Truyện ngắn soi qua câu chuyện và điểm nhìn, thơ trữ tình đọc theo cấu tứ và hình ảnh, văn bản nghị luận bóc tách theo cấu trúc lập luận, truyện thơ dân gian đặt cạnh thơ trữ tình có yếu tố tự sự, cuối cùng là bi kịch với nhân vật và xung đột: năm bài học kì I của Ngữ văn 11 Kết nối tri thức đi qua đủ truyện, thơ, kịch và nghị luận. Phần Ôn tập học kì I ở trang 155–157 sách tập một gom tất cả lại bằng hai mục: Hệ thống hoá kiến thức đã học (5 câu) và Luyện tập và vận dụng (6 câu đọc hiểu bài thơ Huyền diệu của Xuân Diệu, 4 đề viết, 3 nội dung nói và nghe). Trang này trả lời đủ 11 câu theo đúng đề in trong sách, gợi ý cách làm phần viết và nói, kèm bảng hệ thống văn bản cả học kì và một đề kiểm tra tham khảo có đáp án. Các bài khác của bộ sách xem tại Ngữ văn 11 Kết nối tri thức.

Soạn bài Ôn tập học kì I Ngữ văn 11 Kết nối tri thức (trang 155–157)
Sách đặt ra ba yêu cầu cho buổi ôn: nhìn lại có hệ thống những gì đã học trong tập một; luyện tiếp kĩ năng đọc, viết, nói và nghe qua các nhiệm vụ mới; vận dụng tổng hợp kiến thức để làm những bài tập không lặp lại bài đã học. Vì vậy phần I thiên về lập bảng, phần II đưa ra một bài thơ hoàn toàn mới để em tự đọc.
I. Hệ thống hoá kiến thức đã học (trang 155)
Câu 1 (trang 155): Các loại, thể loại văn bản và nhan đề văn bản đọc
Nêu tên các loại, thể loại văn bản được học trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập một và nhan đề văn bản đọc thuộc từng loại, thể loại ấy.
Trả lời:
Tập một có hai loại lớn: văn bản văn học (gồm truyện, thơ, kịch) và văn bản nghị luận. Xếp theo thể loại cụ thể như sau (văn bản đánh dấu * là bài thực hành đọc ở mục Củng cố, mở rộng):
| Loại | Thể loại | Nhan đề văn bản |
|---|---|---|
| Văn bản văn học | Truyện ngắn | Vợ nhặt của Kim Lân, Chí Phèo của Nam Cao, Cải ơi!* của Nguyễn Ngọc Tư |
| Thơ trữ tình | Nhớ đồng của Tố Hữu, Tràng giang của Huy Cận, Con đường mùa đông của Pu-skin, Thời gian* của Văn Cao; thơ trữ tình có yếu tố tự sự: Dương phụ hành (Cao Bá Quát), Thuyền và biển (Xuân Quỳnh) | |
| Truyện thơ dân gian | Lời tiễn dặn (trích Tiễn dặn người yêu, truyện thơ dân tộc Thái), Nàng Ờm nhắn nhủ* (truyện thơ dân tộc Mường) | |
| Bi kịch | Sống, hay không sống – đó là vấn đề (trích Hăm-lét, Sếch-xpia), Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng), Prô-mê-tê bị xiềng* (Ét-sin) | |
| Văn bản nghị luận | Chiếu, diễn văn, tiểu luận phê bình | Cầu hiền chiếu (Ngô Thì Nhậm), Tôi có một ước mơ (Mác-tin Lu-thơ Kinh), Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh), Tiếp xúc với tác phẩm* (Thái Bá Vân) |
Điểm dễ nhầm: Dương phụ hành và Thuyền và biển nằm trong Bài 4 cùng truyện thơ, nhưng chúng là thơ trữ tình, chỉ có yếu tố tự sự (một câu chuyện nhỏ làm khung cho cảm xúc). Còn truyện thơ thì câu chuyện mới là xương sống.
Câu 2 (trang 155): Bảng thống kê các khái niệm then chốt
Lập bảng thống kê các khái niệm then chốt cần dùng để đọc hiểu những văn bản trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập một và giải thích ngắn gọn về từng khái niệm.
Trả lời:
| Bài | Khái niệm | Giải thích ngắn |
|---|---|---|
| 1. Câu chuyện và điểm nhìn trong truyện kể | Câu chuyện – truyện kể | Câu chuyện là chuỗi sự việc xảy ra với nhân vật theo trình tự thời gian; truyện kể là cách người kể sắp đặt, tổ chức chuỗi sự việc ấy trên trang viết (kể trước, kể sau, kể nhanh, kể chậm). |
| Điểm nhìn | Chỗ đứng để quan sát và kể: điểm nhìn bên ngoài (chỉ thấy hành động, lời nói), điểm nhìn bên trong (đi vào ý nghĩ, cảm xúc nhân vật); còn có điểm nhìn không gian và điểm nhìn thời gian. | |
| Người kể chuyện | Người mang lời kể; có thể ở ngôi thứ ba hoặc ngôi thứ nhất. Lời người kể có lúc hoà vào giọng nhân vật (lời nửa trực tiếp), như đoạn Chí Phèo tỉnh rượu buổi sáng. | |
| Lời người kể chuyện, lời nhân vật | Lời người kể dẫn dắt, miêu tả, bình luận; lời nhân vật là đối thoại hoặc độc thoại của chính nhân vật, mang giọng riêng của người đó. | |
| 2. Cấu tứ và hình ảnh trong thơ trữ tình | Cấu tứ | Ý tưởng tổ chức cả bài thơ: hình ảnh, cảm xúc được xâu chuỗi quanh một trục nào (ví dụ Tràng giang đi từ dòng sông mênh mông tới nỗi nhớ nhà). |
| Hình ảnh thơ | Sự vật, cảnh tượng được tái hiện bằng ngôn từ, gợi cảm giác và cảm xúc; hình ảnh trong thơ không chỉ tả mà còn mang nghĩa. | |
| Yếu tố tượng trưng | Hình ảnh mang một ý nghĩa vượt khỏi chính nó, thường mơ hồ, gợi nhiều liên tưởng; liên quan đến biểu tượng và lối thơ tượng trưng. | |
| 3. Cấu trúc của văn bản nghị luận | Luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng | Luận đề là vấn đề trung tâm; luận điểm chia nhỏ luận đề; lí lẽ và bằng chứng đỡ cho từng luận điểm. Bốn tầng này phải ăn khớp như một cái cây có thân, cành, lá. |
| Yếu tố thuyết minh, tự sự, miêu tả, biểu cảm trong văn nghị luận | Những yếu tố phụ trợ giúp lập luận cụ thể, gần gũi và có sức lay động hơn (Hoài Thanh kể và tả để nói về tinh thần thơ mới). | |
| 4. Tự sự trong truyện thơ dân gian và trong thơ trữ tình | Truyện thơ dân gian | Tác phẩm tự sự viết bằng thơ, do dân gian sáng tác và lưu truyền, phổ biến ở nhiều dân tộc thiểu số; có cốt truyện, nhân vật, kết hợp kể với bộc lộ cảm xúc. |
| Yếu tố tự sự trong thơ trữ tình | Câu chuyện, sự việc xuất hiện trong bài thơ nhưng chỉ là cái cớ để nhân vật trữ tình giãi bày tâm trạng. | |
| 5. Nhân vật và xung đột trong bi kịch | Bi kịch | Thể loại kịch diễn tả xung đột gay gắt giữa khát vọng cao đẹp và hoàn cảnh không thể vượt qua, thường kết thúc bằng thất bại hoặc cái chết của nhân vật chính. |
| Nhân vật bi kịch | Người có phẩm chất lớn, khát vọng lớn nhưng mắc sai lầm hoặc đứng trước tình thế không lối thoát (Vũ Như Tô, Hăm-lét). | |
| Xung đột kịch, hành động kịch | Xung đột là mâu thuẫn đẩy kịch đi tới; hành động kịch là chuỗi việc nhân vật làm để giải quyết mâu thuẫn ấy. | |
| Hồi, cảnh, lời thoại, hiệu ứng thanh lọc | Hồi và cảnh là đơn vị chia vở kịch; lời thoại gồm đối thoại, độc thoại, bàng thoại; thanh lọc là cảm xúc xót thương, sợ hãi giúp người xem tự gột rửa tâm hồn sau khi xem bi kịch. |
Câu 3 (trang 155): Tổng hợp nội dung thực hành tiếng Việt
Tổng hợp những nội dung thực hành tiếng Việt trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập một theo các gợi ý sau: Nội dung thực hành; Khái niệm hay quy tắc cần nắm vững; Ý nghĩa của hoạt động thực hành.
Trả lời:
| Nội dung thực hành | Khái niệm hay quy tắc cần nắm vững | Ý nghĩa của hoạt động thực hành |
|---|---|---|
| Đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết (Bài 1, tiếp theo ở Bài 3) | Ngôn ngữ nói: giao tiếp trực tiếp, có ngữ điệu, cử chỉ hỗ trợ, nhiều khẩu ngữ, từ tình thái, câu tỉnh lược. Ngôn ngữ viết: dùng chữ viết, dấu câu, câu trọn vẹn, từ ngữ chọn lọc, bố cục chặt chẽ. Văn bản viết có thể mô phỏng lời nói (đối thoại trong Vợ nhặt); ngược lại, trong bài viết nghị luận phải tránh pha giọng nói tuỳ tiện. | Hiểu vì sao lời nhân vật trong truyện nghe “như thật”; biết tự sửa câu văn mang khẩu ngữ trong bài viết của mình. |
| Một số hiện tượng phá vỡ những quy tắc ngôn ngữ thông thường: đặc điểm và tác dụng (Bài 2) | Muốn nhận ra “phá vỡ quy tắc” phải nắm quy tắc chuẩn trước. Các kiểu thường gặp: kết hợp từ trái logic để lạ hoá; đảo trật tự để nhấn mạnh; dùng từ với nét nghĩa mới; dùng dấu câu, kiểu câu theo chức năng khác thường. | Đọc thơ tinh hơn (cụm “buồn điệp điệp”, “sâu chót vót” trong Tràng giang); phân biệt sáng tạo nghệ thuật với lỗi dùng từ. |
| Lỗi về thành phần câu và cách sửa (Bài 4) | Các lỗi: thiếu chủ ngữ, thiếu vị ngữ, thiếu cả nòng cốt câu, sắp xếp sai trật tự thành phần, thiếu vế trong câu ghép. Cách sửa: bổ sung thành phần còn thiếu, bỏ quan hệ từ đứng đầu làm mất chủ ngữ, đổi trật tự cho hợp nghĩa. | Viết câu đúng ngữ pháp, nhất là câu dài trong văn nghị luận (lỗi hay gặp: mở câu bằng Qua tác phẩm cho thấy… khiến câu mất chủ ngữ). |
Bài 5 (bi kịch) không có mục thực hành tiếng Việt riêng nên bảng chỉ có ba nội dung.
Câu 4 (trang 155): Liệt kê các kiểu bài viết đã thực hiện
Liệt kê những kiểu bài viết đã thực hiện trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập một theo bảng gợi ý sau: STT – Kiểu bài viết – Đề tài được gợi ý – Đề tài đã viết.
Trả lời:
Cột “đề tài đã viết” là của riêng mỗi người; bảng dưới điền một ví dụ để em tham khảo cách ghi.
| STT | Kiểu bài viết | Đề tài được gợi ý | Đề tài đã viết (ví dụ) |
|---|---|---|---|
| 1 | Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm truyện (Bài 1) | Những đặc điểm trong cách kể của tác giả: người kể chuyện, điểm nhìn, cách tổ chức tình huống, lời văn | Điểm nhìn của người kể và nhân vật Tràng trong buổi sáng đầu tiên có vợ (Vợ nhặt) |
| 2 | Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm thơ (Bài 2) | Tìm hiểu cấu tứ và hình ảnh của một bài thơ đã học hoặc tự chọn | Cấu tứ của Tràng giang: cái tôi nhỏ bé đi tìm hơi ấm giữa không gian vô tận |
| 3 | Viết bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội (Bài 3) | Con người với cuộc sống xung quanh: quan hệ với cộng đồng, cách sống có trách nhiệm | Học sinh có nên dành thời gian cho hoạt động tình nguyện ở địa phương? |
| 4 | Viết bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội (Bài 4) | Hình thành lối sống tích cực trong xã hội hiện đại | Sống xanh bắt đầu từ chiếc bình nước cá nhân |
| 5 | Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên, xã hội (Bài 5) | Một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội có thể khảo sát, thu thập tài liệu | Thói quen đọc sách giấy của học sinh khối 11 trường em |
Nhìn cả cột kiểu bài sẽ thấy một đường đi: hai bài nghị luận văn học (truyện, thơ) gắn chặt với văn bản đọc, hai bài nghị luận xã hội cùng kiểu nhưng khác chủ đề, cuối cùng là báo cáo nghiên cứu, kiểu bài đòi hỏi số liệu và trích dẫn tài liệu.
Câu 5 (trang 155): Nội dung hoạt động nói và nghe đã thực hiện
Nhớ lại các nội dung của hoạt động nói và nghe đã thực hiện trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập một trên các phương diện sau: Tên của nội dung hoạt động nói và nghe; Yêu cầu của hoạt động; Thách thức và ý nghĩa của hoạt động.
Trả lời:
| Tên hoạt động | Yêu cầu | Thách thức và ý nghĩa |
|---|---|---|
| Thuyết trình về nghệ thuật kể chuyện trong một tác phẩm truyện (Bài 1) | Giới thiệu tác phẩm, chỉ ra người kể, điểm nhìn, cách dẫn dắt câu chuyện; nêu phát hiện riêng; tôn trọng cách cảm nhận khác. | Khó ở chỗ nói về “cách kể” chứ không kể lại truyện. Làm được thì em đọc truyện sâu hơn và tự tin trình bày một phân tích bằng lời. |
| Giới thiệu một tác phẩm nghệ thuật (Bài 2) | Cung cấp thông tin chính xác (tên, tác giả, thời điểm ra đời, đánh giá của công chúng); lí do chọn; cảm nhận cá nhân có lí lẽ; tương tác với người nghe. | Phải chuyển cảm xúc trước một bức tranh, bản nhạc thành lời có sức thuyết phục. Mở rộng hiểu biết nghệ thuật ngoài văn chương. |
| Trình bày ý kiến đánh giá, bình luận một vấn đề xã hội (Bài 3) | Nêu vấn đề, làm rõ bản chất và tác động của nó; đưa ý kiến riêng; phân tích ý kiến người khác; giữ thái độ tôn trọng. | Dễ sa vào nói chung chung hoặc áp đặt. Rèn khả năng lập luận ngay trước đám đông và lắng nghe phản biện. |
| Thảo luận về một vấn đề trong đời sống: hình thành lối sống tích cực trong xã hội hiện đại (Bài 4) | Chọn vấn đề gần với tuổi học trò; nêu các khía cạnh và các cách tiếp cận; mỗi ý kiến có lí lẽ, bằng chứng; tôn trọng nhau khi tranh luận. | Thách thức là giữ văn hoá tranh luận khi bất đồng. Hoạt động giúp em biết hợp tác, điều chỉnh quan điểm dựa trên lí lẽ. |
| Trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu, kết hợp phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ (Bài 5) | Giới thiệu vấn đề và lí do chọn; tóm tắt kết quả chính; dùng bảng, biểu đồ, hình ảnh hỗ trợ; trả lời câu hỏi của người nghe. | Phải rút gọn một báo cáo dài thành bài nói vài phút mà vẫn rõ số liệu. Đây là kĩ năng sẽ dùng nhiều ở bậc đại học và nơi làm việc. |
II. Luyện tập và vận dụng (trang 156–157)
1. Đọc: sách in bài thơ Huyền diệu của Xuân Diệu (in trong Thi nhân Việt Nam 1932 – 1941 của Hoài Thanh – Hoài Chân), mở đầu bằng một câu đề từ tiếng Pháp của Bô-đơ-le. Bài thơ gồm bốn khổ, mỗi khổ bốn câu tám chữ, nói về trạng thái lắng nghe một khúc nhạc đến mức mọi giác quan hoà vào nhau.
Câu 1 (trang 157): Nhan đề Huyền diệu và ý nghĩa định hướng việc đọc
Bạn hiểu như thế nào về nhan đề của bài thơ? Nhan đề ấy có ý nghĩa định hướng việc đọc tác phẩm như thế nào?
Trả lời:
Huyền diệu ghép hai sắc thái: “huyền” là mờ ảo, sâu kín; “diệu” là kì lạ, tuyệt vời. Nhan đề gọi tên một trạng thái chứ không gọi tên sự vật: cái kì ảo của âm nhạc khi nó chạm tới cả khứu giác, thị giác, vị giác của người nghe.
Nhan đề báo trước cho người đọc rằng đây không phải bài thơ kể việc hay tả cảnh có thật. Muốn đọc nó, phải thả mình theo cảm giác, chấp nhận những kết hợp từ “vô lí” (nhạc mà thơm, nhạc mà có màu hồng), và tìm nghĩa ở sự hoà quyện của giác quan hơn là ở từng chi tiết cụ thể.
Câu 2 (trang 157): Ý nghĩa của câu đề từ lấy từ thơ Bô-đơ-le
Việc chọn câu thơ của Bô-đơ-le làm đề từ có ý nghĩa gì?
Trả lời:
Câu đề từ là câu thứ tám trong bài Tương giao của Sác-lơ Bô-đơ-le, dịch ra là: mùi hương, sắc màu cùng âm thanh đáp lời nhau. Chọn câu này, Xuân Diệu làm ba việc cùng lúc:
- Trao cho người đọc “chìa khoá”: toàn bài xây trên nguyên tắc tương giao giữa các giác quan. Đọc đề từ xong, ta hiểu vì sao có “khúc nhạc thơm”, vì sao nghe nhạc lại thấy “hoa” và “hương”.
- Cho thấy mối liên hệ của Thơ mới với thơ tượng trưng Pháp, điều mà Hoài Thanh từng nhắc tới khi nói về ảnh hưởng phương Tây trong Một thời đại trong thi ca.
- Đặt bài thơ vào một cuộc đối thoại: nhà thơ Việt tiếp nhận một quan niệm nghệ thuật rồi thể hiện nó bằng tiếng Việt, bằng nhịp thơ tám chữ rất riêng.
Câu 3 (trang 157): Ấn tượng bao trùm về bài thơ và nguyên nhân
Nêu ấn tượng bao trùm về bài thơ và lí giải nguyên nhân đưa đến ấn tượng ấy.
Trả lời:
Ấn tượng bao trùm là cảm giác say, ngây ngất, như bị cuốn vào một cõi mơ rồi chậm rãi tỉnh lại. Có mấy nguyên nhân:
- Hình ảnh hoà trộn giác quan: nhạc có mùi, có màu, có vị ngọt; nghe nhạc mà “uống thơ”, thấy hoa nở, ngửi thấy hương.
