sang Paris làm phóng viên thường trú ở nước ngoài cho tờ Toronto Star. Những năm 1920 ở Paris là trường học thứ hai của ông. Ông chơi với nhà văn Ghe-tơ-rút Xtai-nơ, nhà thơ Ê-dra Pao, nhà văn Giêm-xơ Gioi-xơ; ông học cách cắt bỏ, cách để những câu đơn giản tự nói. Tập truyện Trong thời đại chúng ta (1925) và tiểu thuyết Mặt trời vẫn mọc (1926) ra đời từ đây.
Đầu Mặt trời vẫn mọc, ông đặt câu đề từ mượn lời Ghe-tơ-rút Xtai-nơ: các anh đều là một thế hệ mất mát. Cụm từ “thế hệ mất mát” từ đó dùng để gọi những người trẻ trưởng thành trong Thế chiến thứ nhất, sống sót nhưng mất phương hướng, và Hê-minh-uê thành người phát ngôn bất đắc dĩ của thế hệ ấy.
Nguyên lý tảng băng trôi
Trong cuốn sách về đấu bò Death in the Afternoon (Chết vào buổi chiều, 1932), ở chương 16, Hê-minh-uê viết rằng nếu nhà văn biết rõ điều mình viết, anh ta có thể lược đi những điều mình biết, và nếu anh ta viết đủ chân thật, người đọc vẫn cảm nhận được những điều ấy mạnh như khi được nói ra; ông giải thích tiếp:
“The dignity of movement of an ice-berg is due to only one-eighth of it being above water.”
(Vẻ uy nghi trong chuyển động của một tảng băng trôi là nhờ chỉ có một phần tám của nó nổi trên mặt nước.) Từ câu này, giới nghiên cứu gọi lối viết của ông là nguyên lý tảng băng trôi, hay “lý thuyết lược bỏ”. Phần nổi là lời thoại, hành động, chi tiết bề mặt; phần chìm là tâm trạng, quá khứ, ý nghĩa mà nhà văn cố ý không nói.
Truyện Những ngọn đồi như đàn voi trắng (1927) là ví dụ thường được nhắc: một đôi trai gái ngồi chờ tàu ở một ga xép Tây Ban Nha, uống bia, nói chuyện bâng quơ về những ngọn đồi, nhưng người đọc dần hiểu họ đang cãi nhau về một ca phẫu thuật mà cả truyện không một lần gọi tên. Học sinh Việt Nam gặp đúng kỹ thuật ấy trong Ông lão bên chiếc cầu: không một câu nào tả chiến tranh khủng khiếp ra sao, chỉ có một ông già ngồi bên đường lo cho mấy con vật bỏ lại.
Phóng viên của ba cuộc chiến
Hê-minh-uê viết về chiến tranh từ chỗ đứng của người có mặt. Bảng dưới đây tóm lại ba lần ông có mặt ở chiến trường:
| Cuộc chiến | Vai trò | Dấu vết trong tác phẩm |
|---|---|---|
| Thế chiến thứ nhất (1918) | Tài xế xe cứu thương Hội Chữ thập đỏ ở Ý, bị thương | Giã từ vũ khí (1929) |
| Nội chiến Tây Ban Nha (1937 – 1938) | Phóng viên cho hãng tin Bắc Mỹ (NANA), ủng hộ phe Cộng hòa | Ông lão bên chiếc cầu (1938), vở kịch Cột thứ năm, Chuông nguyện hồn ai (1940) |
| Thế chiến thứ hai (1944) | Phóng viên tạp chí Collier’s, theo xuồng đổ bộ đến gần bãi Omaha ngày 6/6/1944 (không được lên bờ), có mặt khi Paris được giải phóng | Qua sông vào rừng (1950) |
Ông lão bên chiếc cầu ra đời đúng từ công việc phóng viên ấy. Dịp lễ Phục sinh tháng 4/1938, ở cây cầu gần Am-pốt-ta trên sông Ê-brô, ông gặp những người tị nạn chạy trước mũi tiến quân của phe phát xít và viết lại cuộc gặp gần như một bản tin gửi về. Bài in trên tạp chí Ken số ra ngày 19/5/1938, cùng năm được đưa vào tập Cột thứ năm và bốn mươi chín truyện đầu tiên.
Ông già và biển cả, Pu-lít-dơ 1953 và Nô-ben 1954
Từ cuối thập niên 1930, Hê-minh-uê sống phần lớn thời gian ở Cu-ba, trong ngôi nhà Finca Vigía ở ngoại ô La Ha-ba-na, và mê câu cá ngoài biển khơi. Sau một cuốn tiểu thuyết bị chê (Qua sông vào rừng, 1950), ông viết Ông già và biển cả: ông lão Xan-ti-a-gô tám mươi tư ngày không câu được cá, ra khơi một mình, vật lộn ba ngày với một con cá kiếm khổng lồ, rồi đàn cá mập rỉa con cá chỉ còn bộ xương trên đường về.
Truyện được in trọn trong số tạp chí Life ra ngày 1/9/1952, một tuần sau mới in thành sách. Nhà văn Uy-li-am Phôn-nơ, người vẫn được xem là đối thủ của Hê-minh-uê, viết trên tạp chí Shenandoah rằng đây là cuốn hay nhất của ông: “Time may show it to be the best single piece of any of us” (thời gian có thể sẽ chứng minh đây là tác phẩm hay nhất của bất cứ ai trong chúng tôi). Tháng 5/1953, truyện mang về cho ông giải Pu-lít-dơ, giải Pu-lít-dơ duy nhất của đời ông. Năm 1954, Viện Hàn lâm Thụy Điển trao giải Nô-ben Văn học cho ông, nêu rõ vì sự tinh thông nghệ thuật tự sự, thể hiện gần nhất trong Ông già và biển cả, và vì ảnh hưởng của ông đối với văn phong đương đại.
Câu nói của ông lão Xan-ti-a-gô giữa biển, rằng con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị đánh bại, đã thành câu được trích dẫn nhiều nhất của Hê-minh-uê, và là tên đoạn trích trong sách Ngữ văn 12 Cánh diều.
Hai truyện của Hê-minh-uê trong sách giáo khoa
Học sinh gặp Hê-minh-uê hai lần chính thức: một truyện ngắn ở lớp 9 và đoạn cuối của Ông già và biển cả ở lớp 12. Ông lão bên chiếc cầu dùng bản dịch của Lê Huy Bắc (NXB Văn học, 2004), Trở về dùng bản dịch của Linh Nguyễn; các bản dịch còn được bảo hộ, nên các bài trên Văn VN chỉ trích ngắn và thuật lại.
| Văn bản | Bộ sách, vị trí | Bài học trên Văn VN |
|---|---|---|
| Ông lão bên chiếc cầu | Ngữ văn 9 Cánh diều, tập 1, Bài 4 (Truyện ngắn) | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm · Tóm tắt · Phân tích |
| Trở về (trích Ông già và biển cả) | Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập 2, Bài 9 (Văn học và cuộc đời) | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm · Tóm tắt · Phân tích |
Hai văn bản có chung một kiểu nhân vật: người già, cô độc, đứng trước một thất bại không cưỡng lại được. Ông lão bên cầu không đi nổi nữa và chỉ còn lo cho đàn dê, đôi chim bồ câu; ông lão Xan-ti-a-gô kéo về được bộ xương cá rồi ngủ thiếp đi, mơ về những con sư tử. Khi viết bài nghị luận về Ông già và biển cả, em có thể tham khảo các mẫu mở bài Ông già và biển cả.
Ket-chum, tháng 7/1961

Hai vụ tai nạn máy bay tháng 1/1954 để lại cho Hê-minh-uê những vết thương không bao giờ lành hẳn, trong đó có chấn thương sọ não. Những năm sau đó ông uống rượu nhiều, trầm cảm nặng. Mùa hè năm 1960 ông rời Cu-ba lần cuối, về sống ở Ket-chum, bang I-đa-hô, nơi ông đã mua nhà từ năm 1959; ông được điều trị trầm cảm ở bệnh viện Mây-ô, kể cả bằng sốc điện. Sáng sớm 2/7/1961, ông tự sát bằng súng săn trong ngôi nhà ở Ket-chum, ba tuần trước sinh nhật thứ sáu mươi hai.
Sau khi ông mất, gia đình và nhà xuất bản lần lượt in những bản thảo ông để lại, trong đó có hồi ký về những năm ở Paris A Moveable Feast (1964). Bà vợ góa Mary đã hiến giấy tờ của chồng cho Thư viện Tổng thống Giôn Ken-nơ-đi ở Bô-xtơn. Ngôi nhà ở Ki Oét (Florida), nơi ông sống những năm 1930, và Finca Vigía ở Cu-ba nay đều là bảo tàng; ở Oak Park, ngôi nhà nơi ông sinh ra cũng mở cửa cho khách tham quan. Còn lối viết lược bỏ của ông thì đi vào sách giáo khoa nhiều nước như một bài học về sức mạnh của những điều không nói ra.