Năm 1906, trong một giờ học ở trường y Tiên Đài (Nhật Bản), một sinh viên Trung Quốc nhìn tấm phim đèn chiếu cảnh đồng bào mình đứng xem người cùng nước bị hành hình, và quyết định bỏ nghề thầy thuốc. Lỗ Tấn (1881 – 1936) là bút danh của người sinh viên ấy, Chu Thụ Nhân, nhà văn mở đầu văn xuôi bạch thoại hiện đại Trung Quốc với Nhật ký người điên (1918), tác giả A Q chính truyện và truyện ngắn Cố hương mà học sinh Việt Nam đã đọc qua nhiều thế hệ.
Thông tin về người viết, thể loại và phương thức biểu đạt được gom vào một chỗ ở bài tìm hiểu tác giả, tác phẩm Cố hương.
Bốn cái tên của Chu Thụ Nhân

| Tên khai sinh | Chu Chương Thọ (周樟壽); năm 1898 đổi thành Chu Thụ Nhân (周樹人) |
| Tên tự | Dự Sơn, sau đổi là Dự Tài |
| Bút danh | Lỗ Tấn (魯迅), dùng từ năm 1918; lấy họ Lỗ của mẹ |
| Năm sinh – năm mất | 25/9/1881 – 19/10/1936 |
| Quê quán | Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc; mất ở Thượng Hải |
| Thể loại | Truyện ngắn, truyện vừa, tạp văn, thơ văn xuôi, tản văn hồi ức, nghiên cứu, dịch thuật |
| Tác phẩm tiêu biểu | Nhật ký người điên (1918), A Q chính truyện (1921), Gào thét (1923), Bàng hoàng (1926), Dã thảo (1927), Chuyện cũ viết lại (1936) |
| Trong SGK | Cố hương (Ngữ văn 9 chương trình cũ; Ngữ văn 8 Cánh diều, phần tự đánh giá) |
Nhiều tài liệu tiếng Việt ghi tên khai sinh là “Chu Trương Thọ”. Chữ đúng là Chương (樟, cây long não). Cái tên Thụ Nhân, nghĩa bóng là “trồng người”, được đặt năm 1898 khi ông vào học một trường võ bị kiểu mới, một lựa chọn bị họ hàng coi là làm xấu mặt gia đình nên phải đổi tên. Còn hai chữ Lỗ Tấn chỉ xuất hiện hai mươi năm sau, khi truyện ngắn đầu tiên được in.
Thiệu Hưng: nhà quan sa sút và những đơn thuốc lạ
Họ Chu ở Thiệu Hưng từng giàu có nhờ ruộng đất và hiệu cầm đồ. Ông nội Chu Phúc Thanh đỗ tiến sĩ, vào Hàn lâm viện. Năm 1893, ông bị phát giác đút lót quan trường thi để lo cho con trai đỗ cử nhân, bị kết án chém (sau được giảm, giam ở Hàng Châu). Gia đình phải tốn tiền chạy chọt nhiều năm, gia sản cạn dần.
Người cha, Chu Bá Nghi, đỗ tú tài nhưng không tiến thêm được, sau vụ án thì sinh rượu chè, nghiện thuốc phiện và ốm nặng. Thầy thuốc địa phương kê những vị thuốc kỳ quặc, như dế phải bắt đúng một cặp, mía phải qua ba lần sương. Năm 1896, ông mất ở tuổi 35; cậu con trưởng mới mười lăm tuổi. Có sách viết Lỗ Tấn mất cha năm mười ba tuổi “vì không có thuốc”; thực ra thuốc thì rất nhiều, chỉ là thuốc của lang băm. Mối ác cảm với thứ y học ấy về sau đẩy ông sang Nhật học y khoa phương Tây.
Người mẹ, bà Lỗ Thụy, không được đi học nhưng tự biết đọc biết viết. Những chuyện kể dân gian, những tích trong Sơn hải kinh, những buổi xem tuồng làng thời thơ ấu sau này đi vào Xã hí, Cố hương và tập hồi ức Triêu hoa tịch thập (Hoa sớm nhặt chiều).
Nam Kinh, Tokyo, Tiên Đài: con đường vòng qua ngành y
Nhà nghèo, không đủ tiền theo lối học khoa cử, năm 1898 ông vào Giang Nam thủy sư học đường ở Nam Kinh, trường không thu học phí. Nửa năm sau ông chuyển sang trường Khoáng lộ (mỏ và đường sắt), tốt nghiệp năm 1902. Ở đây ông đọc Huxley, Nghiêm Phục, Lương Khải Siêu, học tiếng Anh, tiếng Đức. (Wikipedia tiếng Việt ghi năm vào trường hàng hải là 1899; Wikipedia tiếng Anh và tiếng Trung ghi 1898.)
Năm 1902, ông sang Nhật bằng học bổng nhà Thanh, học tiếng ở Hoằng Văn học viện, cắt bím tóc. Năm 1904, ông vào trường Y chuyên môn Tiên Đài (nay là khoa Y Đại học Tohoku), là sinh viên Trung Quốc duy nhất của trường. Thầy dạy giải phẫu Fujino Genkurō đối xử với ông rất tận tình; ba mươi năm sau, bài tản văn Thầy Fujino được đưa vào sách giáo khoa cả ở Trung Quốc lẫn Nhật Bản.
Rồi đến tấm phim đèn chiếu thời chiến tranh Nga – Nhật. Trong lời tựa tập Gào thét, ông kể lại: người bị trói là một người Trung Quốc bị buộc tội làm do thám cho quân Nga, những người đứng xem cũng là người Trung Quốc, thân thể khỏe mạnh mà nét mặt trơ lì. Ông kết luận rằng chữa thân thể chưa phải việc cần nhất, việc cần nhất là thay đổi tinh thần, và văn nghệ là con đường để làm việc đó. Tháng 3 năm 1906, ông bỏ học. Mùa hè năm ấy, mẹ gọi về nước cưới vợ theo sắp đặt, bà Chu An; vài ngày sau đám cưới, ông lại sang Nhật cùng em trai Chu Tác Nhân.
Mười năm im lặng trước Nhật ký người điên
Ở Tokyo, ông cùng em dịch tiểu thuyết phương Tây. Tuyển tập Vực ngoại tiểu thuyết tập (1909) in 1.500 bản, chỉ bán được 41 bản. Trước đó ông đã dịch hai truyện khoa học viễn tưởng của Giuyn Véc-nơ, Từ Trái Đất lên Mặt Trăng và Hai vạn dặm dưới đáy biển; năm 1908, ông viết tiểu luận Ma La thi lực thuyết giới thiệu Byron và thơ lãng mạn châu Âu.
Năm 1909, ông về nước dạy học ở Hàng Châu, Thiệu Hưng. Sau Cách mạng Tân Hợi, năm 1912 ông làm việc ở Bộ Giáo dục Trung Hoa Dân quốc, theo bộ ra Bắc Kinh. Những năm ấy ông chép bia cổ, sưu tầm sách cũ, hiệu đính thơ văn Kê Khang, soạn sử địa phương Thiệu Hưng. Ông viết cho bạn rằng đó chẳng phải học vấn gì, chỉ là thứ thay cho rượu và đàn bà.
Năm 1917, Tiền Huyền Đồng đến rủ ông viết cho tạp chí Tân thanh niên. Ông đáp bằng hình ảnh một ngôi nhà sắt không cửa sổ, người bên trong ngủ say và sắp chết ngạt: đánh thức vài người tỉnh dậy để họ chịu cái chết đau đớn, liệu có phải là việc tốt? Người bạn trả lời rằng nếu vài người đã tỉnh thì không thể nói là hết hy vọng phá được ngôi nhà. Ông viết. Truyện ngắn Nhật ký người điên ra mắt trên Tân thanh niên năm 1918, ký tên Lỗ Tấn. Nhan đề mượn từ truyện cùng tên của Gô-gôn, nhà văn Nga ông yêu thích và về sau dịch cả Những linh hồn chết.
Gào thét, Bàng hoàng và chàng A Q
Từ 1918 đến 1926, Lỗ Tấn viết hai tập truyện ngắn. Sau đó ông gần như ngừng hẳn hư cấu, chỉ còn tập thứ ba viết lại các tích cổ.
| Tập truyện | Năm in | Số truyện | Truyện nên đọc |
|---|---|---|---|
| Gào thét (Nột hám) | 1923 | 14 | Nhật ký người điên, Khổng Ất Kỷ, Thuốc, Cố hương, A Q chính truyện, Xã hí |
| Bàng hoàng | 1926 | 11 | Lễ cầu phúc, Trong quán rượu, Thương thệ, Ly hôn |
| Chuyện cũ viết lại (Cố sự tân biên) | 1936 (có nguồn ghi 1935) | 8 | Bôn nguyệt, Chú kiếm |
A Q chính truyện (1921) là truyện vừa duy nhất của ông. Nhân vật A Q, kẻ làm thuê không nhà không cửa, bị ức hiếp thì tự an ủi rằng mình mới là kẻ thắng, đã thành một danh từ chung. Phép thắng lợi tinh thần của A Q là tấm gương mà nhiều thế hệ độc giả Trung Quốc nhìn vào và thấy mình. Năm 1933, khi nhà báo Mỹ Edgar Snow hỏi Trung Quốc còn A Q không, Lỗ Tấn đáp rằng nay còn tệ hơn, chính bọn A Q đang cai trị đất nước (Wikipedia tiếng Anh dẫn lại).
Về bút pháp, nói gọn: một cái nhìn vừa xót thương vừa mỉa mai với những con người nhỏ bé, chọn chi tiết rất ít mà sắc; phần phân tích kỹ có ở bài phong cách sáng tác của Lỗ Tấn.
Tạp văn, Dã thảo và nghề dịch
Số trang Lỗ Tấn viết nhiều nhất không phải truyện mà là tạp văn: những bài ngắn, sắc, tranh luận về thời sự, phong tục, chữ nghĩa, in trên báo rồi gom thành hơn mười lăm tập, từ Nhiệt phong, Phần, Hoa cái tập đến ba tập Thả giới đình tạp văn.
Bên cạnh đó là hai cuốn mỏng mà giới nghiên cứu đánh giá rất cao. Dã thảo (Cỏ dại, 1927) là tập thơ văn xuôi, u uất và đầy ám ảnh. Đôi khi nó bị xếp vào “tạp văn” và ghi năm 1924, còn Wikipedia tiếng Anh và tiếng Trung đều ghi đây là thơ văn xuôi, in thành sách năm 1927. Triêu hoa tịch thập là tập hồi ức về tuổi thơ và những năm đi học, trong đó có bài Từ vườn Bách Thảo đến nhà học Tam Vị và Thầy Fujino.
Ông còn là nhà nghiên cứu: Trung Quốc tiểu thuyết sử lược (Lược sử tiểu thuyết Trung Quốc), soạn từ bài giảng ở Đại học Bắc Kinh từ năm 1920, gần như không có tiền lệ vì giới học giả cũ coi tiểu thuyết là thứ văn chương hạng dưới. Và là người dịch nhiều sách văn học Nga, người cổ vũ phong trào tranh khắc gỗ ở Trung Quốc những năm 1930. Chữ tiền lệ ở đây chỉ việc đã có từ trước để người sau dựa vào mà làm theo.
Hạ Môn, Quảng Châu, Thượng Hải: mười năm cuối
Sau vụ thảm sát 18/3/1926, khi hai nữ sinh của ông bị bắn chết, Lỗ Tấn rời Bắc Kinh xuống dạy ở Đại học Hạ Môn, rồi đầu năm 1927 làm chủ nhiệm khoa Văn kiêm trưởng phòng giáo vụ Đại học Trung Sơn ở Quảng Châu. Tháng 10 năm 1927, ông đến Thượng Hải cùng Hứa Quảng Bình, người học trò cũ trở thành bạn đời. Năm 1929, con trai duy nhất Chu Hải Anh ra đời.
Ở Thượng Hải, ông sống bằng ngòi bút, không nhận chức giảng dạy cố định. Năm 1930, ông tham gia sáng lập Liên minh các nhà văn cánh tả nhưng thường xuyên va chạm với chính những người cùng phe; suốt đời ông không vào Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sách của ông bị kiểm duyệt, có lúc ông phải lánh đi để tránh bị bắt.
Bệnh lao phổi hành hạ ông từ giữa thập niên 1920. Tháng 9 năm 1936, ông viết bài Chết, dặn con nếu không có tài thì tìm việc nhỏ mà sống, đừng làm văn sĩ hay họa sĩ rỗng tuếch. Ông mất rạng sáng 19/10/1936, thọ 55 tuổi. Phần mộ hiện ở công viên Lỗ Tấn, Thượng Hải.
Được nhìn nhận ra sao
Năm 1940, trong Tân dân chủ chủ nghĩa luận, Mao Trạch Đông viết rằng Lỗ Tấn “không những là nhà văn học vĩ đại mà còn là nhà tư tưởng vĩ đại và nhà cách mạng vĩ đại”. Từ đó, cách đánh giá này thành khuôn chính thống ở Trung Quốc đại lục; ngược lại, ở Đài Loan sách ông bị cấm đến cuối thập niên 1980.
Ngoài Trung Quốc, nhà văn Nhật Ōe Kenzaburō (Nobel 1994) gọi ông là nhà văn lớn nhất mà châu Á có được trong thế kỷ XX, theo Wikipedia tiếng Anh và trang giới thiệu tác giả của nhà xuất bản Simon & Schuster. Tên ông được đặt cho Giải thưởng Văn học Lỗ Tấn, một tiểu hành tinh và một miệng hố trên sao Thủy.
Lỗ Tấn trong sách giáo khoa Ngữ văn ở Việt Nam
| Văn bản | Sách – bài học | Ghi chú |
|---|---|---|
| Cố hương | Ngữ văn 9, tập 1 – Bài 16 (chương trình 2006) | Văn bản đọc hiểu chính, quen thuộc với nhiều thế hệ học sinh |
| Cố hương | Ngữ văn 8 Cánh diều, tập 2 – Bài 6 (Truyện) | Văn bản dùng ở phần tự đánh giá cuối bài (soạn bài Cố hương) |
| Thuốc | Ngữ văn 12, tập 2 (chương trình 2006) | Văn bản đọc hiểu chính (soạn bài Thuốc) |
Cố hương in trong tập Gào thét, kể chuyến người con xa quê trở về Thiệu Hưng bán nhà, gặp lại Nhuận Thổ, người bạn thời thơ ấu nay đã thành một nông dân khốn khó, gọi mình là “bẩm ông”. Truyện khép lại bằng một suy nghĩ về hy vọng, ví nó với con đường trên mặt đất: vốn không có, người đi nhiều thì thành. Câu kết ấy là đoạn được học sinh trích nhiều nhất khi viết về Lỗ Tấn.
Muốn đọc thêm các truyện khác như Nhật ký người điên, Thuốc, Khổng Ất Kỷ, xem bài tổng hợp tác phẩm của Lỗ Tấn trên Văn VN.
Câu hỏi về xuất xứ hay bố cục thường có trong đề đọc hiểu, nên em cần nắm chắc những nét chính về tác phẩm Thuốc.