- Giọng mời gọi: các câu cầu khiến nối nhau (Này lắng nghe, Hãy tự buông, Hãy nghe, Hãy uống, Hãy vẫn ngừng hơi) kéo người đọc vào trạng thái của nhân vật trữ tình.
- Nhạc tính: vần bằng ôm lấy từng khổ (thơm – hôn – hồn; hường – Dương – hương; tai – người – khơi; im – tim – lìm), nhịp chậm, nhiều dấu chấm lửng ở cuối khổ tạo dư âm.
- Kết cấu: ba khổ đầu là lúc khúc nhạc vang lên, khổ cuối là lúc nhạc tắt nhưng rung động còn kéo dài. Chính khoảng lặng ở cuối làm cảm giác “huyền diệu” sâu thêm.
Câu 4 (trang 157): Tri thức ngữ văn cần vận dụng để đọc bài thơ
Những tri thức ngữ văn nào đã học cần được vận dụng để việc đọc và thưởng thức bài thơ đạt hiệu quả?
Trả lời:
- Cấu tứ (Bài 2): nhận ra trục của bài là hành trình nghe – say – lặng, từ đó thấy mạch cảm xúc thống nhất.
- Hình ảnh thơ và yếu tố tượng trưng (Bài 2): khúc nhạc, thế giới của Du Dương, chiếc lá sau trận gió đều gợi nhiều hơn những gì chúng tả.
- Nhân vật trữ tình: người nói trong bài vừa là người nghe nhạc, vừa là người hướng dẫn “em” cùng cảm nhận.
- Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường (Thực hành tiếng Việt Bài 2): giúp lí giải những kết hợp từ lạ.
- Hiểu biết về phong trào Thơ mới qua Một thời đại trong thi ca (Bài 3): cái tôi cá nhân, khát khao cảm nhận đời bằng mọi giác quan, ảnh hưởng thơ Pháp.
Câu 5 (trang 157): Những kết hợp từ ngữ khác thường trong bài thơ
Chỉ ra những kết hợp từ ngữ mà bạn cho là có tính chất khác thường trong bài thơ.
Trả lời:
| Kết hợp từ | Vì sao khác thường | Hiệu quả |
|---|---|---|
| khúc nhạc thơm | Âm thanh vốn không có mùi | Âm nhạc lan toả như hương, thấm vào người nghe |
| khúc nhạc hường | Âm thanh được gán màu hồng | Gợi vẻ ngọt ngào, êm dịu, trẻ trung |
| thế giới của Du Dương | Tính từ “du dương” viết hoa thành tên riêng | Biến âm điệu êm ái thành một xứ sở có thật để người nghe bước vào |
| “uống thơ tan trong khúc nhạc” | Thơ không thể “uống”, cũng không “tan” | Thơ, nhạc hoà làm một, được cảm nhận bằng cả vị giác |
| ngọt ngào than gọi | Ghép vị ngọt với tiếng than | Nỗi buồn xa xăm mà vẫn dịu dàng, quyến rũ |
| nghe trái tim | Thường “nghe” âm thanh bên ngoài | Hướng sự lắng nghe vào bên trong, vào rung động của chính mình |
Ngoài ra, phép so sánh “Say người như rượu tối tân hôn” cũng táo bạo so với thơ trước đó: Xuân Diệu đem cảm giác rất trần thế để nói về âm nhạc.
Câu 6 (trang 157): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ về vẻ đẹp của bài thơ
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nói về vẻ đẹp của bài thơ theo cảm nhận của bạn.
Trả lời:
Đoạn văn tham khảo:
Với tôi, vẻ đẹp của Huyền diệu nằm ở khổ thơ cuối, lúc mọi âm thanh đã dứt. Ba khổ trước, Xuân Diệu dẫn ta đi qua một bữa tiệc giác quan: khúc nhạc có hương, có màu hồng, có cả vị ngọt đến mức người nghe phải “uống thơ”. Nếu dừng ở đó, bài thơ chỉ là một cơn say. Nhưng nhà thơ còn bắt ta ngừng hơi thêm một lần nữa, để nghe chính trái tim mình. Hình ảnh trái tim run như chiếc lá sau trận gió rất đơn sơ, lại đúng với điều ai cũng từng trải qua: khi một bản nhạc hay vừa tắt, căn phòng bỗng lặng hẳn và lồng ngực ta vẫn còn rung. Cái “huyền diệu” vì thế không thuộc về khúc nhạc mà thuộc về người nghe, về khả năng rung động còn sót lại sau khi mọi thứ đã qua. Đọc bài thơ, tôi hiểu thêm lời Hoài Thanh về cái tôi Thơ mới: nó muốn cảm nhận đời bằng tất cả giác quan, và trân trọng cả những khoảnh khắc mong manh nhất.
2. Viết (trang 157)
Viết (trang 157): Chọn một trong bốn đề
Đề 1. Để tạo nên thành công của một tác phẩm truyện, việc tác giả chọn được điểm nhìn độc đáo về đối tượng miêu tả, thể hiện giữ vai trò rất quan trọng. Hãy chọn phân tích một truyện mà bạn cho là có điểm nhìn độc đáo.
Đề 2. Giới thiệu và phân tích một bài thơ mà bạn cho là có cấu tứ độc đáo.
Đề 3. Trình bày ý kiến của bạn về một vấn đề xã hội đang được nhiều người quan tâm và khiến bạn thực sự thấy trăn trở.
Đề 4. Lập đề cương cho báo cáo nghiên cứu về một vấn đề bạn muốn tìm hiểu và có điều kiện thu thập tài liệu.
Gợi ý: bốn đề ứng với bốn kiểu bài đã học, nên chọn đề nào thì mở lại phần Viết của bài tương ứng.
- Đề 1 (kiểu bài của Bài 1): nên chọn truyện có điểm nhìn dễ chỉ ra. Chí Phèo là lựa chọn tốt vì điểm nhìn chuyển liên tục giữa người kể và nhân vật; Cải ơi! cũng thú vị vì câu chuyện đi theo cảm nhận của một người cha già. Thân bài cần hai, ba luận điểm: điểm nhìn chính là gì; nó thay đổi ở đâu; nhờ vậy truyện đạt được hiệu quả gì.
- Đề 2 (Bài 2): ngoài các bài trong sách, có thể chọn bài thơ ngoài chương trình. Cần gọi tên được cấu tứ bằng một câu (ví dụ đối lập giữa thời gian trôi đi và những gì còn lại, với Thời gian của Văn Cao), rồi chỉ ra hình ảnh nào chở cấu tứ ấy.
- Đề 3 (Bài 3, Bài 4): chọn vấn đề em có trải nghiệm thật, ví dụ áp lực học thêm, bạo lực học đường trên mạng; bố cục: nêu vấn đề – giải thích – thực trạng, nguyên nhân – ý kiến riêng và phản biện – giải pháp.
- Đề 4 (Bài 5): đề cương báo cáo gồm tên đề tài, lí do, mục đích, phương pháp (khảo sát, phỏng vấn, đọc tài liệu), dự kiến kết quả, danh mục tài liệu tham khảo.
3. Nói và nghe (trang 157)
Nói và nghe (trang 157): Chọn một trong ba nội dung
Nội dung 1. Giới thiệu một tác phẩm truyện nổi tiếng đang được giới trẻ quan tâm tìm đọc.
Nội dung 2. Có những tác phẩm nghệ thuật nào từng để lại ấn tượng sâu sắc với bạn? Hãy nói về tác phẩm ấy.
Nội dung 3. Thảo luận về cách thực hành “lối sống xanh”.
Gợi ý: nhóm chọn một nội dung rồi chia việc. Nội dung 1 và 2 dùng lại cách làm của bài giới thiệu tác phẩm (Bài 1, Bài 2): thông tin chính, lí do chọn, hai ba điểm đặc sắc, cảm nhận riêng, câu hỏi gợi tương tác. Nội dung 3 là thảo luận: mỗi bạn chuẩn bị một việc làm cụ thể (mang bình nước, đi xe đạp, phân loại rác), nêu lợi ích, khó khăn và cách vượt qua; người điều phối tổng hợp thành một danh sách hành động của lớp.
Hệ thống văn bản đã học ở học kì I Ngữ văn 11 Kết nối tri thức
Mỗi bài gom thành một hàng để thấy điểm chung của các văn bản cùng thể loại; bấm vào tên văn bản để mở bài soạn.
| Bài | Văn bản đọc chính – tác giả | Thể loại | Điểm chung về nội dung | Điều cần nhớ khi đọc |
|---|---|---|---|---|
| 1. Câu chuyện và điểm nhìn trong truyện kể | Vợ nhặt – Kim Lân; Chí Phèo – Nam Cao | Truyện ngắn hiện đại | Số phận người nông dân nghèo trước Cách mạng: Tràng nhặt được vợ giữa nạn đói 1945, Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người lương thiện; cả hai truyện đều tin vào phần người tốt đẹp còn lại. | Điểm nhìn chuyển giữa người kể và nhân vật; tình huống truyện độc đáo; lời nửa trực tiếp. |
| 2. Cấu tứ và hình ảnh trong thơ trữ tình | Nhớ đồng – Tố Hữu; Tràng giang – Huy Cận; Con đường mùa đông – Pu-skin | Thơ trữ tình | Nỗi nhớ, nỗi cô đơn của cái tôi trước không gian: người tù nhớ đồng quê, người đứng trước sông dài nhớ nhà, kẻ lữ hành trên đường tuyết. | Gọi tên cấu tứ; xem hình ảnh nào được lặp lại, hình ảnh nào mở ra tầng nghĩa. |
| 3. Cấu trúc của văn bản nghị luận | Cầu hiền chiếu – Ngô Thì Nhậm; Tôi có một ước mơ – Mác-tin Lu-thơ Kinh; Một thời đại trong thi ca – Hoài Thanh | Nghị luận (chiếu, diễn văn, tiểu luận phê bình) | Ba vấn đề lớn của ba thời: chiêu mộ người tài cho triều đại mới, quyền bình đẳng của người da màu, tinh thần thơ mới. | Vẽ được sơ đồ luận đề – luận điểm – lí lẽ, bằng chứng; chú ý đối tượng hướng tới và giọng điệu. |
| 4. Tự sự trong truyện thơ dân gian và trong thơ trữ tình | Lời tiễn dặn – truyện thơ dân tộc Thái; Dương phụ hành – Cao Bá Quát; Thuyền và biển – Xuân Quỳnh | Truyện thơ dân gian; thơ trữ tình có yếu tố tự sự | Tình yêu và khát vọng gắn bó: lời chàng trai dặn người yêu bị ép gả, cảnh người thiếu phụ phương Tây trên tàu gợi suy tư của nhà thơ, câu chuyện thuyền và biển nói về tình yêu đôi lứa. | Phân biệt câu chuyện là xương sống (truyện thơ) với câu chuyện làm khung cho cảm xúc (thơ trữ tình). |
| 5. Nhân vật và xung đột trong bi kịch | Sống, hay không sống – đó là vấn đề – Sếch-xpia; Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài – Nguyễn Huy Tưởng | Bi kịch | Con người có khát vọng lớn đứng trước lựa chọn sinh tử: Hăm-lét giằng xé giữa hành động và chịu đựng; Vũ Như Tô say mê cái đẹp nhưng xa rời đời sống nhân dân. | Tìm xung đột chính, xem nhân vật lựa chọn gì; đọc kĩ độc thoại và đối thoại. |
Văn bản thực hành đọc (mục Củng cố, mở rộng): Cải ơi! (Nguyễn Ngọc Tư) – Bài 1; Thời gian (Văn Cao) – Bài 2; Tiếp xúc với tác phẩm (Thái Bá Vân) – Bài 3; Nàng Ờm nhắn nhủ (truyện thơ dân tộc Mường) – Bài 4; Prô-mê-tê bị xiềng (Ét-sin) – Bài 5. Đây là nguồn ngữ liệu “mới” sát nhất với đề kiểm tra, nên đọc lại ít nhất một lần.
Đề kiểm tra cuối học kì I tham khảo (tự soạn, có đáp án)
Đề gồm hai phần đọc hiểu và viết, làm trong 90 phút. Ngữ liệu là một đoạn tản văn tự viết, cùng kiểu với văn bản mới mà đề kiểm tra hay chọn.
I. Đọc hiểu (4 điểm)
Đọc đoạn tản văn sau:
Mưa phùn tháng Hai không làm ướt áo ai, chỉ đủ làm mềm đi những gì cứng cỏi. Hàng rào dâm bụt đầu ngõ nhà tôi sáng nào cũng rịn những hạt nước li ti, nhỏ đến mức phải nghiêng đầu nhìn ngược sáng mới thấy. Mẹ bảo mưa này là mưa cho mạ, cho rau, cho cái cây nào đang định nhú lộc. Tôi thì thấy nó giống một lời thì thầm: không ai nghe rõ, nhưng cả khu vườn đều hiểu.
Hồi nhỏ, tôi ghét mưa phùn. Đường đến trường nhão nhoét, đôi dép nhựa dính bùn kêu lép nhép, tóc lúc nào cũng ẩm. Lớn lên, đi học xa, ở một thành phố nắng quanh năm, tôi mới biết mình nhớ cái ẩm ấy đến thế nào. Nhớ mùi đất ngai ngái bốc lên từ luống cải, nhớ tiếng bà lụi cụi quét sân dù sân chẳng có gì để quét, nhớ cả cái cảm giác cuộn trong chăn lúc năm giờ sáng, nghe mưa rây lên mái ngói mà không cần mở mắt cũng biết trời đang sang xuân.
Có những thứ phải mất đi rồi người ta mới gọi được tên. Mưa phùn với tôi là một thứ như thế. Nó không ồn ào như mưa rào tháng Sáu, không sụt sùi như mưa ngâu tháng Bảy. Nó chỉ lặng lẽ có mặt, lặng lẽ làm cho cây cối xanh hơn, rồi lặng lẽ tạnh lúc nào không ai hay. Giống như cách những người thương ta vẫn thường thương ta: không nói ra, chỉ để lại dấu vết trên những chồi non.
(Văn VN)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn văn và cho biết người viết bộc lộ cái tôi ở ngôi nào.
Câu 2. Đoạn thứ hai được kể từ điểm nhìn thời gian nào? Chỉ ra từ ngữ cho thấy sự dịch chuyển điểm nhìn ấy.
Câu 3. Nêu tác dụng của phép so sánh trong câu: Tôi thì thấy nó giống một lời thì thầm: không ai nghe rõ, nhưng cả khu vườn đều hiểu.
Câu 4. Chỉ ra và nêu hiệu quả của phép lặp cấu trúc trong câu: Nó chỉ lặng lẽ có mặt, lặng lẽ làm cho cây cối xanh hơn, rồi lặng lẽ tạnh lúc nào không ai hay.
Câu 5. Câu sau mắc lỗi gì về thành phần câu? Hãy sửa lại: Qua đoạn tản văn cho thấy tình yêu của tác giả với những điều bình dị.
Câu 6. Em hiểu thế nào về câu Có những thứ phải mất đi rồi người ta mới gọi được tên? Trả lời trong 5–7 dòng.
II. Viết (6 điểm)
Từ ý tưởng của đoạn tản văn trên, hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về việc trân trọng những điều bình dị trong cuộc sống quanh mình.
Đáp án và hướng dẫn chấm
| Câu | Đáp án / gợi ý | Điểm |
|---|---|---|
| 1 | Biểu cảm (kết hợp miêu tả, tự sự). Cái tôi bộc lộ trực tiếp ở ngôi thứ nhất, xưng “tôi”. | 0,5 |
| 2 | Điểm nhìn từ hiện tại nhìn về quá khứ: “Hồi nhỏ” (quá khứ, ghét mưa) chuyển sang “Lớn lên, đi học xa” (hiện tại, nhớ mưa). Sự dịch chuyển cho thấy tình cảm thay đổi theo thời gian và khoảng cách. | 0,5 |
| 3 | So sánh mưa phùn với lời thì thầm: làm nổi bật sự nhỏ nhẹ, kín đáo của mưa; nhân hoá khu vườn biết “hiểu”, gợi mối giao cảm giữa mưa và cây cối; câu văn giàu chất thơ. | 0,75 |
| 4 | Lặp cấu trúc lặng lẽ + hành động ba lần. Nhấn mạnh vẻ âm thầm, bền bỉ của mưa phùn; tạo nhịp chậm rãi, đều đặn như chính cơn mưa; chuẩn bị cho phép so sánh với tình thương thầm lặng ở câu sau. | 0,75 |
| 5 | Câu thiếu chủ ngữ (cụm “Qua đoạn tản văn” là trạng ngữ). Sửa: bỏ “Qua” (Đoạn tản văn cho thấy…) hoặc bỏ “cho thấy” và thêm chủ ngữ (Qua đoạn tản văn, tác giả bộc lộ…). | 0,75 |
| 6 | Nêu được: con người thường vô tâm với những gì quen thuộc, luôn có sẵn; chỉ khi xa cách, mất đi mới nhận ra giá trị và gọi được tên tình cảm của mình. Liên hệ: trân trọng người thân, kỉ niệm, quê nhà khi còn ở bên. | 0,75 |
| Viết | Đúng kiểu bài nghị luận xã hội, bố cục rõ (0,5). Giải thích “điều bình dị” (0,5). Bàn luận: vì sao dễ bị bỏ qua, giá trị của chúng với đời sống tinh thần, dẫn chứng cụ thể từ đời sống (2,5). Phản biện ý kiến coi điều bình dị là tầm thường, phải hướng tới cái lớn lao (1,0). Bài học, hành động của bản thân (0,5). Diễn đạt, chính tả (0,5); sáng tạo (0,5). | 6,0 |
Lưu ý khi ôn tập học kì I Ngữ văn 11 Kết nối tri thức
- Đề kiểm tra thường lấy văn bản ngoài sách nhưng cùng thể loại với năm bài. Ôn theo câu hỏi: đọc thể loại này thì nhìn vào đâu? truyện – điểm nhìn, người kể; thơ – cấu tứ, hình ảnh; nghị luận – luận đề, luận điểm; truyện thơ – cốt truyện và lời nhân vật; bi kịch – xung đột, lựa chọn của nhân vật.
- Câu hỏi tiếng Việt hay rơi vào ba điểm: nhận ra khẩu ngữ trong lời nhân vật, giải thích một kết hợp từ lạ trong thơ, sửa câu thiếu chủ ngữ. Mỗi điểm làm thử ba, bốn ví dụ là đủ.
- Phần viết dễ ra nghị luận xã hội hoặc nghị luận về một đoạn thơ, đoạn truyện. Chuẩn bị sẵn một dàn ý khung cho mỗi kiểu và vài dẫn chứng đời sống em hiểu thật.
- Bài thơ Huyền diệu ở phần luyện tập là mẫu tốt để tập đọc một văn bản lạ: đọc nhan đề, đề từ, tìm từ khoá lặp lại, rồi mới đi vào từng hình ảnh.
Xem thêm: