Soạn bài Vẻ đẹp của một bài ca dao hướng dẫn em trả lời ba câu hỏi chuẩn bị, bảy câu hỏi trong khi đọc và năm câu hỏi sau khi đọc ở trang 76 – 78, Bài 4 (Văn bản nghị luận) sách Ngữ văn 6 Cánh diều tập một. Văn bản của nhà nghiên cứu Hoàng Tiến Tựu là một bài bình giảng ngắn, chỉ ra nét độc đáo trong bài ca dao quen thuộc tả người con gái đi thăm ruộng lúa.
Tìm hiểu chung về văn bản Vẻ đẹp của một bài ca dao
Trước khi vào câu hỏi, em cần đọc kĩ bài ca dao được bàn luận và nắm vài nét về người viết, bố cục văn bản.

Bài ca dao được bàn luận
Đây là bài ca dao dân gian, có thể chép trọn vẹn:
Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát
Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mênh mông
Thân em như chẽn lúa đòng đòng
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.
Hai câu đầu rất dài, hai câu sau ngắn hơn, nhịp gần với lục bát; vì vậy bài thường được xếp vào thể hỗn hợp (biến thể), khác với những bài lục bát đều đặn.
Tác giả Hoàng Tiến Tựu
Nhà nghiên cứu Hoàng Tiến Tựu (1933 – 1998; có tài liệu ghi năm sinh 1934) là người con của xứ Thanh. Phần lớn sự nghiệp của ông gắn với Đại học Sư phạm Vinh (nay là Đại học Vinh), nơi ông từng giữ cương vị chủ nhiệm Khoa Văn. Ông có uy tín lớn trong ngành văn học dân gian, để lại nhiều sách nghiên cứu và bình giảng ca dao, truyện cổ.
Xuất xứ và bố cục
- Xuất xứ: trích từ cuốn Bình giảng ca dao (1992).
- Thể loại: văn nghị luận (nghị luận văn học), bàn về cái hay của một tác phẩm văn học dân gian.
- Bố cục 4 phần:
- Phần 1 (đoạn đầu): nêu nhận định: tác phẩm có hai nét đẹp không lẫn với bài nào khác.
- Phần 2 (đoạn tiếp theo): bác bỏ cách chia bài ca dao thành hai nửa tách rời; cô gái đã hiện diện ngay từ hai câu đầu.
- Phần 3 (đoạn tiếp theo): tác dụng của việc hai câu đầu vắng chủ ngữ.
- Phần 4 (còn lại): phân tích hai câu cuối và câu kết luận.
Soạn bài Vẻ đẹp của một bài ca dao: Chuẩn bị (trang 76)
Như văn bản nghị luận trước, khi đọc em hãy để ý: bài viết bàn về điều gì, người viết muốn thuyết phục ta tin điều gì, và họ dùng những lí lẽ, bằng chứng nào.
Câu 1: Đọc trước văn bản, tìm hiểu về tác giả Hoàng Tiến Tựu (trang 76)
Trả lời:
Khi đọc trước, em nên đọc to bài ca dao vài lần, rồi đánh dấu câu nêu ý kiến ở đầu văn bản và các cụm từ được tác giả đặt trong ngoặc kép. Về người viết:
- Năm sinh – năm mất: 1933 – 1998 (theo chú thích SGK; có tài liệu ghi năm sinh 1934); quê Thanh Hóa.
- Ông giảng dạy ở Đại học Sư phạm Vinh, nhiều năm đứng đầu Khoa Văn của trường.
- Ông chuyên nghiên cứu văn học dân gian; ngoài cuốn Bình giảng ca dao (nơi in văn bản này), ông còn viết Bình giảng truyện dân gian và giáo trình Văn học dân gian Việt Nam.
Câu 2: Ca dao là sáng tác của ai, bắt nguồn từ đâu, thể thơ phổ biến? (trang 76)
Ca dao là những sáng tác của ai? Thường bắt nguồn từ đâu? Thể thơ phổ biến của ca dao là thể thơ nào?
Trả lời:
- Tác giả: ca dao do nhân dân, chủ yếu là người lao động, sáng tác và truyền miệng qua nhiều thế hệ, nên được coi là sáng tác tập thể.
- Nguồn gốc: nảy sinh từ chính đời sống hằng ngày – lúc cày cấy, chèo thuyền, ru con, hát đối đáp… – để bày tỏ tình cảm và kinh nghiệm sống.
- Thể thơ: phổ biến nhất là lục bát; bên cạnh đó còn gặp thể song thất lục bát, các câu bốn chữ, năm chữ (thể vãn), lại có những bài pha trộn nhiều thể (hỗn hợp).
Câu 3: So sánh bài ca dao này với các bài ca dao ở Bài 2 (trang 76)
Bài ca dao Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát có gì giống và khác các bài ca dao đã học ở Bài 2?
Trả lời:
| Bài ca dao trong văn bản | Các bài ca dao ở Bài 2 | |
|---|---|---|
| Giống nhau | Đều là sáng tác dân gian, lời lẽ mộc mạc, giàu hình ảnh gần gũi với đời sống làng quê; đều bộc lộ tình cảm, tâm hồn của người lao động. | |
| Thể thơ | Hỗn hợp: hai câu đầu kéo dài, hai câu sau ngắn. | Lục bát đều đặn (câu sáu – câu tám). |
| Nội dung | Vẻ đẹp của cánh đồng lúa và cô gái thăm đồng. | Chủ yếu bày tỏ tình cảm với gia đình, quê hương, đất nước. |
Soạn bài Vẻ đẹp của một bài ca dao: Đọc hiểu (câu hỏi trong khi đọc, trang 76 – 77)
Bảy gợi ý bên lề giúp em theo dõi mạch phân tích của tác giả qua từng đoạn.
Câu 1: Chú ý các từ địa phương ni, tê (trang 76)
Trả lời:
Đây là từ địa phương miền Trung: “ni” nghĩa là này, “tê” nghĩa là kia. Bên ni đồng là phía bên này cánh đồng, bên tê đồng là phía bên kia. Những từ này mang đậm sắc thái phương ngữ miền Trung, làm giọng bài ca dao thêm mộc mạc, thân thương.
Câu 2: Nội dung phần 1 khẳng định điều gì? (trang 76)
Trả lời:
Mở đầu, tác giả nêu nhận định: bài ca dao đẹp ở hai điểm là cảnh cánh đồng và hình ảnh cô gái đi thăm đồng; cả hai đều được tả rất hay, và cái hay ấy là của riêng bài này, khó tìm thấy ở bài ca dao khác. Đây chính là ý kiến chung mà cả văn bản sẽ làm sáng tỏ.
Câu 3: Phần 2 làm sáng tỏ ý nào? Từ bởi vì nhằm mục đích gì? (trang 76)
Trả lời:
- Ý được làm sáng tỏ: không nên chia cứng bài ca dao thành nửa trên tả cánh đồng, nửa dưới tả cô gái, vì cô gái đã có mặt ngay trong hai câu đầu qua chỗ đứng và cách ngắm cánh đồng của mình.
- Tác dụng của từ “bởi vì”: mở ra phần giải thích lí do, nối ý kiến bác bỏ (cách chia hai phần là chưa đúng) với lí lẽ và bằng chứng đi kèm, giúp lập luận chặt chẽ và thuyết phục hơn.
Câu 4: Phần 3 phân tích yếu tố nào của bài ca dao? (trang 77)
Trả lời:
Phần 3 phân tích một đặc điểm ngữ pháp của hai câu đầu: chúng không có chủ ngữ. Nhờ thế, người đọc như được hòa vào nhân vật, tưởng mình đang cùng cô gái đi khắp bờ ruộng và tự mình cảm nhận sự rộng lớn của đồng lúa.
Câu 5: Hai câu cuối khác gì hai câu đầu? (trang 77)
Theo tác giả, hai câu cuối có gì khác biệt so với hai câu đầu của bài ca dao?
Trả lời:
- Hai câu đầu: cô gái nhìn bao quát, phóng tầm mắt ra toàn cảnh để thấy cánh đồng rộng mênh mang.
- Hai câu cuối: cô thu hẹp điểm nhìn vào một chẽn lúa non đang phất phơ trong nắng sớm, rồi hồn nhiên ví mình với chẽn lúa ấy.
Như vậy, cách nhìn chuyển từ rộng sang hẹp, từ tả cảnh sang so sánh để tự giới thiệu vẻ đẹp của bản thân.
Câu 6: Chú ý các từ ngọn nắng và gốc nắng (trang 77)
Trả lời:
- “Ngọn nắng” là những tia nắng đầu tiên của buổi sớm, chiếu xiên và nhẹ, rọi lên đầu những chẽn lúa – một cách nói rất gợi hình của dân gian.
- “Gốc nắng” là cách hiểu mở rộng mà tác giả nhắc lại: nắng đã có ngọn thì phải có gốc, và gốc chính là Mặt Trời.
Hai từ này cho thấy sự sáng tạo trong ngôn ngữ ca dao và gợi liên tưởng thú vị: cô gái – chẽn lúa đang được ánh mặt trời ban mai nâng niu, tràn đầy sức sống.
Câu 7: Câu cuối có thể coi là kết luận không? (trang 77)
Trả lời:
Có. Câu cuối khép lại toàn bộ phần phân tích bằng một nhận xét khái quát: bài ca dao như một bức tranh rất đẹp, chứa đựng nhiều ý tứ. Nhận xét ấy quay về ý kiến nêu ở phần 1, tạo sự trọn vẹn cho văn bản.
Soạn bài Vẻ đẹp của một bài ca dao: Câu hỏi sau khi đọc (trang 78)
Năm câu hỏi giúp em tổng kết nội dung, cách lập luận của văn bản và liên hệ với hiểu biết về ca dao.
Câu 1: Nội dung chính của văn bản; nhan đề đã khái quát chưa? (trang 78)
Nội dung chính của văn bản Vẻ đẹp của một bài ca dao là gì? Nhan đề đã khái quát được nội dung chính của văn bản chưa?
Trả lời:
- Nội dung chính: phân tích để làm nổi bật nét đặc sắc chỉ bài ca dao này mới có: vẻ đẹp của đồng lúa quê và của chính người con gái ra thăm đồng.
- Nhan đề: phù hợp, bao quát được ý chính của bài, vì cả văn bản chỉ tập trung vào một bài ca dao và vẻ đẹp của nó. Tuy vậy, nhan đề để ngỏ “một bài ca dao” nào, tạo sự tò mò cho người đọc.
Câu 2: Bài ca dao có những vẻ đẹp gì, nêu ở đâu, vẻ đẹp nào được phân tích nhiều hơn? (trang 78)
Theo tác giả, bài ca dao trên có những vẻ đẹp gì? Vẻ đẹp ấy được nêu khái quát ở phần nào của văn bản? Vẻ đẹp nào được tác giả chủ ý phân tích nhiều hơn?
Trả lời:
- Hai vẻ đẹp: cảnh đồng lúa rộng lớn và người con gái ra thăm đồng.
- Nơi nêu khái quát: phần 1 (đoạn văn đầu tiên).
- Vẻ đẹp được chú ý hơn: vẻ đẹp của cô gái. Ở phần 2, tác giả chứng minh cô gái hiện lên ngay trong hai câu tả cánh đồng với dáng vẻ năng nổ; ở phần 3, ông nói về cảm giác được đồng hành cùng cô; ở phần 4, hình ảnh chẽn lúa được hiểu là biểu tượng cho người con gái đang tuổi dậy thì. Cánh đồng chủ yếu hiện ra qua đôi mắt của cô gái.
Câu 3: Từ ngữ, hình ảnh tác giả dựa vào để làm rõ vẻ đẹp (trang 78)
Để làm rõ vẻ đẹp của bài ca dao, tác giả Hoàng Tiến Tựu đã dựa vào những từ ngữ, hình ảnh nào? Em hãy chỉ ra một số ví dụ cụ thể trong văn bản.
Trả lời:
Tác giả bám sát từng chữ của bài ca dao để phân tích:
- Cặp từ láy mênh mông bát ngát đặt cuối câu một rồi đảo thành bát ngát mênh mông ở cuối câu hai – gợi cánh đồng rộng đến ngút tầm mắt.
- Cặp từ “bên ni”, “bên tê” cùng các động từ đứng, ngó – cho thấy cô gái đi lại, quan sát từ nhiều phía, rất chủ động.
- Việc hai câu đầu không có chủ ngữ – giúp người đọc nhập vào vai cô gái.
- Chẽn lúa non đang thì con gái, “ngọn nắng” buổi sớm – gợi sức sống tươi non của cô gái.
Bên cạnh đó, tác giả dùng những lời nhận xét giàu cảm xúc như cô gái hiện lên “hết sức rõ nét và sống động”, hay câu cảm thán khen hình ảnh chẽn lúa mới đẹp làm sao.
Câu 4: Tóm tắt nội dung phần 2, 3, 4 theo mẫu (trang 78)
Hãy tóm tắt nội dung chính của phần 2, 3, 4 trong văn bản Vẻ đẹp của một bài ca dao theo mẫu (Phần 1 – Nêu ý kiến: bài ca dao…).
Trả lời:
| Phần | Nội dung chính |
|---|---|
| Phần 1 | Ý kiến chung: tác phẩm đẹp ở hai điểm riêng – cảnh đồng lúa và người con gái ra thăm đồng. |
| Phần 2 | Bác bỏ cách chia bài ca dao làm hai nửa: cô gái đã có mặt từ hai câu mở đầu, qua chỗ đứng, cách ngắm nhìn cánh đồng từ nhiều phía. |
| Phần 3 | Hai câu đầu vắng chủ ngữ khiến người đọc như đang cùng cô gái thăm đồng và tự cảm nhận sự rộng lớn của đồng lúa. |
| Phần 4 | Hai câu cuối thu điểm nhìn vào chẽn lúa non dưới nắng sớm – biểu tượng cho cô gái tuổi trăng tròn; kết luận bài ca dao là bức tranh đẹp, giàu ý nghĩa. |
Câu 5: Hiểu thêm gì về ca dao? Em thích câu, đoạn nào? (trang 78)
So với những gì em biết về ca dao ở Bài 2, văn bản của tác giả Hoàng Tiến Tựu cho em thêm hiểu biết được những gì về nội dung và hình thức của ca dao? Em thích câu, đoạn nào trong văn bản nghị luận này?
Trả lời:
- Về nội dung: ngoài tình cảm gia đình, quê hương, ca dao còn ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, của người lao động; người con gái trong ca dao có thể tự hào, hồn nhiên giới thiệu vẻ đẹp tuổi xuân của mình.
- Về hình thức: ca dao không chỉ có lục bát mà còn có những câu rất dài, nhịp linh hoạt; ca dao dùng từ địa phương, phép đảo từ, phép so sánh, câu vắng chủ ngữ… một cách tinh tế. Mỗi chữ trong ca dao đều có thể được phân tích kĩ như thơ của các nhà thơ.
- Đoạn em thích: đoạn cuối, nơi tác giả bình hình ảnh chẽn lúa non và chữ “ngọn nắng”. Chỉ với vài câu, tác giả giúp em nhìn thấy cô gái tràn trề sức sống như cây lúa non, và thích thú với liên tưởng nắng có ngọn thì ắt có gốc là Mặt Trời. Đoạn văn vừa giàu hình ảnh vừa gợi cho em cách đọc ca dao chậm rãi, kĩ lưỡng hơn.
Kết luận
Văn bản của Hoàng Tiến Tựu cho thấy một bài nghị luận văn học có thể ngắn gọn mà vẫn sâu sắc: ý kiến nêu rõ ở đầu bài, lí lẽ bám vào từng từ ngữ, hình ảnh, kết thúc bằng một nhận xét khái quát. Học bài này, em vừa biết thêm cách phân tích một bài ca dao, vừa thêm yêu vẻ đẹp giản dị của cánh đồng quê và con người lao động trong văn học dân gian.
Xem thêm: