Mở bài Cảnh ngày xuân là đoạn dẫn vào bài nghị luận về đoạn trích Truyện Kiều của Nguyễn Du, văn bản đọc mở đầu Bài 2 sách Ngữ văn 9 Cánh diều. Mở bài cần nêu tác giả, vị trí mười tám câu thơ và vấn đề đề bài hỏi, thường là cảnh sắc mùa xuân, khung cảnh lễ hội tiết Thanh minh hay tâm trạng chị em Thúy Kiều lúc ra về. Dưới đây là 14 mẫu mở bài viết sẵn, gồm trực tiếp, gián tiếp, theo đề và nâng cao.

Cách viết mở bài Cảnh ngày xuân
- Giới thiệu Nguyễn Du bằng một nét liên quan trực tiếp tới đoạn trích: bậc thầy tả cảnh, người vẽ bằng ngôn từ.
- Nêu vị trí: đoạn trích có 18 dòng thơ (câu 39 tới câu 56), nằm ở phần Gặp gỡ và đính ước, ngay sau đoạn tả tài sắc hai chị em Thúy Kiều.
- Câu chốt khớp đề: đề 4 câu đầu nói về bức tranh thiên nhiên; đề 8 câu giữa nói về lễ tảo mộ, hội đạp thanh; đề 6 câu cuối nói về cảnh chiều và tâm trạng ra về.
- Trích đúng bản SGK: “Chị em thơ thẩn dan tay ra về”, “Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang” (nhiều trang chép lệch thành “đan tay”, “nhịp cầu”).
- Không kể lại toàn bộ Truyện Kiều; nếu cần, chỉ một câu nhắc rằng sau cuộc du xuân này Kiều gặp mộ Đạm Tiên và Kim Trọng.
Mở bài trực tiếp Cảnh ngày xuân
Mẫu 1 – ngắn gọn
Cảnh ngày xuân là đoạn trích trong sáng, tươi tắn hiếm hoi của Truyện Kiều, kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du. Bằng ngòi bút tả cảnh tài hoa, nhà thơ đã vẽ nên một mùa xuân đất trời trong trẻo, khung cảnh lễ hội tiết Thanh minh rộn ràng và cảnh chị em Thúy Kiều bâng khuâng trở về lúc chiều tà.
Mẫu 2 – giới thiệu đầy đủ tác giả, tác phẩm, đoạn trích
Nguyễn Du (1765–1820), tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, là nhà thơ lớn bậc nhất của văn chương trung đại nước ta. Tác phẩm lớn nhất của ông là Truyện Kiều, tên chữ Đoạn trường tân thanh, gồm 3.254 câu lục bát viết bằng chữ Nôm, được sáng tạo trên cơ sở cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Đoạn trích Cảnh ngày xuân gồm mười tám câu, từ câu 39 tới câu 56, thuộc phần Gặp gỡ và đính ước, nối tiếp đoạn miêu tả chân dung hai chị em Thúy Kiều. Đoạn thơ tái hiện cảnh sắc mùa xuân, lễ hội trong tiết Thanh minh và cuộc du xuân của chị em Kiều, qua đó cho thấy biệt tài vẽ cảnh của Nguyễn Du.
Mở bài gián tiếp Cảnh ngày xuân
Mẫu 3 – từ đề tài mùa xuân trong thơ ca
Mùa xuân là đề tài mà thi nhân mọi thời đều muốn chạm tới, bởi đó là mùa của đất trời bừng tỉnh và lòng người rộn rã. Từ những câu ca dao mộc mạc đến những vần thơ bác học, biết bao bức tranh xuân đã được vẽ nên bằng chữ. Giữa dòng chảy ấy, Nguyễn Du vẫn để lại dấu ấn riêng với đoạn trích Cảnh ngày xuân trong Truyện Kiều. Chỉ trong mười tám câu thơ, ông đã gói được cả sắc màu thiên nhiên, không khí lễ hội Thanh minh lẫn những rung động tinh tế trong lòng chị em Thúy Kiều.
Mẫu 4 – nối tiếp đoạn trích Chị em Thúy Kiều
Đọc đoạn tả hai chị em Thúy Kiều, người ta khâm phục Nguyễn Du ở tài vẽ chân dung con người. Lật sang những câu thơ tiếp theo, người đọc lại bất ngờ trước một ngòi bút tả cảnh không kém phần tài hoa. Đó là đoạn trích Cảnh ngày xuân. Tả xong vẻ đẹp hai giai nhân, nhà thơ mở ra không gian mùa xuân trong tiết tháng ba, nơi chị em Kiều cùng bước vào cuộc chơi xuân giữa dòng người nô nức. Cảnh và người hòa quyện, tạo nên những câu thơ tả cảnh đẹp vào loại hiếm có của Truyện Kiều.
Mẫu 5 – từ bút pháp hội họa của Nguyễn Du
Người họa sĩ cần màu và cọ, còn Nguyễn Du chỉ cần ngôn từ để dựng nên những bức tranh khiến người xem nhớ mãi. Trong Truyện Kiều, đoạn trích Cảnh ngày xuân là một bức tranh như thế. Nền là thảm cỏ xanh trải đến tận chân trời, điểm vào đó vài bông lê trắng, rồi những đoàn người áo quần chen chúc đi chơi hội, cuối cùng là con suối nhỏ và nhịp cầu xa trong ánh chiều. Bằng lối chấm phá cổ điển kết hợp với chất liệu đời sống dân tộc, Nguyễn Du đã làm sống dậy cả một ngày xuân trên trang giấy.
Mẫu 6 – từ hình ảnh “con én đưa thoi”
Mở đầu đoạn trích Cảnh ngày xuân, Nguyễn Du viết: “Ngày xuân con én đưa thoi”. Cánh én chao liệng trên trời xanh vừa là nét vẽ của mùa xuân, vừa gợi cảm giác thời gian trôi nhanh như con thoi trên khung cửi. Ngay từ câu thơ đầu, người đọc đã cảm nhận được cả vẻ đẹp lẫn sự chóng qua của mùa xuân. Từ hình ảnh ấy, đoạn trích trong Truyện Kiều mở ra bức tranh thiên nhiên tinh khôi, ngày hội Thanh minh náo nức và buổi chiều ra về thoáng chút bâng khuâng của chị em Thúy Kiều.
Mẫu 7 – từ phong tục tiết Thanh minh
Mỗi độ tháng ba, người Việt lại có tục đi tảo mộ, sửa sang phần mộ người đã khuất, rồi nhân dịp ấy dạo chơi ngoài đồng nội. Nét đẹp văn hóa ấy đã đi vào thơ Nguyễn Du qua đoạn trích Cảnh ngày xuân trong Truyện Kiều với câu thơ “Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh”. Trên nền thiên nhiên tươi mới, nhà thơ dựng lên cảnh nam thanh nữ tú dập dìu đi lễ, đi hội, để rồi khép lại bằng hình ảnh chị em Thúy Kiều thong thả trở về. Đoạn trích vì thế vừa là bức tranh xuân, vừa là trang ghi chép sinh động về phong tục của dân tộc.
Mẫu 8 – đối lập với “khóa xuân” ở lầu Ngưng Bích
Trong Truyện Kiều, có hai lần mùa xuân hiện lên thật ám ảnh. Một lần là tuổi xuân bị giam hãm: “Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân”. Lần còn lại là mùa xuân rộng mở, tràn đầy sức sống trong đoạn trích Cảnh ngày xuân. Khi ấy Thúy Kiều còn sống trong vòng tay gia đình, còn vô tư cùng các em đi chơi xuân giữa tiết Thanh minh. Đặt hai mùa xuân cạnh nhau, ta càng quý những câu thơ trong trẻo của Nguyễn Du, nơi thiên nhiên và con người đều đang ở độ đẹp nhất.
Mẫu 9 – từ khoảnh khắc êm đềm trước giông bão
Cuộc đời Thúy Kiều là chuỗi ngày đau khổ kéo dài mười lăm năm, nhưng trước khi tai họa ập đến, nàng từng có một mùa xuân yên bình. Đoạn trích Cảnh ngày xuân của Nguyễn Du ghi lại chính khoảnh khắc ấy: trời đất trong trẻo, lễ hội đông vui, chị em Kiều thong dong dạo bước. Thế nhưng ở cuối đoạn, cảnh chiều đã nhuốm một chút buồn mơ hồ, như báo trước cuộc gặp nấm mồ vô chủ của Đạm Tiên ngay sau đó. Đọc đoạn thơ, ta vừa say với vẻ đẹp mùa xuân vừa thấy lòng chùng xuống trước số phận sắp đến của nhân vật.
Mở bài Cảnh ngày xuân theo đề thường gặp
Mẫu 10 – đề phân tích 4 câu thơ đầu
Có những bức tranh chỉ cần vài nét đã đủ làm người xem nhớ mãi, phần mở đầu Cảnh ngày xuân của Nguyễn Du với bốn câu thơ là như vậy. Với cánh én, ánh thiều quang, thảm cỏ non và mấy bông lê trắng, nhà thơ đã gợi ra một mùa xuân vừa khoáng đạt vừa tinh khôi. Hai câu “Cỏ non xanh tận chân trời / Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” từ lâu đã được coi là những câu thơ tả cảnh xuân đẹp bậc nhất trong văn học Việt Nam.
Mẫu 11 – đề phân tích 8 câu thơ giữa
Nếu bốn câu mở đầu Cảnh ngày xuân dành cho thiên nhiên, thì tám câu tiếp theo dành cho con người trong ngày hội. Nguyễn Du đưa người đọc vào tiết Thanh minh, khi người ta vừa đi tảo mộ vừa chơi hội đạp thanh, giữa dòng người “Ngựa xe như nước, áo quần như nêm”. Hàng loạt từ ghép, từ láy cùng biện pháp ẩn dụ đã làm sống dậy không khí đông vui, nhộn nhịp của một phong tục đẹp. Qua đó, ta thấy tài quan sát và sự gắn bó của nhà thơ với đời sống văn hóa dân tộc.
Mẫu 12 – đề phân tích 6 câu thơ cuối
Hội nào rồi cũng tan, và phần cuối Cảnh ngày xuân, gồm sáu câu thơ, ghi lại đúng khoảnh khắc ấy. Nắng chiều “Tà tà bóng ngả về tây”, chị em Thúy Kiều thơ thẩn ra về theo dòng suối nhỏ. Cảnh vẫn thanh dịu, nhưng các từ láy thanh thanh, nao nao, nho nhỏ đã thấm một nỗi bâng khuâng khó tả. Qua sáu câu thơ, Nguyễn Du cho thấy tài tả cảnh ngụ tình và dự cảm tinh tế về những điều sắp đến trong cuộc đời Thúy Kiều.
Mẫu 13 – đề phân tích nghệ thuật miêu tả thiên nhiên
Nguyễn Du là bậc thầy trong việc khắc họa tâm lí, nhưng ông cũng là một người vẽ cảnh hiếm có. Đoạn trích Cảnh ngày xuân trong Truyện Kiều cho thấy rõ biệt tài ấy. Thiên nhiên được tả lần theo bước đi của một ngày du xuân, từ buổi sáng tươi tắn đến lúc chiều tà, với màu sắc hài hòa, đường nét thanh thoát và những từ ngữ giàu sức tạo hình. Đi sâu vào cách ông vẽ cảnh trong đoạn thơ là con đường để hiểu vì sao mỗi cảnh vật của Nguyễn Du đều có hồn.
Mở bài Cảnh ngày xuân nâng cao (học sinh giỏi)
Mẫu 14 – từ nhịp thời gian của một ngày xuân
Trong thơ Nguyễn Du, thời gian không chỉ là phông nền mà còn là một nhân vật lặng lẽ. Đoạn trích Cảnh ngày xuân mở ra bằng nhịp trôi nhanh của cánh én đưa thoi, của mùa xuân đã qua hơn sáu chục ngày; đến cuối đoạn, thời gian bỗng chậm lại theo bóng nắng tà tà ngả về tây. Từ sáng đến chiều, từ đông vui đến lặng lẽ, một ngày xuân như thu nhỏ cả quy luật của đời người: niềm vui nào cũng qua đi. Bằng cách tổ chức thời gian tinh tế ấy, Nguyễn Du không chỉ vẽ nên một bức tranh xuân tuyệt đẹp mà còn gửi vào đó nỗi trăn trở về sự mong manh của hạnh phúc, điều sẽ trở thành dòng chảy xuyên suốt Truyện Kiều.
Nên chọn mẫu mở bài Cảnh ngày xuân nào?
Mười bốn mẫu mở bài Cảnh ngày xuân ở trên dẫn vào đoạn trích theo nhiều cách: giới thiệu thẳng, đi từ đề tài mùa xuân, từ đoạn Chị em Thúy Kiều, từ phong tục Thanh minh hay đặt cạnh cảnh khóa xuân ở lầu Ngưng Bích. Bài làm ngắn nên dùng mẫu trực tiếp; đề chỉ hỏi một phần đoạn trích thì chọn mẫu riêng cho bốn câu đầu, tám câu giữa hoặc sáu câu cuối. Em nên giữ câu chốt khớp đề và viết lại theo cách cảm nhận của mình.
Xem thêm:
- Soạn bài Cảnh ngày xuân (trích Truyện Kiều) – Ngữ văn 9 Cánh diều
- Phân tích Cảnh ngày xuân – tuyển chọn bài văn điểm cao
- Cảnh ngày xuân: tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- Tác giả Nguyễn Du: cuộc đời và sự nghiệp
- Phong cách sáng tác của Nguyễn Du
- Kết bài Cảnh ngày xuân hay nhất – 12 mẫu ngắn gọn, liên hệ, theo đề
- Mở bài Kiều ở lầu Ngưng Bích hay nhất – 14 mẫu trực tiếp, gián tiếp, nâng cao