Hồi nhỏ tập xe đạp, cậu bé mắt kém vướng phải sợi dây phơi quần áo, té nhào, và từ đó bỏ hẳn xe đạp. Đó là lý do người Sài Gòn về sau quen gọi ông là “ông già đi bộ”. Sơn Nam (1926 – 2008), tên thật Phạm Minh Tài, là nhà văn, nhà báo và nhà nghiên cứu văn hóa Nam Bộ, tác giả tập truyện Hương rừng Cà Mau và những công trình như Văn minh miệt vườn, Lịch sử khẩn hoang miền Nam. Ông đi bộ suốt đời, và cũng đi gần hết đất phương Nam bằng ngòi bút.
Phạm Minh Tài, đứa trẻ ven rừng U Minh

| Tên thật | Phạm Minh Tài (giấy khai sinh bị ghi nhầm thành Phạm Minh Tày) |
| Bút danh | Sơn Nam; ngoài ra Phạm Sào Nam |
| Năm sinh – năm mất | 11/12/1926 – 13/8/2008 |
| Quê quán | Làng Đông Thái, quận An Biên, tỉnh Rạch Giá cũ (vùng đất Kiên Giang) |
| Thể loại | Truyện ngắn, truyện dài, biên khảo, tạp văn, hồi ký |
| Tác phẩm tiêu biểu | Hương rừng Cà Mau, Chim quyên xuống đất, Văn minh miệt vườn, Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Cá tính của miền Nam, Đất Gia Định xưa |
| Giải thưởng | Giải nhất cuộc thi truyện ngắn của Ủy ban Kháng chiến – hành chính Nam Bộ (1951 – 1952); giải Mai Vàng (1999, Hương rừng Cà Mau) |
| Trong SGK hiện hành | Ca nhạc ở Miệt Vườn (Ngữ văn 11 Kết nối tri thức); Hai cõi U Minh (Ngữ văn 12 Cánh diều) |
Gia đình ông, theo báo Sài Gòn Giải Phóng, vốn từ cù lao Ông Chưởng ở Long Xuyên dời xuống lập nghiệp ven rừng Cà Mau. Ông lớn lên giữa vùng đất mới khai phá, nơi theo lời chính ông kể với nhà báo Phan Hoàng, có cọp, khỉ, heo rừng, nai, và năm cây số bờ rạch toàn rừng tràm, cỏ lác, chẳng ai thèm tranh chấp. Dân quê lúc rảnh thì tụ lại uống trà, đờn ca và kể đủ thứ chuyện, kể cả chuyện ma. Những câu chuyện ấy về sau thành chất liệu cho truyện ngắn của ông.
Ông học tiểu học ở quê rồi lên Cần Thơ học trung học. Cách mạng tháng Tám nổ ra, chàng trai mười tám tuổi vào Thanh niên Tiền phong, cùng bà con giành chính quyền ở quê. Những năm chống Pháp, ông làm việc ở nhiều cơ quan kháng chiến: Hội Văn hóa cứu quốc của tỉnh, phòng Chính trị quân khu, rồi bộ phận văn nghệ thuộc Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Bộ.
Một bút danh để nhớ người vú nuôi Khmer
Cái tên Sơn Nam có từ chính quãng kháng chiến ấy. Theo lời kể được báo Thanh Niên đăng khi ông mất và Wikipedia dẫn lại, chữ “Sơn” là để tưởng nhớ người đàn bà Khmer từng nuôi ông bằng dòng sữa của mình hồi còn nhỏ, bởi Sơn vốn là một dòng họ đông người trong cộng đồng Khmer; còn chữ “Nam” nhắc ông rằng mình là con người phương Nam.
Chi tiết nhỏ ấy cho thấy một điều xuyên suốt trong văn ông: miền Tây Nam Bộ là nơi người Việt, người Khmer, người Hoa sống xen nhau, và ông nhìn vùng đất ấy bằng con mắt của người được nhiều nền văn hóa cùng nuôi lớn.
Bỏ thơ, ở lại phương Nam
Ít người biết Sơn Nam bắt đầu bằng thơ. Hai tập Lúa reo (1948) và Cho lòng em vui (1950) do Hội Văn hóa kháng chiến Kiên Giang in ở chiến khu. Đến khi thử viết văn xuôi, ông nhận ra truyện của mình hay hơn thơ, thế là thôi hẳn chuyện làm thơ. Chẳng bao lâu, vào năm 1951 – 1952, hai truyện Bên rừng cù lao Dung và Tây đầu đỏ mang về cho ông giải nhất trong cuộc thi truyện ngắn của Ủy ban Kháng chiến – hành chính Nam Bộ.
Sau Hiệp định Genève 1954, theo báo Thanh Niên, trong các nhà văn gốc Nam Bộ, chỉ mình ông nhận được lời mời của Trung ương ra miền Bắc sinh sống và sáng tác. Ông từ chối, vì biết nếu xa vùng đất của mình thì không viết được, và trở về Rạch Giá. Năm 1955, ông lên Sài Gòn viết cho các báo Nhân loại, Công lý, Ánh sáng, Tiếng chuông, Lẽ sống. Trong hai năm 1960 – 1961, ông bị chính quyền Sài Gòn giam ở Phú Lợi; được thả ra, ông lại viết báo, viết văn và khảo cứu.
Hương rừng Cà Mau
Năm 1962, nhà Phù Sa in tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau. Báo Sài Gòn Giải Phóng ghi đây là cuốn sách đưa tên Sơn Nam đến với văn đàn rộng rãi. Trả lời phỏng vấn của nhà báo Phan Hoàng, ông kể các truyện trong tập được viết từ năm 1958 – 1959, lúc những người kháng chiến cũ đang bị truy lùng, và ông muốn gợi lại hào khí thời khai hoang, mở đất, chống Pháp. Ông cũng nói nếu sách ra muộn chừng mười năm thì có khi đã bị hiểu lầm hoàn toàn.
Truyện trong tập là chuyện của những người đi mở đất ở miền rừng tràm, đồng nước cực Nam, những phận người vừa gan góc vừa cô độc giữa thiên nhiên còn hoang dã. Ông viết bằng chữ nghĩa của người miền Tây, mộc mạc mà chính xác. Bài “Thay lời tựa” của tập, theo một nhà báo từng là hàng xóm của ông viết trên báo Pháp Luật TP.HCM, là một bài thơ 28 câu về thuở tiền nhân từ miền Trung vào Nam khai phá. Sau 1975, Nhà xuất bản Trẻ in lại tập truyện lần đầu vào tháng 11/1986; năm 1999, ông nhận giải Mai Vàng cho tập 2 và 3 của bộ Hương rừng Cà Mau do nhà xuất bản này phát hành.
Người đọc yêu văn Nam Bộ sẽ thấy Hương rừng Cà Mau đứng cùng một dòng với những trang văn về vùng sông nước cực Nam của Đoàn Giỏi và, ở thế hệ sau, của Nguyễn Ngọc Tư.
Nhà Nam Bộ học
Bên cạnh truyện, Sơn Nam dành rất nhiều năm cho biên khảo. Người ta gọi ông là “ông già Nam Bộ”, “pho từ điển sống về miền Nam”, “nhà Nam Bộ học”. Một số công trình chính:
| Năm | Tác phẩm | Nội dung chính |
|---|---|---|
| 1959 | Tìm hiểu đất Hậu Giang | Đất và người miền Hậu Giang |
| 1967 | Nói về miền Nam | Tạp luận về con người, văn hóa miền Nam |
| 1970 | Văn minh miệt vườn | Đời sống, nghề vườn, thú chơi, ca nhạc ở miệt vườn |
| 1973 | Lịch sử khẩn hoang miền Nam | Quá trình người Việt khai phá đất Nam Bộ |
| 1974 | Cá tính của miền Nam | Tính cách người Nam Bộ |
| 1981 | Bến Nghé xưa; Đất Gia Định xưa | Lịch sử Sài Gòn – Gia Định |
| 1992 | Đình miễu và lễ hội dân gian miền Nam | Tín ngưỡng, lễ hội |
Ông viết biên khảo không theo lối hàn lâm. Ông đi tận nơi, hỏi chuyện người già, ghi chép lễ hội, rồi kể lại bằng giọng của người trong cuộc. Hỏi về những người viết Nam Bộ đi trước, ông nhắc Hồ Biểu Chánh, người am hiểu nông dân và viết rất dài hơi, và Phi Vân với tập phóng sự Đồng quê. Có thể thấy ông tự đặt mình nối tiếp họ.

Sơn Nam trong sách giáo khoa
Chương trình Ngữ văn 2018 chọn hai văn bản của ông, một biên khảo và một truyện:
| Văn bản | Sách – bài học | Đọc thêm trên Văn VN |
|---|---|---|
| Ca nhạc ở Miệt Vườn (trích Văn minh miệt vườn) | Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, tập 2 – Bài 8 (Cấu trúc của văn bản thông tin), thực hành đọc | Ca nhạc ở Miệt Vườn: tác giả – tác phẩm |
| Hai cõi U Minh | Ngữ văn 12 Cánh diều, tập 1 – Bài 1 (Truyện truyền kì và truyện ngắn hiện đại), phần tự đánh giá | — |
Ca nhạc ở Miệt Vườn là một văn bản thông tin: Sơn Nam kể về đờn ca tài tử, thứ ca nhạc người miệt vườn hồi ấy mê say, từ chỗ là thú chơi của người lao động đến khi thành nền móng cho cải lương, và nhắc riêng vùng Vĩnh Kim như một nơi đờn ca phát triển. Còn Hai cõi U Minh đưa học sinh về đúng vùng rừng tuổi thơ của tác giả. Học sinh lớp 10 học Đất rừng phương Nam (xem thêm soạn bài Đất rừng phương Nam) sẽ thấy hai cách kể khác nhau về cùng một miền đất.
Hồi ký, tác quyền trọn đời và quỹ học bổng
Về già, ông viết hồi ký: bộ Hồi ký Sơn Nam bốn tập in năm 2001 – 2002. Khoảng năm 2002 – 2003, Nhà xuất bản Trẻ mua tác quyền trọn đời toàn bộ tác phẩm của ông. Theo nhà thơ Phạm Sỹ Sáu được báo Thanh Niên dẫn lại, chỉ vài năm sau sách của ông đã tái bản hơn 60.000 bản. Dù vậy, số nhuận bút ấy, theo bài báo, chẳng thấm vào đâu với một ông già nghèo, nhiều bệnh mà tính lại hào phóng.
Ông mất trưa ngày 13/8/2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hai mươi năm sau hợp đồng tác quyền, năm 2023, Nhà xuất bản Trẻ cho biết đã in 22 tác phẩm của ông và dùng nhuận bút lập quỹ học bổng, từ năm 2018 dành cho học sinh Kiên Giang, quê ông. Cũng năm ấy, nhà xuất bản ra mắt hai cuốn sách mới: Đi và ghi nhớ, tập hợp 56 bài báo của ông, và Nhà văn Sơn Nam – Những góc đời riêng lạ, gồm bài viết của con gái ông, bà Đào Thúy Hằng, cùng bạn bè thân thiết.
Ngôi nhà bên kênh Bảo Định
Sau khi ông mất, con gái ông dựng một nhà lưu niệm rộng khoảng 1.500 m² bên kênh Bảo Định, xã Đạo Thạnh, ngoại ô Mỹ Tho (tỉnh Tiền Giang cũ). Đây vừa là nơi gia đình hương khói, vừa là chỗ những người yêu văn ông ghé thăm.
Đọc Sơn Nam hôm nay, người ta vẫn gặp lại một miền Tây chưa có cầu, chưa có đường nhựa, nơi người ta đi xuồng, đờn ca dưới trăng và kể chuyện ma bên bờ rạch. Ông giữ cho vùng đất ấy một bản lưu, bằng cả truyện lẫn biên khảo.