Tóm tắt Một thời đại trong thi ca giúp em nắm nhanh luận đề, các luận điểm và mạch lập luận của Hoài Thanh trước khi soạn bài hay làm văn. Văn bản là phần cuối tiểu luận mở đầu cuốn Thi nhân Việt Nam (1942), học ở sách Ngữ văn 11 Kết nối tri thức và Ngữ văn 11 Cánh diều. Vì đây là văn bản nghị luận, tóm tắt cần bám vào vấn đề và các luận điểm chứ không kể theo sự việc. Dưới đây là 7 mẫu từ ngắn đến chi tiết.
Bài học này là một phần của chương trình học kì, và bài ôn tập học kì II Ngữ văn 11 Cánh diều giúp em xâu chuỗi nó với các bài còn lại.
Cách tóm tắt văn bản nghị luận Một thời đại trong thi ca
Để tóm tắt đúng, em cần xác định ba lớp nội dung.

- Luận đề: tinh thần thơ mới.
- Các luận điểm: nguyên tắc xác định tinh thần thơ mới; tinh thần thơ mới là chữ “tôi”; hành trình và bi kịch của cái tôi; các nhà thơ mới gửi lòng yêu nước vào tiếng Việt.
- Kết luận: Thơ mới là tiếng nói của cái tôi cá nhân, mang bi kịch của thế hệ thanh niên mất nước nhưng vẫn ẩn chứa tình yêu quê hương, tiếng Việt.
Khi viết, em dùng lời của mình, giữ đúng trình tự lập luận, chỉ trích nguyên văn vài cụm từ then chốt. Trình tự ấy khớp với năm câu hỏi bên lề, từ chữ tôi đến tiếng Việt, được giải trong soạn bài Một thời đại trong thi ca Cánh diều.
Sơ đồ tư duy tóm tắt Một thời đại trong thi ca
Sơ đồ gom văn bản thành các khối luận điểm để dễ nhớ.

Tóm tắt Một thời đại trong thi ca ngắn nhất – mẫu 1
Theo Hoài Thanh, muốn tìm tinh thần thơ mới phải so sánh bài hay với bài hay và nhìn vào đại thể. Nếu thơ cũ là thời của chữ “ta” thì thơ mới là thời của chữ “tôi”. Cái tôi ấy ban đầu bỡ ngỡ, sau được quen thuộc nhưng mang bi kịch cô đơn, bế tắc; các nhà thơ mới đã gửi nỗi niềm và lòng yêu nước vào tình yêu tiếng Việt.
Tóm tắt Một thời đại trong thi ca ngắn gọn – mẫu 2
Hoài Thanh cho rằng việc tìm ra tinh thần thơ mới quan trọng hơn bàn về hình thức, nhưng rất khó, vì ranh giới giữa thơ mới và thơ cũ không rạch ròi, cái hay cái dở thời nào cũng có. Ông đề xuất phải so sánh những bài hay nhất của mỗi thời và nhìn vào đại thể. Theo ông, tinh thần thơ cũ gắn với chữ “ta” – con người cá nhân chìm trong đoàn thể, còn tinh thần thơ mới là chữ “tôi” với nghĩa tuyệt đối. Chữ tôi lúc đầu lạ lẫm, bị nhìn khó chịu, dần dần được chấp nhận, nhưng lại đáng thương vì mất cốt cách hiên ngang của người xưa, càng đi sâu vào lòng mình càng thấy cô đơn. Để giải tỏa bi kịch ấy, các nhà thơ mới gửi cả vào tiếng Việt, dồn tình yêu quê hương vào tình yêu tiếng mẹ đẻ.
Tóm tắt Một thời đại trong thi ca theo bố cục – mẫu 3
Phần 1 – Nêu vấn đề và nguyên tắc: Hoài Thanh chuyển từ bàn về hình thức sang tìm tinh thần thơ mới. Ông chỉ ra cái khó: thơ mới và thơ cũ đan xen, người mới đôi khi viết như cũ, người cũ có khi lại rất mới; thời đại nào cũng có những bài dở. Vì vậy, phải lấy bài hay so với bài hay, phải nhìn vào đại thể.
Phần 2 – Tinh thần thơ mới là chữ “tôi”: Ngày trước là thời chữ “ta”, bây giờ là thời chữ “tôi”. Xã hội xưa chỉ có đoàn thể, cá nhân chìm trong gia đình, quốc gia; nhà thơ xưa ít khi dám dùng chữ tôi để nói về chính mình. Thơ mới đem đến chữ tôi mang quan niệm cá nhân, xuất hiện đường hoàng, độc lập.
Phần 3 – Bi kịch và niềm tin: Chữ tôi từ bỡ ngỡ đến được mọi người quen, rồi trở nên đáng thương. Các nhà thơ mới thoát lên tiên, say đắm, điên cuồng, ngẩn ngơ buồn nhưng vẫn không thoát khỏi cô đơn vì thiếu một lòng tin đầy đủ. Họ tìm chỗ dựa trong tiếng Việt – thứ tiếng đã chia sẻ vui buồn với cha ông – và tin tinh thần nòi giống không thể mất.
Tóm tắt Một thời đại trong thi ca theo luận điểm – mẫu 4
- Luận đề: tinh thần thơ mới.
- Luận điểm 1 – Nguyên tắc: Không thể phân biệt thơ mới, thơ cũ bằng những bài dở hay những trường hợp lẻ tẻ; phải so sánh bài hay với bài hay, xét trên đại thể.
- Luận điểm 2 – Chữ tôi đối lập chữ ta: Thơ cũ gắn với cái ta chung của đoàn thể; thơ mới đề cao cái tôi cá nhân với nghĩa tuyệt đối.
- Luận điểm 3 – Hành trình và bi kịch của cái tôi: lúc đầu bỡ ngỡ, lạc loài; sau quen dần; nhưng tội nghiệp vì mất cốt cách hiên ngang, càng đi sâu càng lạnh, mỗi nhà thơ một lối thoát mà đều bơ vơ.
- Luận điểm 4 – Lối thoát: gửi cả vào tiếng Việt, dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt, tìm về dĩ vãng để vin vào những gì bất diệt, tin vào ngày mai.
Tóm tắt Một thời đại trong thi ca chi tiết – mẫu 5
Mở đầu đoạn trích, Hoài Thanh cho rằng sau khi đã xét hình thức câu thơ, điều quan trọng hơn là đi tìm tinh thần thơ mới. Công việc ấy không dễ, vì thời đại nào cũng nối tiếp thời đại trước: cái mới phôi thai từ cái cũ, trong cái mới vẫn còn sót lại cái cũ. Ông dẫn những trường hợp nhà thơ mới có câu thơ mang phong vị cổ điển, còn nhà thơ cũ lại có câu nhí nhảnh, táo bạo. Hơn nữa, cái tầm thường, lố lăng thì thời nào cũng có. Bởi vậy, muốn thấy tinh thần một thời đại, phải so sánh những bài hay tiêu biểu và nhìn vào đại thể.
Đi theo nguyên tắc ấy, ông khẳng định: điều phân biệt thơ mới với thơ cũ là chữ “tôi” và chữ “ta”. Trong xã hội cũ, người ta chỉ biết đến đoàn thể, lớn là quốc gia, nhỏ là gia đình; bản sắc cá nhân chìm lấp như giọt nước trong biển cả. Nhà thơ xưa có khi ghi lại hình ảnh mình, nhưng thường ẩn sau chữ ta. Thơ mới thì khác: chữ tôi xuất hiện với cái nghĩa tuyệt đối, mang theo quan niệm cá nhân chưa từng có.
Hoài Thanh kể lại số phận chữ tôi: ban đầu nó bỡ ngỡ, lạc loài, bị nhiều người nhìn khó chịu; dần dần nó mất vẻ bỡ ngỡ, được quen, được thương, và thật đáng tội nghiệp. Các nhà thơ mới không còn khí phách ngang tàng của Lí Bạch hay lòng tự trọng trước cảnh nghèo của Nguyễn Công Trứ. Họ đi sâu vào hồn mình và thấy càng sâu càng lạnh: người thoát lên tiên, người phiêu lưu trong tình yêu, người điên cuồng, người say đắm, rồi tất cả ngẩn ngơ trở về với nỗi buồn. Thơ Việt Nam vì thế buồn và xôn xao hơn bao giờ hết. Đó là bi kịch của cả thế hệ thanh niên thiếu một lòng tin đầy đủ.
Cuối đoạn trích, Hoài Thanh chỉ ra lối thoát của các nhà thơ mới: họ gửi cả vào tiếng Việt. Họ yêu thứ tiếng đã cùng cha ông trải qua bao đời, coi tiếng Việt là nơi lưu giữ hồn dân tộc, dồn tình yêu quê hương vào tình yêu tiếng mẹ đẻ. Họ tìm về quá khứ để vin vào những giá trị bền vững, tin rằng tinh thần nòi giống, như các thể thơ xưa, chỉ biến đổi chứ không mất đi.
Tóm tắt nội dung Một thời đại trong thi ca bằng một đoạn văn – mẫu 6
Đoạn trích Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh trình bày quan niệm về tinh thần thơ mới một cách mạch lạc và giàu cảm xúc. Trước hết, tác giả nêu cách nhìn khoa học: không lấy bài dở làm căn cứ, không sa vào chi tiết lẻ, mà so sánh các tác phẩm hay nhất và xét trên tổng thể. Từ đó, ông đi đến nhận định then chốt rằng thơ cũ là tiếng nói của cái ta cộng đồng, còn thơ mới là tiếng nói của cái tôi cá nhân. Tiếp theo, ông phân tích sự vận động của cái tôi từ chỗ xa lạ đến chỗ được đón nhận, đồng thời chỉ ra bi kịch cô đơn, bế tắc của nó qua phong cách những nhà thơ tiêu biểu như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận. Kết thúc, Hoài Thanh trân trọng phát hiện tình yêu nước kín đáo của các thi nhân: họ gửi lòng mình vào tiếng Việt và tin vào sức sống bất diệt của dân tộc.
Tóm tắt Một thời đại trong thi ca theo mạch lập luận – mẫu 7
Mạch lập luận của văn bản đi theo bốn bước. Bước một, tác giả nêu vấn đề cần bàn và thừa nhận cái khó của nó, nhờ vậy người đọc thấy sự thận trọng, khách quan của người phê bình. Bước hai, ông đưa ra nguyên tắc so sánh “bài hay với bài hay”, “nhìn vào đại thể” – đây là cơ sở để mọi nhận định sau đó có sức thuyết phục. Bước ba, ông áp dụng nguyên tắc để rút ra kết luận về chữ “tôi”, rồi chứng minh bằng việc đối chiếu với chữ “ta” của thơ cũ và điểm qua các hồn thơ tiêu biểu. Bước bốn, ông mở rộng sang bình diện xã hội – tâm lí: chỉ ra bi kịch của cái tôi và con đường các nhà thơ tìm đến tiếng Việt như một điểm tựa tinh thần. Nhờ trình tự chặt chẽ ấy, văn bản vừa là một bài phê bình văn học, vừa là một bản chân dung tinh thần của cả thế hệ Thơ mới.
Kết luận
Khi tóm tắt Một thời đại trong thi ca, điều quan trọng nhất là giữ đúng luận đề và trình tự bốn luận điểm: nguyên tắc – chữ tôi – bi kịch – tiếng Việt. Em có thể chọn mẫu ngắn để ôn nhanh, mẫu theo luận điểm để soạn bài và mẫu chi tiết để chuẩn bị cho bài phân tích.
Xem thêm: