Soạn bài Đức tính giản dị của Bác Hồ giúp em chuẩn bị bài và trả lời đủ các câu hỏi ở trang 40 – 42 thuộc Bài 8, chủ đề Nghị luận xã hội, sách Ngữ văn 7 Cánh diều tập hai. Đây là văn bản đọc thứ hai của bài học, đứng sau Tinh thần yêu nước của nhân dân ta; qua lời của Phạm Văn Đồng, em vừa hiểu thêm về con người Bác Hồ, vừa học được cách một bài nghị luận phối hợp lí lẽ với dẫn chứng.
Tìm hiểu chung về văn bản Đức tính giản dị của Bác Hồ
Trước khi trả lời câu hỏi, em nên nắm vài thông tin cơ bản về người viết, nguồn gốc và cách chia phần của văn bản.

Tác giả Phạm Văn Đồng
Nhà cách mạng Phạm Văn Đồng chào đời năm 1906 tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức (Quảng Ngãi) và mất năm 2000. Năm 1925, ông bắt đầu đi theo con đường cách mạng; ông vừa là học trò, vừa là cộng sự gắn bó lâu năm với Bác Hồ. Trong hơn ba mươi năm (1955 – 1987), ông đứng đầu Chính phủ, lần lượt ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rồi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bên cạnh hoạt động chính trị, ông để lại nhiều bài nói, bài viết bàn về giáo dục, nghệ thuật, về Bác Hồ và các danh nhân của dân tộc. Văn nghị luận của ông giàu suy nghĩ, nhiệt thành, câu chữ sáng rõ.
Xuất xứ, thể loại, bố cục
- Xuất xứ: là một đoạn trong bài diễn văn có tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh hoa và khí phách của dân tộc, lương tâm của thời đại, được Phạm Văn Đồng trình bày năm 1970, vào dịp tròn 80 năm ngày Bác ra đời. Nhan đề Đức tính giản dị của Bác Hồ là do người làm sách đặt.
- Thể loại: văn nghị luận xã hội, bàn về một phẩm chất của con người.
- Phương thức biểu đạt: chủ yếu là nghị luận, có xen biểu cảm.
- Bố cục: SGK đánh số bốn phần. Phần (1) gồm hai đoạn mở đầu, nêu vấn đề; phần (2) đưa dẫn chứng về nếp sống bình dị của Bác trong ăn ở, công việc và cách đối xử với người giúp việc; phần (3) giải thích, bình luận về bản chất lối sống ấy; phần (4) bàn về cách nói, cách viết mộc mạc của Bác.
Soạn bài Đức tính giản dị của Bác Hồ – Chuẩn bị (trang 40)
Phần chuẩn bị gồm ba yêu cầu: đọc trước và tìm hiểu tác giả, sưu tầm chuyện về Bác, giới thiệu một người sống giản dị quanh em.
Câu 1: Đọc trước văn bản, tìm hiểu tác giả (trang 40)
Đọc trước văn bản Đức tính giản dị của Bác Hồ và tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Phạm Văn Đồng.
Trả lời:
Khi đọc, em chú ý các con số (1), (2), (3), (4) đánh dấu từng phần và dấu […] cho biết có một đoạn đã được lược bớt. Về tác giả, em ghi nhớ mấy ý:
- Phạm Văn Đồng sinh năm 1906, mất năm 2000, người Quảng Ngãi.
- Bắt đầu hoạt động cách mạng năm 1925; ông từng bị thực dân Pháp bắt giam nhiều năm, ra tù năm 1936.
- Là Thủ tướng lâu năm nhất của nước ta (1955 – 1987), gần gũi với Bác Hồ trong nhiều chục năm, nên hiểu Bác rất sâu.
- Ông viết nhiều về Bác và về văn hóa dân tộc; trang văn nghị luận của ông vừa có chiều sâu tư tưởng vừa thấm đượm cảm xúc.
Câu 2: Sưu tầm mẩu chuyện về đức tính giản dị của Bác (trang 40)
Sưu tầm một số mẩu chuyện về đức tính giản dị của Bác Hồ.
Trả lời:
Em có thể kể lại một trong các mẩu chuyện quen thuộc sau.
Đôi dép cao su. Từ những năm kháng chiến ở Việt Bắc, Bác dùng một đôi dép cắt từ lốp xe ô tô cũ. Đôi dép theo Bác qua bao chặng đường, đứt quai thì Bác cho đóng đinh sửa lại chứ không chịu thay. Có lần đi thăm nước bạn, anh em cảnh vệ định đổi cho Bác một đôi giày mới, Bác vẫn đòi lại đôi dép cũ và giải thích rằng nhân dân còn nhiều khó khăn, mình đi dép mà sạch sẽ, gọn gàng thì vẫn lịch sự. Đôi dép ấy về sau trở thành một hình ảnh quen thuộc gắn liền với Bác.
Bát cháo nấu bằng cơm nguội. Một tối ở chiến khu, Bác đi làm việc ở xa về đã khuya, mệt nên không muốn ăn cơm. Người bảo vệ dặn nhà bếp nấu riêng cho Bác bát cháo. Nghe thấy, Bác dặn lại: cứ lấy cơm nguội mà nấu, vừa nhanh chín vừa đỡ tốn gạo, lại không phí phần cơm còn thừa. Một lời dặn nhỏ cho thấy Bác quý từng hạt gạo của dân và không muốn ai vì mình mà bày vẽ.
Câu 3: Giới thiệu một người có lối sống giản dị (trang 40)
Trong cuộc sống hằng ngày, em đã gặp được một người có lối sống giản dị chưa? Hãy chuẩn bị giới thiệu về một người có lối sống giản dị mà em biết (ông, bà, bố, mẹ hoặc thầy giáo, cô giáo, bạn bè cùng lớp…).
Trả lời:
Bài nói tham khảo: Người sống giản dị nhất mà em biết là ông nội em, một thầy giáo dạy Toán đã nghỉ hưu. Tủ quần áo của ông chỉ có vài bộ, chiếc áo sơ mi trắng ông mặc đi họp lớp cũ đã gần mười năm mà vẫn phẳng phiu vì ông giữ gìn cẩn thận. Chiếc xe đạp cũ ông lau dầu mỗi tuần, đi chợ hay đi thăm bạn bè đều đạp xe. Bữa ăn của ông đơn giản, có đĩa rau luộc, bát canh là ông thấy ngon. Nhưng ông lại rất hào phóng với sách: lương hưu tháng nào ông cũng dành một khoản mua sách cho các cháu. Ông nói chuyện nhỏ nhẹ, dễ hiểu, với ai cũng niềm nở. Nhìn ông, em hiểu giản dị chẳng phải là thiếu thốn, mà là biết điều gì thật sự cần cho mình.
Soạn bài Đức tính giản dị của Bác Hồ – Đọc hiểu: câu hỏi trong khi đọc (trang 40 – 41)
Bốn câu hỏi bên lề văn bản giúp em theo dõi mạch lập luận qua từng phần.
Câu 1: Cách nêu vấn đề ở phần (1) (trang 40)
Phần (1) nêu vấn đề trực tiếp hay gián tiếp? Câu nào chứa đựng thông tin chính?
Trả lời:
- Phần (1) trực tiếp đặt ra vấn đề: ngay câu mở đầu, tác giả nói thẳng điều cần làm nổi bật mà không dẫn dắt vòng vo.
- Thông tin chính nằm ở câu đầu tiên: cần làm rõ sự nhất quán giữa “đời hoạt động chính trị lay trời chuyển đất” và đời thường “vô cùng giản dị và khiêm tốn” của Hồ Chủ tịch.
- Câu thứ hai bổ sung, mở rộng: suốt sáu mươi năm sóng gió, ở trong nước hay ngoài nước, Bác vẫn giữ trọn phẩm chất của người chiến sĩ cách mạng.
Câu 2: Lí lẽ và dẫn chứng trong phần (2) (trang 40)
Lí lẽ được dùng kết hợp với dẫn chứng trong phần (2) như thế nào?
Trả lời:
Ở phần (2), tác giả nêu một nhận định chung rồi đưa dẫn chứng; xen giữa các dẫn chứng là những câu bình, rút ra ý nghĩa. Lí lẽ và dẫn chứng đi liền nhau, cái này soi sáng cái kia.
| Lí lẽ | Dẫn chứng |
|---|---|
| Ai cũng biết Bác giản dị ở “bữa cơm, đồ dùng, cái nhà, lối sống”. | Mỗi bữa dăm món đơn sơ; Bác ăn không rơi vãi, ăn xong bát sạch, thức ăn thừa được xếp gọn. |
| Việc nhỏ ấy cho thấy Bác quý sản phẩm lao động và nể trọng người phục vụ. | (Lời bình rút ra ngay sau dẫn chứng về bữa cơm.) |
| Nơi ở đơn sơ mà vẫn “thanh bạch và tao nhã biết bao”. | Ngôi nhà sàn chỉ vài phòng, lúc nào cũng thoáng gió, đầy ánh sáng, có hương hoa trong vườn. |
| Bác làm việc không nghỉ, việc lớn việc nhỏ đều tự tay lo. | Từ cứu nước, cứu dân đến trồng cây, viết thư cho đồng chí, trò chuyện với thiếu nhi miền Nam, thăm khu tập thể công nhân. |
| Việc gì làm được thì Bác không cần người giúp. | Người phục vụ quanh Bác rất ít; Bác đặt cho họ những cái tên ghép thành khẩu hiệu Trường kì kháng chiến nhất định thắng lợi. |
Câu 3: Phần (3) nêu lí lẽ hay bằng chứng? (trang 41)
Phần (3) nêu lí lẽ hay bằng chứng?
Trả lời:
Phần (3) chủ yếu nêu lí lẽ. Tác giả không kể thêm sự việc nào mà giải thích, bình luận để người đọc hiểu đúng: Bác không sống “khắc khổ theo lối nhà tu hành”, cũng không phải người ẩn dật xa đời. Bác chọn lối sống thanh bạch vì gắn bó với cuộc sống và cuộc đấu tranh vất vả của nhân dân. Từ đó, tác giả khẳng định đời sống vật chất đơn sơ của Bác đi cùng một tâm hồn phong phú, giàu tư tưởng và tình cảm đẹp – một lối sống văn minh mà Bác nêu gương cho thế giới.
Câu 4: Vấn đề được nêu trong phần (4) (trang 41)
Tác giả nêu lên vấn đề gì trong phần (4)?
Trả lời:
Phần (4) nêu vấn đề: Bác Hồ giản dị cả khi nói và khi viết. Bác nói, viết giản dị để quần chúng “hiểu được, nhớ được, làm được”. Tác giả dẫn những câu Bác nói mà ai cũng thuộc, chẳng hạn “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”, để chứng minh rằng chân lí lớn thường rất giản dị, và khi đi vào lòng người thì trở thành sức mạnh to lớn.
Soạn bài Đức tính giản dị của Bác Hồ – Đọc hiểu: câu hỏi sau khi đọc (trang 42)
Sáu câu hỏi cuối bài giúp em khái quát vấn đề, bố cục và nghệ thuật nghị luận, rồi liên hệ với bản thân.
Câu 1: Vấn đề chính và các phương diện được làm sáng tỏ (trang 42)
Vấn đề chính mà tác giả Phạm Văn Đồng nêu lên trong văn bản Đức tính giản dị của Bác Hồ là gì? Người viết đã làm sáng tỏ vấn đề đó từ những phương diện nào trong đời sống và con người của Bác?
Trả lời:
- Vấn đề chính: Bác Hồ sống giản dị; điều này hiện ra qua sự thống nhất giữa một cuộc đời làm chính trị lớn lao với nếp sống hằng ngày rất bình dị, khiêm nhường.
- Các phương diện được làm sáng tỏ:
- Sinh hoạt hằng ngày: bữa ăn, đồ dùng, nơi ở.
- Cách làm việc, cách đối xử với người khác: tự làm mọi việc có thể, ít người phục vụ, quý trọng người giúp việc.
- Đời sống tinh thần: vật chất đơn sơ nhưng tâm hồn phong phú.
- Lời nói, bài viết: ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, chứa chân lí lớn.
Câu 2: Trình tự triển khai nội dung và bố cục (trang 42)
Chỉ ra trình tự triển khai nội dung, từ đó, nêu bố cục của văn bản.
Trả lời:
Trình tự triển khai: nêu vấn đề → chứng minh bằng lí lẽ kèm dẫn chứng về đời sống, công việc → giải thích, bình luận để hiểu đúng bản chất → mở rộng sang lời nói, bài viết và khẳng định sức mạnh của sự giản dị. Các ý đi từ chung đến cụ thể, từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần.
Bố cục: có thể chia ba phần lớn:
- Mở bài – phần (1): nêu vấn đề, khẳng định đời hoạt động cách mạng và nếp sống giản dị ở Bác là một.
- Thân bài – phần (2) và (3): đưa dẫn chứng về nếp sinh hoạt, công việc; giải thích, bình luận về lối sống ấy.
- Kết bài – phần (4): nâng vấn đề lên ở lời nói, bài viết và nêu sức mạnh của những chân lí giản dị.
Câu 3: Cách viết nghị luận ở phần (2) (trang 42)
Nhận xét về cách viết nghị luận của tác giả ở phần (2). Điều gì làm nên sức thuyết phục của phần này?
Trả lời:
- Cách viết: tác giả đi từ nhận định khái quát đến các dẫn chứng cụ thể, sắp xếp theo từng mặt (ăn, ở, làm việc, đối xử với người giúp việc). Sau mỗi dẫn chứng là một câu bình ngắn hoặc một câu cảm thán, khiến đoạn văn vừa chặt chẽ vừa có cảm xúc.
- Sức thuyết phục đến từ:
- Dẫn chứng có thật, tiêu biểu, nhiều người đã biết, nên ai đọc cũng tin.
- Người viết là người đã sống và làm việc nhiều năm bên Bác, tận mắt chứng kiến những điều mình kể.
- Lời bình xen kẽ giúp người đọc thấy ý nghĩa đằng sau việc nhỏ; giọng văn chân thành, kính yêu tạo nên sự đồng cảm.
Câu 4: Cách thuyết phục ở phần (4) (trang 42)
Trong phần (4), để người đọc hiểu sâu sắc hơn về đức tính giản dị của Bác và sức mạnh của phẩm chất cao quý đó, người viết đã thuyết phục như thế nào?
Trả lời:
- Tác giả nối ý bằng một câu chuyển tiếp: Bác đã sống giản dị, cư xử giản dị thì khi nói, khi viết cũng như thế – vấn đề được mở rộng một cách tự nhiên.
- Tác giả giải thích lí do: Bác muốn quần chúng “hiểu được, nhớ được, làm được”.
- Tác giả đưa dẫn chứng là những câu nói ai cũng thuộc của Bác, như “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!” và lời khẳng định non sông Việt Nam là một khối thống nhất.
- Cuối cùng, tác giả bình luận để nâng tầm vấn đề: những chân lí giản dị ấy, khi được hàng triệu người đón nhận, trở thành “sức mạnh vô địch”.
Nhờ đi từ lí do đến dẫn chứng rồi đến lời bình, người đọc hiểu rằng giản dị không làm Bác “nhỏ” đi mà chính là sức mạnh của Bác.
Câu 5: Điều tác giả khẳng định qua câu kết (trang 42)
Theo em, tác giả muốn khẳng định điều gì qua câu kết của văn bản – câu nói rằng những chân lí giản dị mà sâu sắc, khi thâm nhập vào quả tim và bộ óc của hàng triệu con người đang chờ đợi nó, thì là “sức mạnh vô địch”, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng?
Trả lời:
Qua câu kết, tác giả muốn khẳng định:
- Lời nói giản dị của Bác không hề nông cạn mà chứa những chân lí lớn của dân tộc và thời đại.
- Khi những chân lí ấy được nhân dân hiểu và tin, chúng biến thành hành động, thành ý chí chiến đấu của cả dân tộc – một sức mạnh không gì ngăn nổi.
- Vì vậy, giản dị ở Bác là một nét đẹp đạo đức lớn, có ý nghĩa to lớn với sự nghiệp cách mạng, đáng để mọi người học tập.
Câu 6: Hiểu thế nào là đức tính giản dị, cách rèn luyện (trang 42)
Qua văn bản, em hiểu như thế nào là đức tính giản dị? Em sẽ làm gì để rèn luyện đức tính ấy?
Trả lời:
Đức tính giản dị nghĩa là sống tự nhiên, không cầu kì, không phô trương: ăn mặc, nói năng, cư xử vừa phải, đúng mực, phù hợp với hoàn cảnh của mình và của mọi người xung quanh. Giản dị không phải là luộm thuộm hay keo kiệt; người giản dị vẫn sạch sẽ, gọn gàng, biết quý trọng công sức lao động, và thường có một tâm hồn giàu có. (Lưu ý chính tả: viết “giản dị”, không viết “dản dị” – xem thêm bài giản dị hay dản dị.)
Để rèn luyện đức tính này, em sẽ:
- Ăn mặc gọn gàng, hợp lứa tuổi học sinh; không chạy theo hàng hiệu, không đòi bố mẹ mua những thứ chưa cần.
- Giữ gìn sách vở, đồ dùng để dùng lâu; ăn hết phần cơm của mình, không bỏ phí.
- Tự làm những việc vừa sức: dọn phòng, giặt đồ, chuẩn bị sách vở.
- Nói năng rõ ràng, lễ phép; viết bài ngắn gọn, đúng ý, tránh khoe chữ.
- Đối xử chân thành, bình đẳng với bạn bè, không coi thường ai.
Nội dung và nghệ thuật văn bản Đức tính giản dị của Bác Hồ
Phần tổng kết giúp em ghi nhớ nhanh những ý chính sau khi soạn bài.
Nội dung
Văn bản ca ngợi sự giản dị ở Hồ Chủ tịch – Người giản dị trong ăn ở, công việc, cách đối xử với người khác, cả trong cách nói và viết. Sự giản dị ấy thống nhất với cuộc đời cách mạng vĩ đại và hòa hợp với một tâm hồn giàu có, qua đó nhắc mỗi người học tập lối sống của Bác.
Nghệ thuật
- Luận điểm rõ ràng, sắp xếp hợp lí từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần, lời nói.
- Dẫn chứng chân thực, tiêu biểu, phần nhiều do chính tác giả chứng kiến.
- Kết hợp chứng minh với lời bình và lời giải thích; lời văn giàu cảm xúc, có câu cảm thán, phép liệt kê.
Kết luận
Khi soạn bài Đức tính giản dị của Bác Hồ, em cần nắm được vấn đề nghị luận, bốn phần của văn bản và cách tác giả cho lí lẽ đi cùng dẫn chứng. Đặt cạnh văn bản của Bác Hồ học trước đó, em sẽ thấy hai bài cùng dùng phép liệt kê, dẫn chứng cụ thể để làm vấn đề trở nên gần gũi, dễ tin.
Xem thêm: