Soạn bài Cảnh ngày xuân (trích Truyện Kiều, Nguyễn Du) theo sách Ngữ văn 9 Cánh diều tập 1, Bài 2 – Truyện thơ Nôm. Bài soạn trả lời đủ phần Chuẩn bị, 3 câu hỏi trong khi đọc và 6 câu hỏi cuối bài (trang 34–37), kèm toàn văn đoạn trích để em đối chiếu khi làm bài.
Chuẩn bị đọc Cảnh ngày xuân (trang 34–35)
Phần Chuẩn bị yêu cầu em xem lại Kiến thức ngữ văn về truyện thơ Nôm, đọc trước đoạn trích và tìm hiểu thêm về Nguyễn Du, Truyện Kiều. Khi đọc, cần chú ý vị trí đoạn trích, chủ đề, nhân vật, nội dung – ý nghĩa và đặc sắc nghệ thuật (tự sự, miêu tả, ngôn từ).

Vài nét về tác giả Nguyễn Du
- Nguyễn Du (1765–1820), tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên, quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh ra ở Thăng Long trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan.
- Ông sống trong thời loạn lạc cuối Lê – Tây Sơn – đầu Nguyễn, từng trải qua nhiều năm lưu lạc, sau ra làm quan dưới triều Nguyễn, từng đi sứ Trung Quốc.
- Sáng tác gồm thơ chữ Hán (Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục) và thơ chữ Nôm, tiêu biểu là Truyện Kiều và Văn chiêu hồn. Tháng 11/2013, Đại hội đồng UNESCO thông qua nghị quyết kỉ niệm 250 năm năm sinh của ông; lễ kỉ niệm được tổ chức năm 2015.
Muốn tìm hiểu kĩ hơn, em đọc bài giới thiệu tác giả Nguyễn Du: cuộc đời và sự nghiệp.
Vị trí, chủ đề và nhân vật của đoạn trích
- Tác phẩm: Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) là truyện thơ Nôm gồm 3254 câu lục bát, được Nguyễn Du sáng tạo dựa trên cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc).
- Vị trí: đoạn trích gồm 18 câu (từ câu 39 đến câu 56), thuộc phần đầu tác phẩm (gặp gỡ và đính ước), nằm sau đoạn tả tài sắc chị em Thúy Kiều và trước đoạn Kiều gặp mộ Đạm Tiên, gặp Kim Trọng.
- Chủ đề: bức tranh thiên nhiên và lễ hội mùa xuân tươi đẹp, rộn ràng trong tiết Thanh minh, qua cuộc du xuân của chị em Thúy Kiều.
- Nhân vật: chị em Thúy Kiều trong buổi đi chơi xuân (Thúy Kiều, Thúy Vân; theo mạch truyện, đi cùng còn có em trai Vương Quan, người sẽ kể chuyện Đạm Tiên ở đoạn sau).
Văn bản Cảnh ngày xuân (trích Truyện Kiều)
Truyện Kiều thuộc phạm vi công cộng; đoạn trích dưới đây đối chiếu theo bản trên Wikisource và văn bản sách giáo khoa.
Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Thanh minh trong tiết tháng Ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử, giai nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.
Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều, câu 39–56)
Một số từ khó: thiều quang – ánh sáng đẹp, ấm áp của mùa xuân; tảo mộ – đi viếng, sửa sang phần mộ người thân; đạp thanh – giẫm lên cỏ xanh, chỉ việc đi chơi xuân ở vùng đồng nội; yến anh – chim én, chim oanh, ở đây ví dòng người đi hội; vàng vó – giấy vàng mã; tiểu khê – khe suối nhỏ.
Trả lời câu hỏi trong khi đọc (trang 35–36)
Câu 1: Chú ý việc sử dụng từ ngữ để miêu tả mùa xuân (trang 35)
Trả lời:
- Từ ngữ chỉ thời gian: “ngày xuân”, “thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” – mùa xuân chín mươi ngày đã qua hơn sáu mươi ngày, tức đã sang tháng thứ ba.
- Hình ảnh ẩn dụ “con én đưa thoi”: cánh én bay lượn như thoi dệt cửi, vừa tả cảnh thực vừa gợi thời gian trôi nhanh.
- Từ ngữ chỉ màu sắc: “xanh” của cỏ non, “trắng” của hoa lê; động từ “điểm” làm bức tranh có điểm nhấn, sinh động.
- Từ ngữ gợi không gian: “tận chân trời” – thảm cỏ trải rộng mênh mông.
⇒ Từ ngữ chọn lọc, giàu hình ảnh, vẽ nên một mùa xuân tinh khôi, khoáng đạt, tràn đầy sức sống.
Câu 2: Lễ hội mùa xuân được khắc họa qua những hình ảnh nào? (trang 36)
Trả lời:
- Hai hoạt động chính: “Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh”.
- Dòng người đi hội: “Gần xa nô nức yến anh”, “Dập dìu tài tử, giai nhân” – nam thanh nữ tú từ khắp nơi kéo về.
- Cảnh đông đúc: “Ngựa xe như nước, áo quần như nêm” – phép so sánh gợi dòng người, xe ngựa nối nhau không dứt, chen chúc chật ních.
- Nghi thức tảo mộ: “Ngổn ngang gò đống kéo lên”, “Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay” – người người lên các gò mộ, rắc vàng mã, đốt tiền giấy.
- Chị em Thúy Kiều cũng “sắm sửa bộ hành chơi xuân”, hòa vào không khí chung.
Câu 3: Cảnh vật buổi chiều được miêu tả có gì khác với cảnh buổi sáng? (trang 36)
Trả lời:
| Cảnh buổi sáng | Cảnh buổi chiều |
|---|---|
| Không gian mở rộng, khoáng đạt: cỏ non xanh tận chân trời, trời đầy cánh én. | Không gian thu hẹp: ngọn tiểu khê, dòng nước uốn quanh, dịp cầu nho nhỏ. |
| Âm thanh, màu sắc tươi vui; lễ hội đông đúc, náo nhiệt. | Vắng lặng, nhạt dần; bóng chiều “tà tà” ngả về tây. |
| Con người nô nức, háo hức. | Con người “thơ thẩn”, bước chân chậm, lòng bâng khuâng. |
Cảnh chiều vẫn thanh, vẫn dịu nhưng đã nhuốm tâm trạng: các từ láy “tà tà”, “thơ thẩn”, “thanh thanh”, “nao nao”, “nho nhỏ” vừa tả cảnh vừa gợi nỗi bâng khuâng, tiếc nuối khi cuộc vui tàn.
Trả lời câu hỏi cuối bài Cảnh ngày xuân (trang 37)
Câu 1: Đoạn trích kể lại việc gì? Xác định bố cục (trang 37)
Trả lời:
Đoạn trích kể lại cuộc du xuân của chị em Thúy Kiều trong tiết Thanh minh tháng Ba: từ khung cảnh mùa xuân, đến lễ tảo mộ, hội đạp thanh và cảnh chị em ra về lúc chiều tà. Bố cục theo trình tự thời gian của cuộc du xuân:
- Phần 1 (4 câu đầu): khung cảnh mùa xuân.
- Phần 2 (8 câu tiếp): khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh.
- Phần 3 (6 câu cuối): cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về.
Câu 2: Quang cảnh mùa xuân qua bốn dòng thơ đầu (trang 37)
Qua bốn dòng thơ đầu, em hình dung quang cảnh mùa xuân được Nguyễn Du miêu tả như thế nào?
Trả lời:
Bốn câu thơ mở ra một mùa xuân vừa đẹp vừa gấp gáp. Hai câu đầu nói thời gian: cánh én “đưa thoi” trên nền trời, “thiều quang” – nắng xuân ấm áp – đã đi quá hai phần ba mùa. Câu thơ tả cảnh mà đã phảng phất một chút nuối tiếc vì xuân qua nhanh.
Hai câu sau là một bức họa. Nền là thảm “cỏ non” xanh trải tới “tận chân trời”, gợi không gian khoáng đạt và sức sống mơn mởn. Trên nền xanh ấy, “cành lê trắng điểm một vài bông hoa” – chỉ vài bông thôi nhưng làm bức tranh sáng hẳn lên. Màu xanh và màu trắng hài hòa, trong trẻo; động từ “điểm” khiến cảnh vật có hồn, sinh động chứ không tĩnh. Em hình dung một buổi sáng tháng Ba tinh khôi, nhẹ nhàng, tràn đầy sức sống.
Câu 3: Lễ hội tiết Thanh minh trong tám dòng thơ tiếp theo (trang 37)
Lễ hội trong tiết Thanh minh được miêu tả qua những hình ảnh nào trong tám dòng thơ tiếp theo?
Trả lời:
- Lễ và hội: “Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh” – câu thơ tiểu đối giới thiệu hai hoạt động chính.
- Người đi hội: “yến anh”, “tài tử, giai nhân” – nam thanh nữ tú nô nức như chim én, chim oanh bay về.
- Không khí: các từ láy “nô nức”, “dập dìu”, các động từ “sắm sửa”, “kéo lên”, “rắc”, “bay” gợi sự tấp nập, rộn ràng.
- Quy mô: hình ảnh so sánh “Ngựa xe như nước, áo quần như nêm” – đông vui, chật ních.
- Phong tục: “Ngổn ngang gò đống kéo lên, / Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay” – nghi thức tảo mộ, rắc vàng mã, đốt tiền giấy tưởng nhớ người đã khuất.
Qua đó, Nguyễn Du vẽ nên một bức tranh lễ hội vừa náo nhiệt vừa đậm nét văn hóa truyền thống, nơi niềm vui của người sống hòa với lòng thành kính với người đã mất.
Câu 4: So sánh cảnh vật ở bốn dòng đầu và sáu dòng cuối (trang 37)
Hãy so sánh bức tranh thiên nhiên ở bốn dòng thơ đầu và sáu dòng thơ cuối, phân tích để thấy được mối quan hệ giữa cảnh vật và tâm trạng của chị em Thúy Kiều trong đoạn trích.
Trả lời:
| Tiêu chí | Bốn dòng đầu | Sáu dòng cuối |
|---|---|---|
| Thời gian | Buổi sáng mùa xuân | Chiều tà, “bóng ngả về tây” |
| Không gian | Rộng lớn: trời cao, cỏ non “tận chân trời” | Nhỏ hẹp: ngọn tiểu khê, dòng nước, dịp cầu |
| Màu sắc, đường nét | Xanh, trắng tươi sáng, rõ nét | Nhạt, mờ, “thanh thanh”, “nao nao” |
| Nhịp điệu | Tươi vui, khoáng đạt | Chậm, lặng, man mác |
Mối quan hệ giữa cảnh và tâm trạng: cảnh thay đổi theo bước chân và lòng người. Buổi sáng, lòng chị em háo hức nên cảnh tươi, rộng. Buổi chiều, hội tan, lòng người “thơ thẩn” nên cảnh cũng “tà tà”, “nao nao”, thu nhỏ lại. Các từ láy vừa tả dáng nắng, dáng nước, vừa gợi tâm trạng bâng khuâng, tiếc nuối của những thiếu nữ khi niềm vui qua đi. Đặc biệt, chữ “nao nao” gợi dòng nước chảy nhẹ mà cũng gợi lòng người xao xuyến, như một dự cảm mơ hồ về điều sắp đến (ngay sau đó Kiều gặp nấm mồ Đạm Tiên). Đây là bút pháp tả cảnh ngụ tình quen thuộc của Nguyễn Du: cảnh không đứng riêng mà luôn mang theo tâm trạng con người.
Câu 5: Thành công về nghệ thuật miêu tả thiên nhiên và lễ hội (trang 37)
Khái quát những thành công về nghệ thuật miêu tả thiên nhiên và lễ hội ngày xuân của Nguyễn Du trong đoạn trích (sử dụng ngôn từ, xây dựng hình ảnh, biện pháp nghệ thuật chủ yếu, thể thơ lục bát…).
Trả lời:
- Ngôn từ: chọn lọc, giàu tính tạo hình và biểu cảm; nhiều từ láy (“nô nức”, “dập dìu”, “ngổn ngang”, “tà tà”, “thơ thẩn”, “thanh thanh”, “nao nao”, “nho nhỏ”) vừa tả cảnh vừa gợi tình; động từ “điểm” đặc sắc.
- Hình ảnh: tiêu biểu, gợi cảm – cánh én, thảm cỏ non, cành lê trắng, dòng người đi hội, dòng nước, dịp cầu; phối hợp màu sắc hài hòa.
- Biện pháp nghệ thuật: ẩn dụ (“con én đưa thoi”, “yến anh”), so sánh (“Ngựa xe như nước, áo quần như nêm”), tiểu đối (“Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh”), bút pháp chấm phá và tả cảnh ngụ tình.
- Trình tự miêu tả: theo thời gian của cuộc du xuân (sáng – trưa – chiều) và theo bước chân nhân vật, khiến cảnh vật chuyển động tự nhiên.
- Thể thơ lục bát: nhịp nhàng, uyển chuyển, giàu nhạc điệu dân tộc, phù hợp với việc tả cảnh xuân và diễn tả tâm trạng nhẹ nhàng.
Câu 6: Em thích nhất hình ảnh nào? Vì sao? (trang 37)
Trả lời (gợi ý, em có thể chọn hình ảnh khác và tự lí giải):
Em thích nhất hình ảnh “Cỏ non xanh tận chân trời, / Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”. Chỉ hai câu thơ mà Nguyễn Du vẽ được cả một không gian: thảm cỏ non mượt mà trải dài tít tắp, trên đó nổi bật vài bông lê trắng tinh khôi. Màu xanh làm nền, màu trắng làm điểm nhấn, tất cả trong trẻo, hài hòa như một bức tranh thủy mặc. Chữ “điểm” khiến em có cảm giác như nhà thơ đang cầm bút chấm nhẹ những bông hoa lên bức tranh, làm cảnh vật bỗng có hồn. Hình ảnh ấy cho em thấy vẻ đẹp nhẹ nhàng, thanh khiết của mùa xuân và tài năng dùng chữ bậc thầy của Nguyễn Du.
Kết luận
Khi soạn bài Cảnh ngày xuân, em cần nắm bố cục ba phần theo trình tự cuộc du xuân, những hình ảnh tiêu biểu của thiên nhiên và lễ hội tiết Thanh minh, và đặc biệt là mối quan hệ giữa cảnh với tâm trạng ở sáu câu cuối. Đó cũng là những ý chính khi làm bài viết phân tích một đoạn trích tác phẩm văn học ở cùng Bài 2.
Xem thêm:
- Cảnh ngày xuân: tác giả, tác phẩm, bố cục
- Phân tích Cảnh ngày xuân (tuyển chọn bài văn mẫu)
- Soạn bài Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga – Ngữ văn 9 Cánh diều
- Kiều ở lầu Ngưng Bích: tác giả, tác phẩm
- Đoạn trích Chị em Thúy Kiều (trích Truyện Kiều)
- Mở bài Cảnh ngày xuân hay nhất – 14 mẫu trực tiếp, gián tiếp, nâng cao
- Kết bài Cảnh ngày xuân hay nhất – 12 mẫu ngắn gọn, liên hệ, theo đề