Phong cách sáng tác của Thế Lữ lãng mạn, giàu cảm xúc và chứa nhiều ẩn ý. Thơ chỉ chiếm chừng năm năm trong đời ông, nhưng chính những bài thơ ấy đã giúp Thơ mới thắng thế trong cuộc tranh luận với thơ cũ đầu những năm 1930, và mở đường cho cả một thế hệ thi sĩ.
Phong cách sáng tác của Thế Lữ là gì?
Phong cách nghệ thuật của Thế Lữ có những cách tân táo bạo dù chưa thoát hẳn lối diễn đạt ước lệ của thơ cổ điển. Thơ ông dồi dào cảm xúc, lãng mạn, mang một cái tôi khao khát tự do, chán ghét thực tại tầm thường và say mê cái đẹp. Trong Nhớ rừng, người đọc thời ấy nghe ra qua tiếng lòng con hổ trong vườn bách thú nỗi ngột ngạt của cả một lớp thanh niên trí thức; còn ở Tiếng sáo Thiên Thai, Cây đàn muôn điệu là một tâm hồn mơ mộng, thích thoát lên cõi tiên, cõi mộng.
Khác với thơ cổ điển hàm súc, cô đọng, thơ Thế Lữ diễn đạt tràn đầy, khúc chiết: câu thơ dài, nhiều từ nối, nhiều dấu câu, nhiều câu hỏi tu từ, có chỗ ý thơ tràn từ dòng này sang dòng khác. Nhớ rừng viết theo thể thơ tám chữ, một thể còn mới mẻ lúc bấy giờ, và có những câu đẹp như tranh:
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

Vì sao Thế Lữ được coi là người mở đường cho Thơ mới?
Người khởi xướng phong trào Thơ mới thường được ghi là Phan Khôi, với bài Tình già (1932). Nhưng phải đến những bài thơ của Thế Lữ, in trong tập Mấy vần thơ (1935), thơ mới mới có những tác phẩm đủ sức thuyết phục người đọc. Ông không bênh vực thơ mới bằng lý lẽ mà bằng chính tác phẩm của mình.
Những cách tân về thể thơ, nhịp điệu và cách dùng chữ ấy, dù có chỗ chưa thật nhuần nhuyễn, đã mở đường cho bút pháp của nhiều nhà thơ đến sau.
Ông còn là người nâng đỡ lớp sau. Những năm 1936 – 1937, Thế Lữ nhiệt tình giới thiệu Xuân Diệu trên báo của Tự Lực văn đoàn; rồi từ năm 1937, ông chuyển hẳn sang sân khấu kịch nói, nhường sân thơ cho những người trẻ. Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn gọi đó là một sự “dừng lại đúng lúc”.
Những nhận định về thơ Thế Lữ
Nhận định được dẫn nhiều nhất về Thế Lữ nằm trong chương viết về ông của Thi nhân Việt Nam (1942). Hoài Thanh nhắc lại thời thơ mới vừa ra đời, khi người ta còn cãi nhau, và cho rằng Thế Lữ thắng không phải bằng lý lẽ:
Thế Lữ chỉ lặng lẽ, chỉ điềm nhiên bước những bước vững vàng, mà trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tan vỡ.
Cũng trong chương ấy, Hoài Thanh nhận xét về cách Thế Lữ dùng chữ (sách Ngữ văn 8 cũ trích lại đoạn này):
Đọc đôi bài, nhất là bài Nhớ rừng, ta tưởng chừng thấy những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức mạnh phi thường. Thế Lữ như một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được.
Lời kết
Phong cách sáng tác của Thế Lữ mang nét đặc trưng riêng: lãng mạn, mơ mộng mà vẫn mạnh mẽ, táo bạo trong cách dùng chữ. Ông không gắn bó đến cùng với thơ, nhưng nhờ những bài thơ của ông mà thơ Việt chuyển mình rõ rệt từ cổ điển sang hiện đại. Muốn biết thêm về nửa đời trên sân khấu của ông, bạn đọc có thể xem bài giới thiệu tiểu sử Thế Lữ.
Phần hướng dẫn soạn bài Nhớ rừng bám sát các câu hỏi trước, trong và sau khi đọc của bộ Chân trời sáng tạo.