Cảm nghĩ về bài thơ Về thăm mẹ của Đinh Nam Khương là đề viết đoạn văn, bài văn quen thuộc ở Bài 2 sách Ngữ văn 6 Cánh diều, gắn với yêu cầu ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ lục bát. Chỉ với mười bốn dòng thơ, bài thơ khiến người đọc nghẹn ngào trước tình mẹ hiện lên qua những đồ vật đơn sơ của một căn nhà quê.
Bài viết gồm dàn ý và 6 bài mẫu: bài ngắn gọn, bài đầy đủ, bài học sinh giỏi, bài cảm nhận về hình ảnh người mẹ, đoạn văn ghi lại cảm nghĩ và bài cảm nhận về chi tiết trái na cuối vụ. Thơ Đinh Nam Khương còn được bảo hộ bản quyền nên các bài mẫu chỉ trích vài dòng; em xem toàn văn trong SGK và tham khảo thêm bài tác giả, tác phẩm Về thăm mẹ.
Dàn ý cảm nghĩ về bài thơ Về thăm mẹ
Dàn ý dùng cho bài văn; nếu viết đoạn văn, em chọn ý b, c và nghệ thuật.

1. Mở bài
– Giới thiệu nhà thơ Đinh Nam Khương và bài thơ Về thăm mẹ.
– Nêu cảm nghĩ chung: xúc động trước tình mẫu tử giản dị mà sâu nặng.
2. Thân bài
a. Khổ 1: người con về mà mẹ vắng nhà
+ Chiều đông, bếp nguội, mẹ không ở nhà; người con thơ thẩn ra vào.
+ Cơn mưa bất chợt như nỗi lòng chùng xuống.
⇒ Khoảng trống vắng mẹ làm người con nhớ mẹ hơn.
b. Khổ 2, 3: đồ vật gợi hình bóng mẹ
+ Chum tương mẹ đậy, nón mê, áo tơi cũ khoác người rơm, đàn gà con, cái nơm sứt.
+ Nhân hóa, ẩn dụ: đồ vật mang dáng dấp con người, gợi sự lam lũ của mẹ.
+ Trái na cuối vụ mẹ để phần con.
⇒ Mẹ tần tảo, tằn tiện, luôn nghĩ về con.
c. Khổ 4: cảm xúc của người con
+ Nghẹn ngào, rưng rưng; dấu ba chấm.
+ Thương mẹ từ những điều giản dị thường ngày.
⇒ Lòng biết ơn, thương yêu mẹ dâng trào.
d. Nghệ thuật
+ Lục bát nhịp nhàng; hình ảnh bình dị.
+ Nhân hóa, ẩn dụ, liệt kê, từ láy; nói về mẹ qua đồ vật.
3. Kết bài
– Khẳng định giá trị bài thơ.
– Liên hệ: biết ơn, quan tâm, giúp đỡ mẹ từ những việc nhỏ.
Cảm nghĩ về bài thơ Về thăm mẹ ngắn gọn – mẫu 1
Có những bài thơ viết về mẹ bằng những lời ngợi ca lớn lao. Bài thơ Về thăm mẹ của Đinh Nam Khương lại khác: nhà thơ không tả mẹ, không kể công mẹ, chỉ kể một lần về thăm nhà khi mẹ vắng. Vậy mà đọc xong, em thấy mắt mình cay cay.
Bài thơ mở ra bằng một buổi chiều đông: “Con về thăm mẹ chiều đông / Bếp chưa lên khói, mẹ không có nhà”. Căn bếp nguội lạnh, người con một mình đi ra đi vào, rồi trời đổ mưa. Không có mẹ, căn nhà trở nên trống trải lạ thường.
Nhưng rồi hình bóng mẹ hiện lên trong từng đồ vật: chum tương mẹ đã đậy kĩ, chiếc nón mê cũ, tấm áo tơi đã sờn ngắn giờ khoác lên người rơm, đàn gà con quanh chiếc nơm sứt vành. Tất cả đều cũ kĩ, đơn sơ, cho thấy mẹ đã sống tằn tiện, vất vả như thế nào. Đặc biệt, trái na cuối vụ mẹ vẫn để phần con khiến người con xúc động đến rưng rưng.
Bằng thể thơ lục bát nhẹ nhàng và những hình ảnh mộc mạc, bài thơ giúp em hiểu rằng tình mẹ nằm ngay trong những điều giản dị nhất. Em tự nhủ phải biết yêu thương, giúp đỡ mẹ nhiều hơn.
Cảm nghĩ về bài thơ Về thăm mẹ đầy đủ – mẫu 2
Mẹ là đề tài không bao giờ cũ trong thơ ca. Mỗi nhà thơ lại tìm cho mình một cách riêng để nói về mẹ. Đinh Nam Khương, trong bài thơ Về thăm mẹ in trong tuyển thơ Mẹ (2002), đã chọn cách nói gián tiếp: để những đồ vật quen thuộc của căn nhà nói thay về mẹ. Chính cách nói ấy làm bài thơ trở nên thấm thía lạ thường.
Khổ thơ đầu là cảnh người con trở về. Thời gian là chiều đông – một buổi chiều lạnh, gợi cảm giác buồn. Người con mong được gặp mẹ, nhưng căn bếp chưa đỏ lửa, mẹ không có nhà. Hình ảnh bếp lửa vốn gắn liền với người mẹ, người phụ nữ Việt Nam; bếp chưa lên khói nghĩa là mẹ còn đang bận việc ngoài đồng hay ngoài chợ. Người con thơ thẩn ra vào, rồi bất chợt trời đổ mưa. Cơn mưa ấy vừa là cảnh thực vừa như nỗi lòng người con đang chùng xuống.
Hai khổ thơ tiếp theo là những gì người con nhìn thấy. Chum tương mẹ đậy cẩn thận trước khi đi – một chi tiết nhỏ cho thấy sự chu đáo, đảm đang. Chiếc nón mê ngày trước còn “đứng”, nay đã “ngồi” dầm mưa – nghĩa là nó đã cũ, đã xẹp xuống theo năm tháng. Tấm áo tơi từng theo mẹ qua bao buổi cày bừa, giờ đã ngắn cũn, chỉ còn dùng để khoác tạm cho người rơm giữ vườn. Phép nhân hóa làm đồ vật như có dáng hình, có cuộc đời riêng; và cuộc đời của chúng chính là cuộc đời lam lũ của mẹ. Rồi đàn gà mới nở lông vàng quanh chiếc nơm sứt vành – sự sống mới vẫn được mẹ chăm chút, dù đồ đạc trong nhà đã cũ. Cuối cùng là chi tiết cảm động nhất: “Trái na cuối vụ mẹ dành phần con”. Đã cuối vụ, na đã hết, vậy mà mẹ vẫn giữ lại một trái chờ con về. Trong những thiếu thốn, mẹ vẫn luôn nghĩ đến con trước tiên.
Khổ thơ cuối chỉ có hai dòng nhưng chứa đựng tất cả cảm xúc: “Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn / Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày”. Hai từ láy “nghẹn ngào”, “rưng rưng” diễn tả nỗi xúc động dâng trào mà không nói thành lời. Dấu ba chấm sau dòng lục như một khoảng lặng, để người đọc cùng nghẹn lại với nhân vật. Người con nhận ra tình mẹ không ở đâu xa, mà ở chính những việc nhỏ nhặt hằng ngày ấy.
Thể thơ lục bát với nhịp chẵn, vần bằng làm bài thơ nhẹ nhàng như lời tâm sự. Hình ảnh thơ mộc mạc, gần gũi với làng quê. Các biện pháp nhân hóa, ẩn dụ, liệt kê và từ láy được sử dụng tự nhiên, giàu sức gợi.
Về thăm mẹ là bài thơ nhỏ mà chứa đựng tình cảm lớn. Đọc bài thơ, em nghĩ đến mẹ mình – người cũng đang ngày ngày tần tảo, chắt chiu vì con – và tự hứa sẽ ngoan ngoãn, chăm chỉ, quan tâm mẹ nhiều hơn.
Cảm nghĩ về bài thơ Về thăm mẹ học sinh giỏi – mẫu 3
Có một nghịch lí đẹp trong bài thơ Về thăm mẹ của Đinh Nam Khương: bài thơ viết về mẹ mà mẹ không hề xuất hiện. Từ đầu đến cuối, người con chỉ gặp một căn nhà vắng, một cơn mưa và những đồ vật cũ. Thế nhưng chưa bao giờ hình ảnh người mẹ lại hiện lên rõ ràng và gần gũi đến thế.
Sự vắng mặt của mẹ được báo hiệu ngay từ câu thơ thứ hai. Bếp chưa có khói – chi tiết ấy vừa cho biết mẹ chưa về, vừa gợi một không khí lạnh lẽo của buổi chiều đông. Với người con, trở về mà không có mẹ đón là một hụt hẫng. Từ láy “thơ thẩn” diễn tả dáng vẻ bâng khuâng, như người lạc lõng trong chính ngôi nhà của mình. Cơn mưa bất chợt đổ xuống như làm nỗi trống vắng thêm sâu.
Nhưng chính trong khoảng vắng ấy, người con bắt đầu “gặp” mẹ qua đồ vật. Đây là thủ pháp lấy vật để nói người rất quen trong thơ ca dân gian. Mỗi đồ vật là một mảnh của cuộc đời mẹ. Chum tương đã đậy – mẹ chu đáo. Nón mê đứng rồi ngồi, áo tơi lủn củn – mẹ vất vả qua bao mùa mưa nắng, bao buổi cày bừa. Đồ vật cũ kĩ, sứt mẻ – mẹ tằn tiện, chẳng nỡ bỏ đi thứ gì. Cách nhân hóa nón mê, áo tơi làm em có cảm giác những vật ấy cũng già đi cùng mẹ, cũng mỏi mệt như mẹ.
Đặc biệt, chi tiết trái na cuối vụ là đỉnh điểm của cảm xúc. Trái na rụng bất ngờ, như thể chính mẹ đang trao cho con. Chỉ là một trái na nhỏ, nhưng là cả tấm lòng: dù vắng mặt, mẹ vẫn chờ con, vẫn để phần con. Tình mẹ không cần lời nói, chỉ cần một hành động lặng lẽ như thế.
Hai dòng kết dồn nén mọi cảm xúc. Người con không nói lời yêu thương nào mà chỉ “nghẹn ngào”, “rưng rưng”. Và điều làm con xúc động không phải là sự hi sinh lớn lao nào mà là những việc bình thường mỗi ngày. Đó là một phát hiện sâu sắc: tình mẹ nằm trong những điều nhỏ bé đến mức ta thường không để ý.
Thể lục bát truyền thống, ngôn ngữ mộc mạc, hình ảnh thôn quê đã tạo nên một bài thơ đậm đà hồn dân tộc. Có lẽ vì thế mà bài thơ chạm tới trái tim nhiều thế hệ người đọc. Về thăm mẹ nhắc mỗi chúng ta: hãy trở về, hãy nhìn kĩ những điều giản dị quanh mình, vì ở đó có mẹ.
Cảm nhận về hình ảnh người mẹ trong bài thơ Về thăm mẹ – mẫu 4
Trong bài thơ Về thăm mẹ, người mẹ không xuất hiện trực tiếp, nhưng qua từng đồ vật, em thấy hiện lên rõ nét một người mẹ quê tảo tần, cần mẫn và hết lòng vì con.
Mẹ là người đảm đang, chu đáo. Trước khi ra đồng, mẹ đã đậy kĩ chum tương để phòng mưa. Căn nhà dù vắng chủ vẫn ngăn nắp, mọi thứ đâu vào đấy.
Mẹ là người vất vả, lam lũ. Chiếc nón mê đã cũ, xẹp xuống; tấm áo tơi theo mẹ qua bao mùa cày bừa giờ đã ngắn cũn. Em hình dung mẹ đội nón, khoác áo tơi lội ruộng dưới mưa rét, tấm lưng còng xuống vì công việc. Những đồ vật sờn rách ấy là dấu vết của biết bao ngày nhọc nhằn.
Mẹ là người tằn tiện, chắt chiu. Đồ dùng cũ mẹ vẫn giữ, áo tơi rách mẹ đem khoác cho người rơm, chiếc nơm sứt vành vẫn còn dùng để úp gà. Mẹ không tiêu xài cho riêng mình, mọi thứ dành dụm cho gia đình, cho con.
Và trên hết, mẹ là người thương con vô bờ. Trái na cuối vụ mẹ để phần là minh chứng giản dị nhất. Dù con đã lớn, đã đi xa, trong lòng mẹ con vẫn là đứa trẻ cần được dành phần quà ngon.
Hình ảnh người mẹ ấy cũng là hình ảnh của biết bao người mẹ Việt Nam. Đọc bài thơ, em càng thương mẹ của mình và hiểu rằng phải biết ơn những hi sinh thầm lặng mà mẹ dành cho em mỗi ngày.
Đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về bài thơ Về thăm mẹ – mẫu 5
Bài thơ lục bát Về thăm mẹ của Đinh Nam Khương đã để lại trong em nhiều xúc động. Bài thơ kể về một chiều đông người con trở về nhà nhưng mẹ đi vắng, chỉ còn căn bếp nguội và những đồ vật quen thuộc. Qua chiếc nón mê cũ, tấm áo tơi sờn ngắn, cái nơm sứt vành, em thấy được cuộc đời tần tảo, tằn tiện của mẹ. Chi tiết làm em nghẹn lòng nhất là trái na cuối vụ mẹ vẫn để phần con, bởi nó cho thấy dù con ở xa, mẹ lúc nào cũng nghĩ về con. Hai dòng thơ cuối với từ láy “nghẹn ngào”, “rưng rưng” đã nói hộ cảm xúc của biết bao người con. Đọc bài thơ, em tự nhủ sẽ yêu thương, giúp đỡ mẹ từ những việc nhỏ nhất mỗi ngày.
Cảm nhận về chi tiết trái na cuối vụ – mẫu 6
Trong bài thơ Về thăm mẹ, chi tiết em nhớ mãi là trái na cuối vụ mà mẹ để dành cho con.
Na là thứ quả quen thuộc ở làng quê miền Bắc. Mùa na thường rộ vào cuối hè, đầu thu; đến khi người con về vào chiều đông, na đã hết vụ từ lâu. Vậy mà trên cây vẫn còn một trái, và nó bất ngờ rụng xuống ngay khi con về. Có lẽ mẹ đã cố ý giữ lại, không nỡ hái ăn hay đem bán, chỉ để chờ con.
Trái na nhỏ bé ấy chứa đựng cả tấm lòng mẹ. Mẹ có thể không có quà gì to tát, không ở nhà để đón con, nhưng mẹ vẫn có một thứ dành riêng cho con. Đó là tình thương lặng lẽ, không cần nói thành lời, đúng như cách những người mẹ quê vẫn yêu con.
Chi tiết ấy như giọt nước làm tràn li, khiến người con không kìm được xúc động. Sau bao hình ảnh về sự vất vả của mẹ, trái na khép lại như lời khẳng định: mẹ chịu bao thiếu thốn nhưng luôn dành điều ngọt ngào nhất cho con.
Em chợt nhớ những lần mẹ để phần em miếng bánh, quả cam, hay chờ cơm khi em về muộn. Những điều nhỏ bé ấy, có khi em xem là bình thường. Bài thơ đã giúp em hiểu rằng đó chính là tình yêu thương lớn lao nhất của mẹ.
Mở bài, kết bài tham khảo về bài thơ Về thăm mẹ
Các đoạn mở bài, kết bài dưới đây giúp em có thêm cách vào bài và khép bài cho bài văn cảm nghĩ.
Mở bài trực tiếp: Về thăm mẹ của Đinh Nam Khương là bài thơ lục bát giản dị mà thấm thía về tình mẫu tử. Chỉ qua một lần người con về thăm nhà khi mẹ vắng, bài thơ đã khiến em nghẹn ngào trước sự tần tảo, chắt chiu và tấm lòng thương con của mẹ.
Mở bài gián tiếp: Có những lúc, người ta chỉ thật sự hiểu một người khi người ấy vắng mặt. Căn nhà không có mẹ bỗng trống trải, và những đồ vật quen thuộc bỗng như cất lời kể về mẹ. Đó là cảm xúc mà nhà thơ Đinh Nam Khương đã ghi lại trong bài thơ Về thăm mẹ.
Mở bài từ kỉ niệm: Mỗi lần đi học về mà chưa thấy mẹ ở nhà, em lại thấy căn bếp lạnh và lòng mình trống trải lạ thường. Có lẽ vì vậy mà khi đọc bài thơ Về thăm mẹ của Đinh Nam Khương, em hiểu ngay nỗi bâng khuâng của người con trong bài.
Kết bài 1: Bài thơ khép lại bằng hai chữ “rưng rưng”, nhưng dư âm của nó thì còn mãi. Về thăm mẹ nhắc em rằng tình mẹ ở ngay trong những điều nhỏ bé nhất, và hãy biết trân trọng mẹ từ những điều nhỏ bé ấy.
Kết bài 2: Bằng thể lục bát nhẹ nhàng và cách nói gián tiếp qua đồ vật, Đinh Nam Khương đã viết nên một bài thơ đẹp về mẹ. Đọc bài thơ, em tự hứa sẽ thường xuyên phụ giúp mẹ việc nhà và nói với mẹ những lời yêu thương mà em vẫn ngại ngùng chưa nói.
Kết luận
Khi viết cảm nghĩ về Về thăm mẹ, em nên làm nổi bật cách nói gián tiếp: mẹ vắng mặt nhưng hiện lên qua đồ vật. Hãy chọn vài hình ảnh tiêu biểu (bếp chưa có khói, nón mê, áo tơi, trái na cuối vụ) và nêu cảm xúc chân thành của riêng em.
Xem thêm: