“Hắn vừa đi vừa chửi.” Câu mở đầu Chí Phèo chỉ có năm chữ, giọng tỉnh khô, không một lời bình. Vậy mà đọc hết truyện, người ta nhận ra người kể ấy hiểu Chí Phèo hơn cả làng Vũ Đại cộng lại. Lạnh ở bề mặt, đau ở bên dưới: đó là chỗ bắt đầu để hiểu phong cách sáng tác của Nam Cao. Nam Cao (1915 – 1951) là nhà văn hiện thực viết về hai lớp người nghèo nhất của xã hội cũ, người nông dân và người trí thức, với một ngòi bút đặc biệt sắc ở chỗ soi vào tâm lý. Bài này đi qua các nét chính của lối viết ấy, mỗi nét đều kèm dẫn chứng từ truyện của ông.

Từ “ánh trăng lừa dối” đến “tiếng đau khổ”: quan niệm viết thành truyện
Nhiều nhà văn trình bày quan niệm nghệ thuật trong tiểu luận. Nam Cao thì gửi nó vào chính truyện ngắn. Trong Trăng sáng (1942), nhân vật Điền là một anh giáo nghèo mê văn chương lãng mạn, thích ngắm trăng và mơ viết những truyện đẹp như mơ. Rồi một đêm, ngồi dưới trăng, Điền nghe tiếng vợ con kêu than vì túng thiếu, và nhận ra điều anh không thể lờ đi:
Chao ôi! Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than…
Câu này có nhiều dị bản; trên đây là bản trên Wikisource, còn nhiều sách và trang học tập trích ở dạng dài hơn, thêm vế “không nên là ánh trăng lừa dối”. Dù ở bản nào, ý vẫn rõ: văn chương phải nhìn thẳng vào cái khổ của con người chứ không tô hồng nó.
Một năm sau, trong Đời thừa (1943), Nam Cao để nhân vật Hộ, một nhà văn nghèo, tự vấn về nghề của mình:
Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có…
Cũng Hộ tự trách mình bằng một câu rất nặng: “Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi”. Hai truyện này cho thấy một điều quan trọng khi học Nam Cao: lối viết của ông không phải tự nhiên mà có, nó đi ra từ một quan niệm rất tỉnh táo về bổn phận của kẻ viết văn.

Ngòi bút đi vào bên trong con người
Nếu phải chọn một nét để nhận ra Nam Cao, nhiều người sẽ chọn khả năng phân tích tâm lý. Truyện của ông thường ít biến cố; cái phức tạp nằm ở những gì diễn ra trong đầu nhân vật.
Đoạn Chí Phèo tỉnh rượu sau đêm gặp Thị Nở là ví dụ hay được dẫn nhất. Lần đầu tiên sau bao năm, hắn nghe thấy tiếng chim hót, tiếng người đi chợ, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Rồi hắn nhớ lại thời trẻ từng mơ có một gia đình nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Từ chỗ đó, nhà văn để dòng ý nghĩ của Chí chảy liền một mạch, nửa là lời người kể, nửa là lời chính nhân vật: “hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao!”. Lối kể nửa trực tiếp như vậy khiến người đọc không đứng ngoài nhìn Chí Phèo nữa, mà sống trong cơn tỉnh ngộ của hắn.
Ở Lão Hạc, tâm lý được đẩy qua hai tầng. Một tầng là lão Hạc dằn vặt vì đã “lừa” cậu Vàng. Tầng kia là nhân vật “tôi”, ông giáo, người quan sát lão Hạc và liên tục nghĩ sai về lão: có lúc tưởng lão đã theo gót Binh Tư đi xin bả chó, để rồi hiểu ra lão ăn bả để tự tử. Chính những lần nghĩ sai ấy làm nên chiều sâu của truyện.
Chuyện vặt mà không vặt: miếng ăn, món nợ, con chó
Đề tài của Nam Cao nghe qua thì rất nhỏ. Một bà lão ăn một bữa no. Một ông già bán con chó. Một nhà văn nợ tiền gạo. Nhưng ông có biệt tài làm những chuyện “vặt” ấy mở ra những câu hỏi lớn về nhân phẩm.
Một bữa no (1943) là trường hợp dễ thấy nhất. Bà lão đói lả, đến nhà bà phó Thụ, nơi đứa cháu gái đang ở đợ, và ăn một bữa cho thật no, mặc những cái nguýt của chủ nhà. Đêm ấy bà đau bụng, rồi sinh bệnh, nửa tháng sau thì chết. Bà phó Thụ bảo đó là “chết no”, lại lấy cái chết ấy dạy con cái trong nhà. Câu chuyện chỉ xoay quanh mấy bát cơm, nhưng đọc xong mới thấy cái đói đã đẩy con người đến chỗ mất cả thể diện, còn kẻ no thì thản nhiên đến tàn nhẫn.
Với người trí thức, “chuyện vặt” là cơm áo. Hộ trong Đời thừa muốn viết một tác phẩm làm mờ hết các tác phẩm cùng ra một thời, rốt cuộc chỉ kịp cho ra những trang vội vàng, đổi lấy tiền đong gạo cho cả nhà. Thứ trong Sống mòn (viết xong năm 1944, in năm 1956) từng ôm nhiều hoài bão, rốt cuộc vẫn quanh quẩn với những toan tính nhỏ nhặt của một ông giáo trường tư. Nam Cao gọi đúng tên bi kịch ấy ngay trong tên tác phẩm: sống mòn, đời thừa.

Giọng kể lạnh mà lòng không lạnh
Đọc Nam Cao lần đầu, có người thấy ông khô, thậm chí tàn nhẫn. Ông tả cái xấu của Thị Nở không chút nương tay, kể cái chết vật vã của lão Hạc bằng những câu ngắn, trần trụi. Ông ít dùng tính từ cảm thán, hầu như không chen lời than thay nhân vật.
Nhưng giọng lạnh ấy là một lựa chọn. Nó giúp người viết giữ khoảng cách đủ xa để nhìn sự thật cho rõ, rồi thỉnh thoảng mới để cảm xúc bật ra, và khi bật ra thì rất mạnh. Ông giáo trong Lão Hạc có một đoạn suy nghĩ về vợ mình mà học sinh nào cũng nên đọc kỹ:
Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương…
Đoạn này gần như là chìa khóa đọc Nam Cao: ông viết thẳng cái xấu không phải để khinh người, mà để buộc người đọc phải cố hiểu họ. Kết truyện, khi biết sự thật về lão Hạc, ông giáo nghĩ: “Không! Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác”. Một câu có cả bi quan lẫn niềm tin, đúng chất giọng văn của ông.
Ngôn ngữ của Nam Cao cũng góp vào giọng ấy. Lời thoại đậm khẩu ngữ nông thôn, tiếng chửi, tiếng than, tiếng lè nhè say rượu được ghi gần như nguyên dạng; còn lời người kể thì gọn, chính xác, có lúc mang dáng triết lý. Hai thứ giọng ấy đan vào nhau trong cùng một trang.
Người nông dân và người trí thức nghèo: hai mảng, một câu hỏi
Trước 1945, sáng tác của Nam Cao chia khá rõ thành hai mảng đề tài. Nhìn cạnh nhau, có thể thấy chúng cùng xoáy vào một câu hỏi: hoàn cảnh sống có thể làm con người mất đi phần người của mình đến mức nào?
| Truyện về người nông dân | Truyện về người trí thức nghèo | |
|---|---|---|
| Tác phẩm tiêu biểu | Chí Phèo, Lão Hạc, Một bữa no | Trăng sáng, Đời thừa, Sống mòn |
| Cái đè nặng lên nhân vật | Cái đói, cường hào, định kiến của làng | Gánh nặng cơm áo, cuộc sống tù đọng |
| Bi kịch | Bị tha hóa, bị cự tuyệt quyền làm người (Chí Phèo) | Ước mơ lớn bị mài mòn, sống “thừa”, sống “mòn” |
| Điều nhà văn vẫn giữ lại | Lòng tự trọng của lão Hạc, khát khao lương thiện của Chí Phèo | Sự tự vấn, lòng tốt của Hộ với vợ con |
Hàng cuối của bảng là chỗ làm nên giá trị nhân đạo của Nam Cao. Ông thường dựng nhân vật ở bờ vực của sự tha hóa, nhưng gần như bao giờ cũng để lại một tia sáng: Chí Phèo trước khi chết đã kịp hỏi “Ai cho tao lương thiện?”, lão Hạc chọn cái chết để giữ mảnh vườn cho con.
Sau 1945: “Sống đã rồi hãy viết” và câu chuyện của Đôi mắt
Cách mạng tháng Tám đổi hướng đời Nam Cao. Ông đi theo kháng chiến, lên Việt Bắc làm báo, đi chiến dịch. Trong bút ký Đường vô Nam, ông viết một câu về sau thành phương châm của cả một lớp nhà văn: “Sống đã rồi hãy viết”. Nhật ký ở rừng (1948) ghi lại những ngày ông làm các công việc tưởng như “không nghệ thuật” ở chiến khu.
Tác phẩm đáng nhớ nhất giai đoạn này là Đôi mắt (1948). Truyện để nhân vật “tôi” về vùng tản cư thăm Hoàng, một văn sĩ quen sống sang ở Hà Nội. Hoàng mê Tam Quốc, đọc đi đọc lại không chán, nhưng nhìn người dân quanh mình thì chỉ thấy những cái “thối nát, ngu ngốc, gàn dở, rởm đời”. Người kể thì nghĩ khác, và nhận xét:
Vẫn giữ đôi mắt ấy để nhìn đời thì càng đi nhiều, càng quan sát lắm, người ta chỉ càng thêm chua chát và chán nản.
Từ Lão Hạc đến Đôi mắt, Nam Cao trở đi trở lại với cùng một ý: muốn viết về con người thì trước hết phải có cách nhìn đúng về con người. Phong cách của ông thay đổi ở đề tài, nhưng cái nhìn tỉnh táo và lòng thương người vẫn giữ nguyên.
Đọc Chí Phèo và Lão Hạc theo dấu phong cách
Trong chương trình hiện hành, Lão Hạc có ở Ngữ văn 8 Cánh diều và Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo; Chí Phèo ở Ngữ văn 11 Kết nối tri thức và Cánh diều. Khi phân tích, có thể bám vào bốn câu hỏi:
- Chỗ nào nhà văn để người kể nhường lời cho ý nghĩ của nhân vật (lời nửa trực tiếp)?
- Chi tiết đời thường nào (bát cháo hành, cậu Vàng, mảnh vườn) mang sức nặng của cả truyện?
- Giọng kể lạnh lùng ở đâu, và câu nào để cảm xúc bật ra?
- Nhân vật bị đẩy tới đâu, và nhà văn giữ lại cho họ điều gì?
Tài liệu trên Văn VN: soạn bài Chí Phèo, phân tích nhân vật Chí Phèo, soạn bài Lão Hạc (Cánh diều), phân tích nhân vật lão Hạc và tóm tắt Lão Hạc. Cuộc đời ông, từ làng Đại Hoàng đến những năm kháng chiến, có trong bài giới thiệu tác giả Nam Cao; danh mục truyện ngắn, tiểu thuyết xem ở những tác phẩm của Nam Cao. Muốn đặt ông cạnh một giọng văn rất khác cùng thời, hãy đọc phong cách sáng tác của Thạch Lam.
Để hiểu vì sao văn bản ra đời vào thời điểm ấy, em có thể tìm đọc hoàn cảnh ra đời của Lão Hạc.
Xem thêm: