Bài soạn Sự giàu đẹp của tiếng Việt (Đặng Thai Mai) dưới đây gồm hai phần: phần Tự đánh giá cuối Bài 8 sách Ngữ văn 7 tập hai Cánh diều (trang 51 – 52), nơi văn bản được dùng làm ngữ liệu đọc hiểu, và phần câu hỏi của sách Ngữ văn 7 tập hai chương trình cũ (Bài 21, trang 37). Em học bộ sách nào thì chọn phần tương ứng; các bài học khác xem tại chuyên mục Ngữ văn lớp 7.
Tìm hiểu chung về văn bản Sự giàu đẹp của tiếng Việt
Nắm thông tin về tác giả, xuất xứ và bố cục giúp em làm tốt cả phần trắc nghiệm lẫn phần tự luận.

Tác giả Đặng Thai Mai
Đặng Thai Mai (1902 – 1984), quê ở làng Lương Điền, xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, là nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo và nhà hoạt động văn hóa lớn. Ông từng là Bộ trưởng Bộ Giáo dục (1946), Viện trưởng Viện Văn học (1959 – 1976) và được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996.
Xuất xứ, thể loại
- Xuất xứ: đoạn trích ở phần đầu bài nghiên cứu “Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc”, in lần đầu năm 1967; tên bài do người biên soạn sách đặt.
- Thể loại: văn bản nghị luận (nghị luận xã hội về ngôn ngữ), kết hợp giải thích và chứng minh.
Bố cục
- Phần 1 (từ đầu đến “qua các thời kì lịch sử”): nhận định chung về sự giàu đẹp của tiếng Việt và giải thích nhận định ấy.
- Phần 2 (phần sau): chứng minh tiếng Việt đẹp (về ngữ âm) và hay (giàu có, phong phú về từ vựng, ngữ pháp).
Soạn bài Tự đánh giá: Sự giàu đẹp của tiếng Việt (Ngữ văn 7 Cánh diều, trang 51 – 52)
Phần Tự đánh giá cuối Bài 8 gồm 9 câu trắc nghiệm và 1 câu tự luận. Với những câu mà các tài liệu tham khảo chọn đáp án khác nhau, bài có ghi chú lí do để em tự cân nhắc.
Câu 1: Đoạn trích viết về vấn đề gì? (trang 51)
Đoạn trích trên viết về vấn đề gì? A. Đánh giá của người nước ngoài về tiếng Việt; B. Tầm quan trọng của tiếng Việt; C. Sự giàu đẹp của tiếng Việt; D. Ý nghĩa của việc học tiếng Việt.
Trả lời: C. Toàn bộ đoạn trích nêu và chứng minh tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp và hay.
Câu 2: Kiểu văn bản của đoạn trích (trang 51)
Đoạn trích trên được viết theo kiểu văn bản nào? A. Miêu tả; B. Nghị luận; C. Tự sự; D. Thuyết minh.
Trả lời: B. Tác giả đưa ra ý kiến rồi dùng lí lẽ, bằng chứng để thuyết phục người đọc.
Câu 3: Mục đích chính của người viết (trang 51)
Theo em, mục đích chính của người viết đoạn trích trên là gì? A. Ca ngợi tiếng Việt của chúng ta rất giàu và rất đẹp; B. Khẳng định tầm quan trọng không thể phủ nhận của tiếng Việt; C. Khuyến khích mọi người yêu quý và học tập tiếng Việt; D. Thấy được sự giàu đẹp của tiếng Việt để thêm trân quý, tự hào.
Trả lời: A. Cả đoạn trích tập trung làm sáng tỏ và ngợi ca vẻ giàu, đẹp của tiếng Việt. Lưu ý: một số tài liệu chọn D vì xem đó là tác động mà tác giả muốn đạt tới ở người đọc; khi làm bài, em nên bám vào nội dung chính mà đoạn trích trực tiếp triển khai.
Câu 4: Bằng chứng cho ý kiến tiếng Việt đẹp về tính nhạc (trang 51)
Câu nào dưới đây là bằng chứng làm rõ cho ý kiến: Tiếng Việt rất đẹp về tính nhạc? (A. Họ không hiểu tiếng ta… ; B. Từ vựng tiếng Việt… tăng lên mỗi ngày một nhiều; C. Về phương diện này, tiếng Việt có những khả năng dồi dào…; D. Do đó, tiếng Việt có thể kể vào những thứ tiếng giàu hình tượng ngữ âm…)
Trả lời: A. Câu A nêu ấn tượng của người nước ngoài khi nghe tiếng Việt, tức là một dẫn chứng thực tế cho tính nhạc. Câu D mở đầu bằng “Do đó” nên là lời kết luận rút ra từ các dẫn chứng; một số tài liệu chọn D, nhưng xét vai trò thì D là lí lẽ khái quát hơn là bằng chứng. Hai câu B, C nói về sự giàu có của từ vựng, cú pháp, không liên quan tính nhạc.
Câu 5: Vai trò của hai câu nói về người ngoại quốc (trang 51)
Câu “Nhiều người ngoại quốc sang thăm nước ta và có dịp nghe tiếng nói của quần chúng nhân dân ta, đã có thể nhận xét rằng: tiếng Việt là một thứ tiếng giàu chất nhạc” và câu “Họ không hiểu tiếng ta, và đó là một ấn tượng, ấn tượng của người ‘nghe’ và chỉ nghe thôi” là gì trong văn bản nghị luận? A. Lí lẽ; B. Ý kiến khái quát; C. Bằng chứng; D. Vừa là lí lẽ vừa là bằng chứng.
Trả lời: D. Câu thứ nhất dẫn nhận xét của người nước ngoài (bằng chứng), câu thứ hai lí giải giá trị của nhận xét ấy (lí lẽ).
Câu 6: Vai trò của câu “Giá trị của một tiếng nói…” (trang 52)
Câu Giá trị của một tiếng nói cố nhiên không phải chỉ là câu chuyện chất nhạc đóng vai trò gì trong văn bản? A. Là bằng chứng; B. Vừa là bằng chứng, vừa là lí lẽ; C. Là lí lẽ; D. Là ý kiến chung của cả văn bản.
Trả lời: C. Đây là lí lẽ chuyển ý, mở sang việc chứng minh tiếng Việt còn hay, giàu khả năng diễn đạt.
Câu 7: Tính mạch lạc trong phần (2) (trang 52)
Tính mạch lạc trong phần (2) đoạn trích được thể hiện như thế nào? A. Có nhiều bằng chứng phong phú; B. Có những lí lẽ thuyết phục; C. Có đầy đủ lí lẽ và bằng chứng; D. Tập trung vào một chủ đề.
Trả lời: D. Theo kiến thức Bài 8, một văn bản mạch lạc khi các câu, các đoạn cùng hướng về một chủ đề chung và được sắp xếp hợp lí; phần (2) mọi lí lẽ, bằng chứng đều xoay quanh vẻ đẹp của tiếng Việt. Lưu ý: các tài liệu giải đang chọn khác nhau (A hoặc C); những phương án ấy mô tả độ phong phú của lí lẽ, bằng chứng chứ không phải bản chất của mạch lạc, em nên trao đổi thêm với thầy cô.
Câu 8: Biện pháp liên kết chủ yếu ở phần (2) (trang 52)
Biện pháp liên kết chủ yếu nào được sử dụng để liên kết văn bản ở phần (2)? A. Biện pháp lược; B. Biện pháp lặp từ vựng; C. Biện pháp thế; D. Biện pháp nối.
Trả lời: B. Trong phần (2), các câu được nối kết chủ yếu nhờ việc lặp lại những từ then chốt như “tiếng Việt”, “tiếng ta”, “nhạc”; bên cạnh đó có dùng thêm một số từ nối (như “do đó”). Lưu ý: có tài liệu chọn D (biện pháp nối); em nên xem lại văn bản trong sách để đếm các phương tiện liên kết trước khi quyết định.
Câu 9: Phần (3) khẳng định điều gì? (trang 52)
Phần (3) đoạn trích khẳng định điều gì? A. Người Việt cần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; B. Cấu tạo tiếng Việt là biểu hiện về sức sống của nó; C. Vẻ đẹp của tiếng Việt là vẻ đẹp thanh điệu; D. Sự giàu có của tiếng Việt thể hiện ở từ vựng.
Trả lời: B. Phần cuối khẳng định khả năng thích ứng, phát triển trong cấu tạo của tiếng Việt chính là bằng chứng cho sức sống của ngôn ngữ dân tộc.
Câu 10: Viết đoạn văn về vẻ đẹp của tiếng Việt (trang 52)
Trong bài thơ Tiếng Việt, nhà thơ Lưu Quang Vũ viết: “Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát / Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh / Như gió nước không thể nào nắm bắt / Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh”. Đoạn thơ trên muốn nói về vẻ đẹp gì của tiếng Việt? Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 7 – 8 dòng) nêu lên suy nghĩ của mình về vẻ đẹp ấy.
Trả lời:
Đoạn thơ nói về vẻ đẹp nhạc điệu của tiếng Việt. Đoạn văn tham khảo:
Tiếng Việt đẹp trước hết ở chất nhạc. Chỉ với sáu thanh điệu, người Việt có thể khiến lời nói lúc trầm lúc bổng, lúc nhẹ như gió thoảng, lúc vang như tiếng chuông. Khi mẹ gọi con, khi bà ru cháu, khi bạn bè trò chuyện, câu nói bình thường cũng mang âm hưởng của một khúc hát. Có lẽ vì thế mà ca dao, dân ca và thơ lục bát dễ đi vào lòng người đến vậy. Là người Việt, em thấy tự hào về vẻ đẹp ấy và tự nhắc mình phải nói, viết tiếng Việt cho đúng, cho hay, để giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ.
Soạn bài Sự giàu đẹp của tiếng Việt theo sách Ngữ văn 7 cũ (trang 37)
Các trang giải hiện không chép nguyên văn đề của phần này, nên dưới mỗi câu bài nêu yêu cầu chính của câu hỏi theo nội dung lời giải của các tài liệu.
Câu 1: Bố cục và ý chính của bài văn (trang 37)
Yêu cầu: tìm bố cục của bài văn, nêu ý chính của từng phần.
Trả lời:
Bài văn có hai phần. Phần đầu nêu nhận định khái quát: tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay, kèm lời giải thích. Phần sau chứng minh vẻ đẹp (về âm thanh) và cái hay (sự giàu có, phong phú về từ vựng, cú pháp) của tiếng Việt, coi đó là chứng cứ cho sức sống của tiếng nói dân tộc. Vì là đoạn trích nên bố cục chưa có phần kết luận hoàn chỉnh.
Câu 2: Nhận định về tiếng Việt được giải thích ra sao (trang 37)
Yêu cầu: chỉ ra nhận định của tác giả về phẩm chất của tiếng Việt và cách nhận định ấy được giải thích.
Trả lời:
Nhận định trung tâm là: tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay. Tác giả giải thích bằng hai vế: tiếng Việt hài hòa về âm hưởng, thanh điệu, uyển chuyển trong cách đặt câu (đó là cái đẹp); và tiếng Việt diễn đạt được mọi cung bậc tình cảm, tư tưởng, theo kịp đời sống văn hóa của người Việt qua từng thời kì (đó là cái hay). Cấu trúc nói thế có nghĩa là… được lặp lại giúp lời giải thích rõ ràng, có nhịp điệu.
Câu 3: Chứng cứ về vẻ đẹp của tiếng Việt (trang 37)
Yêu cầu: nêu những chứng cứ tác giả đưa ra để chứng minh tiếng Việt đẹp và cách sắp xếp chứng cứ.
Trả lời:
- Ấn tượng của người nước ngoài: dù không hiểu nghĩa, họ vẫn thấy tiếng Việt giàu chất nhạc.
- Nhận xét của một giáo sĩ nước ngoài am hiểu tiếng Việt về sự rành mạch, uyển chuyển, ngon lành của tiếng ta.
- Đặc điểm ngữ âm: hệ thống nguyên âm, phụ âm phong phú, giàu thanh điệu, khiến tiếng Việt giàu hình tượng ngữ âm như những âm giai trong bản nhạc.
Chứng cứ được sắp xếp từ cảm nhận bên ngoài (người nghe) đến phân tích bên trong (cấu tạo ngữ âm), đi từ cái chung tới cái riêng.
Câu 4: Chứng cứ về sự giàu có, phong phú của tiếng Việt (trang 37)
Yêu cầu: chỉ ra các phương diện thể hiện sự giàu có và khả năng phong phú của tiếng Việt.
Trả lời:
- Về từ vựng: từ ngữ tăng lên không ngừng qua các thời kì, đủ để diễn đạt những tư tưởng, tình cảm mới.
- Về ngữ pháp, cú pháp: câu văn mềm mại, cân xứng, có nhịp, ngày càng chặt chẽ, chính xác.
- Về khả năng: tiếng Việt đáp ứng được việc giao tiếp, sáng tác văn chương, diễn đạt khoa học của đời sống hiện đại.
Câu 5: Điểm nổi bật trong nghệ thuật nghị luận (trang 37)
Yêu cầu: nêu những nét nổi bật trong nghệ thuật nghị luận của bài văn.
Trả lời:
- Bố cục chặt chẽ: nêu nhận định, giải thích, rồi chứng minh.
- Kết hợp giải thích với chứng minh và bình luận; lí lẽ sắc sảo, dẫn chứng bao quát nhiều phương diện (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp).
- Câu văn dài nhưng mạch lạc, nhiều thuật ngữ ngôn ngữ học được dùng chính xác; giọng văn khách quan mà vẫn thấm niềm tự hào.
Câu 1 (Luyện tập): Sưu tầm ý kiến về sự giàu đẹp của tiếng Việt (trang 37)
Sưu tầm, ghi lại những ý kiến nói về sự giàu đẹp, phong phú của tiếng Việt và nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Trả lời: (gợi ý)
Em có thể tìm trong các bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng (bài Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt), các nhà ngôn ngữ học và nhà văn. Khi ghi lại, em chép đúng câu và ghi rõ tác giả, nguồn; có thể sắp xếp thành hai nhóm: ý kiến về vẻ đẹp, sự giàu có của tiếng Việt và ý kiến về trách nhiệm giữ gìn tiếng Việt.
Câu 2 (Luyện tập): Tìm 5 dẫn chứng về sự giàu đẹp của tiếng Việt (trang 37)
Tìm 5 dẫn chứng thể hiện sự giàu đẹp của tiếng Việt về ngữ âm, từ vựng trong các bài văn, thơ đã học hoặc đọc thêm ở các lớp 6, 7.
Trả lời: (gợi ý)
- Các câu ca dao giàu nhạc điệu nhờ phối thanh bằng – trắc và vần lưng, vần chân.
- Từ láy gợi hình, gợi âm trong Qua Đèo Ngang (Bà Huyện Thanh Quan) như “lom khom”, “lác đác”.
- Lớp từ chỉ màu xanh tinh tế trong Sông nước Cà Mau (xanh lá mạ, xanh rêu, xanh chai lọ).
- Cách dùng động từ chính xác trong Vượt thác khi tả dượng Hương Thư chống sào.
- Nhịp điệu, điệp ngữ trong các trang tùy bút như Mùa xuân của tôi, Sài Gòn tôi yêu.
Kết luận
Soạn bài Sự giàu đẹp của tiếng Việt, em cần nắm luận điểm tiếng Việt vừa đẹp vừa hay, các chứng cứ về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và nghệ thuật lập luận chặt chẽ của Đặng Thai Mai. Với phần Tự đánh giá Cánh diều, hãy chú ý phân biệt lí lẽ – bằng chứng và các phương tiện liên kết, mạch lạc trong văn bản nghị luận.
Xem thêm: