Bâng quơ là vu vơ, không nhắm vào ai, cũng không nhằm một mục đích rõ ràng nào. Nói bâng quơ là nói cho có, buột ra rồi thôi; nhìn bâng quơ là đưa mắt ra xa mà chẳng để ý vật gì. Từ này hay đi với các động từ nói, hỏi, nhìn, nghĩ, cười.
| Nghĩa ngắn | Vu vơ, không hướng vào đối tượng hay mục đích cụ thể |
| Loại từ | Tính từ, thường đứng sau động từ: nói bâng quơ, nhìn bâng quơ |
| Đồng nghĩa | Vu vơ, vẩn vơ |
| Sắc thái | Nhẹ, hơi lơ đãng; khi nói về lời nói có thể ngầm ý “nói khéo” |

Bâng quơ, vu vơ hay bâng khuâng?
Ba từ này hay bị dùng lẫn vì nghe đều mơ mơ, nhẹ nhẹ. Thật ra mỗi từ đứng ở một chỗ khác nhau:
| Từ | Nói về | Ví dụ |
|---|---|---|
| Bâng quơ | Lời nói, ánh nhìn, ý nghĩ không nhằm vào ai, vào việc gì | Hỏi bâng quơ một câu cho đỡ ngượng |
| Vu vơ | Gần như bâng quơ, nhưng thêm nét không có căn cứ | Lo vu vơ, nghi ngờ vu vơ |
| Vẩn vơ | Ý nghĩ lan man, cứ quanh quẩn không đâu vào đâu | Ngồi nghĩ vẩn vơ cả buổi chiều |
| Bâng khuâng | Một cảm xúc: buồn nhớ man mác, khó gọi tên | Bâng khuâng khi ngày tựu trường đến |
Cách thử nhanh: bâng quơ và vu vơ trả lời câu hỏi “nói, nghĩ, nhìn thế nào“, còn bâng khuâng trả lời câu “lòng đang ra sao“. Có thể “bâng khuâng nhìn bâng quơ ra cửa sổ”, nhưng không thể đổi chỗ hai chữ cho nhau. Riêng chữ bâng khuâng và lối dùng nó trong thơ, xem bài nỗi buồn man mác của chữ bâng khuâng.
Trái nghĩa với bâng quơ là những chữ có đích nhắm rõ: chủ ý, cố ý, nói thẳng, đích danh.
Nói không nhằm vào ai, nhìn không vào đâu
Từ điển của Viện Ngôn ngữ học xếp bâng quơ vào loại tính từ và giảng bằng chính chữ vu vơ: lời, ý, mắt nhìn chẳng hướng thẳng về người nào, việc nào. Wiktionary tiếng Việt cũng hiểu như thế, chỉ diễn đạt ngắn hơn. Từ một nghĩa ấy, bâng quơ tỏa ra ba lối dùng.
Với lời nói, bâng quơ là nói không hướng tới ai: Cô ấy buông một câu bâng quơ về thời tiết rồi lặng im. Đây là lối dùng phổ biến nhất.
Với ánh nhìn, ý nghĩ, bâng quơ gần với lơ đãng: Cậu bé ngồi bên cửa sổ, mắt nhìn bâng quơ theo đám mây. Ở đây không có ẩn ý gì, chỉ là tâm trí đang trôi đi đâu đó.
Với một chuyện được kể ra, bâng quơ là không đâu vào đâu, không thiết thực: Hai bà cháu ngồi kể chuyện bâng quơ cho hết buổi trưa.
Câu nói bâng quơ mà có chủ ý
Thú vị là “nói bâng quơ” nhiều khi chẳng bâng quơ chút nào. Người ta khoác cho lời mình vẻ không nhằm vào ai để khỏi phải nói thẳng: muốn trách mà ngại, muốn hỏi mà sợ lộ. Câu “Dạo này có người đi chơi suốt, chẳng thèm nhắn tin” nghe như nói bâng quơ, nhưng người được nhắc tới hiểu ngay.
Trên mạng, những dòng trạng thái kiểu “Có những người đi qua đời nhau…” cũng hay được gọi là status bâng quơ. Người đăng không gọi tên ai, ai đọc cũng có thể tưởng là nói mình. Đó là lý do status bâng quơ hay đi cùng chuyện thả thính trên Facebook.
Lối nói này gần với nói bóng gió, nói xa nói gần. Khác ở chỗ bóng gió thì chắc chắn có ý, còn bâng quơ thì có khi có, có khi thật lòng chẳng nghĩ gì. Vì vậy, gặp một câu bâng quơ, đừng vội cho rằng người ta đang ám chỉ mình.
Bâng quơ trong lời ăn tiếng nói
Nói bâng quơ là gì?
Là nói vu vơ, không nhắm vào người nào, không có mục đích rõ. Tuy vậy, trong giao tiếp, nhiều câu “nói bâng quơ” thật ra là cách nhắc khéo một người mà không gọi tên.
Câu hỏi bâng quơ là câu hỏi như thế nào?
Là câu hỏi đặt ra cho có chuyện, người hỏi không thật sự cần câu trả lời. “Hôm nay trời đẹp nhỉ?” lúc hai người mới gặp là một câu hỏi bâng quơ quen thuộc.
Bâng quơ tiếng Anh là gì?
Tùy văn cảnh: nói bâng quơ có thể dịch là to say something offhand hoặc casually; nhìn bâng quơ là to gaze absently; câu trả lời bâng quơ là a vague answer.
Viết bâng quơ hay bân quơ mới đúng?
Viết đúng là bâng quơ, với vần “âng” như trong bâng khuâng. Viết “bân quơ” hay “bâng qươ” đều là lỗi gõ.