Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960) là nhà văn, nhà viết kịch hàng đầu của văn học Việt Nam hiện đại về đề tài lịch sử, tác giả vở bi kịch Vũ Như Tô, tiểu thuyết Đêm hội Long Trì, Sống mãi với thủ đô và truyện thiếu nhi Lá cờ thêu sáu chữ vàng. Ông quê làng Dục Tú, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội), từng là đại biểu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời là người sáng lập Nhà xuất bản Kim Đồng. Bài viết của Văn VN tóm tắt tiểu sử, các mốc đời, sự nghiệp, phong cách sáng tác và các bài học Ngữ văn có tác phẩm của ông.
Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng là ai?
Nguyễn Huy Tưởng là một trí thức yêu nước đi theo cách mạng từ rất sớm và là một trong những cây bút chủ chốt của Hội Văn hóa cứu quốc. Ông viết kịch, tiểu thuyết, ký và truyện cho thiếu nhi, nhưng thành tựu nổi bật nhất là các tác phẩm lấy cảm hứng từ lịch sử dân tộc. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I).

| Tên | Nguyễn Huy Tưởng |
| Danh xưng | Nhà văn, nhà viết kịch; Giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng |
| Năm sinh – năm mất | 6/5/1912 – 25/7/1960 |
| Quê quán | Làng Dục Tú, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã Đông Anh, thành phố Hà Nội) |
| Thể loại | Kịch, tiểu thuyết lịch sử, ký, truyện thiếu nhi, nhật ký |
| Tác phẩm tiêu biểu | Vũ Như Tô, Đêm hội Long Trì, An Tư, Bắc Sơn, Sống mãi với thủ đô, Lá cờ thêu sáu chữ vàng |
| Giải thưởng | Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (truy tặng, đợt I năm 1996) |
| Trong SGK hiện hành | Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Viên tướng trẻ và con ngựa trắng (Ngữ văn 8); Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Ngữ văn 11) |
Xuất thân từ một nếp nhà Nho thanh bạch, ông học cả chữ Hán lẫn tiếng Pháp, đi học ở trường Bonnal (Hải Phòng). Ngay từ tuổi hai mươi, trong nhật ký, ông đã bày tỏ ý thức rằng hiểu lịch sử nước mình là bổn phận của mỗi người – ý thức sẽ dẫn dắt gần như toàn bộ sự nghiệp cầm bút của ông.
Cuộc đời Nguyễn Huy Tưởng qua các mốc chính
Cuộc đời Nguyễn Huy Tưởng đan xen giữa hoạt động cách mạng, công tác văn hóa và sáng tác. Các mốc sau được đối chiếu giữa Wikipedia tiếng Việt, tư liệu của Thông tấn xã Việt Nam (nvsk.vnanet.vn) và bài viết trên trang Hội Nhà văn Việt Nam.
- 1912: sinh ngày 6/5 tại làng Dục Tú, Bắc Ninh.
- 1930: mới mười tám tuổi đã tham gia các hoạt động yêu nước của học sinh Hải Phòng.
- Từ 1935: làm thư ký sở Đoan (thuế quan) ở Hải Phòng; năm 1938 vào Hội Truyền bá quốc ngữ, đi dạy chữ cho người lao động.
- 1941: viết xong vở kịch Vũ Như Tô vào mùa hè.
- 1942: tiểu thuyết lịch sử Đêm hội Long Trì ra đời.
- 1943: gia nhập nhóm Văn hóa cứu quốc bí mật, được bầu làm Tổng thư ký Hội Truyền bá quốc ngữ Hải Phòng.
- 1945: tháng 6 tham gia ban biên tập báo Tiên phong; tháng 8 là đại biểu Văn hóa cứu quốc dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào.
- 1946: là đại biểu Quốc hội khóa I; ngày 6/4 vở Bắc Sơn công diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội; tháng 12 đưa Đoàn văn hóa kháng chiến lên Việt Bắc.
- 1947 – 1954: Ủy viên Thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam, thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ; đi chiến dịch, viết Ký sự Cao Lạng (1951); tham gia công tác giảm tô (1953 – 1954).
- 1957: thành viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành khóa I; là Giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng.
- 1960: mất ngày 25/7 tại Hà Nội vì bệnh hiểm nghèo, khi mới 48 tuổi.
- 1996: được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

Ít ai biết rằng trong những năm làm công chức sở Đoan, Nguyễn Huy Tưởng đã viết các tiểu thuyết lịch sử đăng trên tạp chí Tri tân, và ngôi nhà của gia đình ông ở Dục Tú từng là nơi làm số báo Tiên phong đầu tiên của Hội Văn hóa cứu quốc. Ngôi nhà ấy nay đã được gắn biển di tích cách mạng kháng chiến. Ông mất khi bản thảo Sống mãi với thủ đô còn đang được sửa chữa.
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng
Sự nghiệp của Nguyễn Huy Tưởng kéo dài khoảng hai mươi năm (1941 – 1960) và có thể nhìn theo thể loại.
Kịch. Ông là một trong những người đặt nền móng cho kịch nói hiện đại Việt Nam với Vũ Như Tô (1941), Cột đồng Mã Viện (1944), Bắc Sơn (1946), Những người ở lại (1948), Anh Sơ đầu quân (1949) và truyện phim Lũy hoa.
Tiểu thuyết. Các tiểu thuyết lịch sử Đêm hội Long Trì (1942), An Tư (1944) đưa ông lên văn đàn; sau Cách mạng có Truyện anh Lục (1955), Bốn năm sau (1959) và Sống mãi với thủ đô (in năm 1961).
Truyện thiếu nhi. Từ cuối thập niên 1950, bạn đọc nhỏ tuổi là đối tượng ông đặc biệt quan tâm: Tìm mẹ (1950), Kể chuyện Quang Trung (1957), Lá cờ thêu sáu chữ vàng (1960), An Dương Vương xây thành ốc (1960) và nhiều truyện ngắn khác.
Ký và nhật ký. Ký sự Cao Lạng (1951), Gặp Bác (1956); bộ Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng ba tập, dày khoảng 1.700 trang, được công bố năm 2006.
Giới thiệu chi tiết từng tác phẩm có trong bài những tác phẩm tiêu biểu nhất của Nguyễn Huy Tưởng.
Các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Huy Tưởng
Vũ Như Tô (1941)
Vở bi kịch năm hồi lấy bối cảnh Thăng Long thời Lê Tương Dực (khoảng 1516 – 1517). Kiến trúc sư thiên tài Vũ Như Tô, được cung nữ Đan Thiềm thuyết phục, nhận xây Cửu Trùng Đài cho hôn quân với mong muốn để lại cho đất nước một công trình tuyệt mỹ; nhưng công trình càng cao, dân càng khổ, và cuối cùng chính ông bị giết, Cửu Trùng Đài bị đốt. Bản ba hồi từng đăng trên Tri tân (1943 – 1944) trước khi được tác giả sửa thành năm hồi. Trong lời đề tựa, tác giả viết:
“Than ôi! Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải? Ta chẳng biết.”
Hồi V của vở kịch được trích vào sách giáo khoa với nhan đề Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài; xem tóm tắt Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài.
Đêm hội Long Trì (1942)
Tiểu thuyết lịch sử lấy bối cảnh phủ chúa Trịnh thời suy vi. Mạch truyện khởi đầu từ một đêm hội rồi tỏa ra nhiều số phận, xoay quanh mối tình Bảo Kim – Quỳnh Hoa, cùng những mưu mô của Tuyên phi Đặng Thị Huệ và sự tàn ác của “Cậu Giời” Đặng Mậu Lân.
Bắc Sơn (1946)
Vở kịch về đề tài cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, công diễn ngày 6/4/1946 tại Nhà hát Lớn Hà Nội và được đón nhận nồng nhiệt. Bắc Sơn được xem là mở đầu cho dòng kịch nói viết về cách mạng, phục vụ đông đảo quần chúng.
Sống mãi với thủ đô (1961)
Cuốn sách dựng lại không khí Thủ đô bước vào cuộc chiến đấu cuối năm 1946, dựa trên vốn sống của nhà văn khi gắn bó với các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô. Ông sửa bản thảo nhiều lần, chưa kịp hoàn chỉnh thì bị bệnh nặng; tác phẩm ra mắt sau khi ông mất.
Lá cờ thêu sáu chữ vàng (1960)
Truyện lịch sử viết cho thiếu nhi về người anh hùng nhỏ tuổi Trần Quốc Toản thời kháng chiến chống quân Nguyên – Mông, với lá cờ thêu dòng chữ “Phá cường địch, báo hoàng ân”. Hai đoạn trích đang được học ở lớp 8; đọc phân tích Lá cờ thêu sáu chữ vàng, tác giả, tác phẩm Viên tướng trẻ và con ngựa trắng.
Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Huy Tưởng
- Cảm hứng lịch sử xuyên suốt: từ thời An Dương Vương, nhà Trần, Lê – Trịnh đến cuộc kháng chiến của Hà Nội, ông tìm trong quá khứ những bài học và tấm gương cho người đương thời.
- Sở trường xây dựng xung đột: kịch của ông có những mâu thuẫn lớn, giàu tính triết lý, như xung đột giữa khát vọng nghệ thuật và quyền lợi nhân dân trong Vũ Như Tô.
- Thái độ khách quan, đa chiều: ông không áp đặt kết luận, để người đọc tự suy ngẫm, như câu hỏi bỏ ngỏ trong lời đề tựa Vũ Như Tô.
- Giọng văn trong sáng, giàu hình ảnh khi viết cho thiếu nhi: lịch sử được kể sinh động, gần gũi mà vẫn khơi lòng yêu nước.
Quan niệm sống và viết của ông gói trong một câu thường được nhắc lại khi giới thiệu nhật ký của ông:
“Người là thật. Phải thật với người.”
Nhận định về Nguyễn Huy Tưởng
Phần này là nhận xét chung của người biên tập dựa trên tiểu sử và tác phẩm, không trích của nhà phê bình cụ thể:
- Nguyễn Huy Tưởng là một trong những người viết về lịch sử thành công nhất của văn học Việt Nam hiện đại, ở cả kịch lẫn tiểu thuyết.
- Vũ Như Tô vẫn còn tính thời sự vì câu hỏi về mối quan hệ giữa nghệ thuật, người nghệ sĩ và nhân dân chưa bao giờ cũ.
- Vai trò sáng lập Nhà xuất bản Kim Đồng cho thấy tấm lòng của ông với thế hệ trẻ – điều cũng thể hiện qua những truyện lịch sử viết cho thiếu nhi.
- Là nhà văn – chiến sĩ, ông hiện diện ở nhiều dấu mốc lớn của cách mạng: Tân Trào, Quốc hội khóa I, những ngày kháng chiến ở Việt Bắc.
Tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng trong sách giáo khoa Ngữ văn
Nguyễn Huy Tưởng là một trong số ít tác giả có mặt ở cả ba bộ sách lớp 11 và ở cấp THCS:
| Tác phẩm | Lớp – bộ sách | Bài học | Bài soạn trên Văn VN |
|---|---|---|---|
| Lá cờ thêu sáu chữ vàng | Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập 1 | Bài 1 – Câu chuyện của lịch sử | Soạn bài Lá cờ thêu sáu chữ vàng |
| Viên tướng trẻ và con ngựa trắng (trích Lá cờ thêu sáu chữ vàng) | Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo, tập 2 | Bài 9 – Âm vang của lịch sử | Soạn bài Viên tướng trẻ và con ngựa trắng |
| Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô) | Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, tập 1 | Bài 5 – Nhân vật và xung đột trong bi kịch | Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài |
| Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài | Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo, tập 1 | Bài 5 – Băn khoăn tìm lẽ sống (Bi kịch) | Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài: tác giả, tác phẩm |
| Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài | Ngữ văn 11 Cánh diều, tập 2 | Bài 8 – Bi kịch | Phân tích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài |
Khi học đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, cần nắm đặc trưng thể loại bi kịch (xung đột, hành động, nhân vật bi kịch) và hiểu được cả hai phía của xung đột trong vở kịch.
Tóm tắt tiểu sử Nguyễn Huy Tưởng ngắn gọn
Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960) quê làng Dục Tú, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội), xuất thân trong gia đình nhà nho. Ông tham gia phong trào yêu nước từ năm 1930, dạy chữ trong phong trào truyền bá quốc ngữ, gia nhập Văn hóa cứu quốc năm 1943, dự Quốc dân Đại hội Tân Trào và là đại biểu Quốc hội khóa I. Ông nổi tiếng với kịch Vũ Như Tô, Bắc Sơn, tiểu thuyết Đêm hội Long Trì, Sống mãi với thủ đô và truyện thiếu nhi Lá cờ thêu sáu chữ vàng; là người sáng lập Nhà xuất bản Kim Đồng. Ông mất năm 1960 tại Hà Nội, được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996.
Câu hỏi thường gặp về Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Huy Tưởng quê ở đâu?
Ông quê làng Dục Tú, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; ngày nay vùng đất này thuộc xã Đông Anh, thành phố Hà Nội.
Nguyễn Huy Tưởng sinh năm bao nhiêu, mất năm bao nhiêu?
Ông sinh ngày 6/5/1912 và mất ngày 25/7/1960 tại Hà Nội, khi mới 48 tuổi.
Vở kịch nổi tiếng nhất của Nguyễn Huy Tưởng là gì?
Đó là bi kịch lịch sử Vũ Như Tô, viết xong năm 1941, được xem là đỉnh cao sự nghiệp viết kịch của ông.
Nguyễn Huy Tưởng có liên quan gì đến Nhà xuất bản Kim Đồng?
Ông lập ra Nhà xuất bản Kim Đồng – đơn vị chuyên làm sách cho thiếu nhi – và là người đứng đầu đầu tiên của nhà xuất bản này.
Tác phẩm nào của Nguyễn Huy Tưởng có trong sách giáo khoa?
Lá cờ thêu sáu chữ vàng và Viên tướng trẻ và con ngựa trắng (Ngữ văn 8), Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Ngữ văn 11 cả ba bộ sách).
Lời kết
Bằng tình yêu lịch sử và tấm lòng với con người, tác giả Nguyễn Huy Tưởng đã để lại những trang kịch, trang văn sống mãi cùng nhiều thế hệ bạn đọc, từ học sinh lớp 8 đến người lớn. Mời bạn xem tiếp tuyển tập tác phẩm Nguyễn Huy Tưởng trên Văn VN.
Xem thêm: Giới thiệu tác giả Nguyễn Đình Thi · Giới thiệu tác giả Lưu Quang Vũ · Nhà văn Tô Hoài