Văn học hiện thực phê phán là dòng văn học phản ánh chân thực đời sống và phơi bày những bất công, tệ nạn của xã hội; ở Việt Nam, tên gọi này thường dùng cho trào lưu 1930–1945 với Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao. Các nhà văn viết về người nông dân bị bóc lột, người trí thức nghèo, về một xã hội thuộc địa nửa phong kiến mục ruỗng.
| Khái niệm | Khuynh hướng sáng tác tái hiện hiện thực xã hội để vạch trần và tố cáo cái xấu |
| Nghĩa tên gọi | “Hiện thực” là đời sống có thật; “phê phán” là chỉ ra cái sai, cái ác để lên án |
| Thời gian ở Việt Nam | Khoảng 1930–1945, rực rỡ nhất cuối thập niên 1930 |
| Dấu hiệu nhận biết | Chi tiết đời sống cụ thể, nhân vật điển hình, giọng tố cáo hoặc châm biếm, lòng thương người nghèo |
| Học ở | Lão Hạc, Tức nước vỡ bờ, Trong lòng mẹ (THCS); Chí Phèo, Hạnh phúc của một tang gia, Kép Tư Bền (THPT) |

Văn học hiện thực phê phán soi vào đâu?
Muốn hiểu dòng văn này, hãy hình dung nước ta đầu những năm 1930: khủng hoảng kinh tế, thuế khóa nặng, người nông dân mất ruộng, thành thị mọc lên lối sống Âu hóa nửa vời. Cùng lúc ấy, báo chí và nghề xuất bản phát triển, văn xuôi quốc ngữ đã đủ sức kể chuyện dài. Một lớp nhà văn chọn nhìn thẳng vào những cảnh khổ ấy, thay vì quay về cõi mộng.
Chữ “hiện thực” có hai nghĩa. Theo nghĩa rộng, gần như văn học thời nào cũng có tính hiện thực; Truyện Kiều hay thơ Nguyễn Khuyến cũng phơi bày nhiều cảnh trái ngang. Theo nghĩa hẹp, chủ nghĩa hiện thực là một phương pháp sáng tác có nguyên tắc riêng, hình thành ở châu Âu thế kỉ XIX. Ở Việt Nam, khi nói “văn học hiện thực phê phán”, người ta chủ yếu nói đến dòng văn xuôi 1930–1945 viết theo phương pháp ấy.
Tên gọi này đến giờ vẫn còn được bàn lại. Có nhà nghiên cứu muốn gọi đơn giản là “văn học hiện thực 1930–1945”, vì chữ “phê phán” chưa nói hết lòng nhân ái trong các trang viết. Khi làm bài, dùng tên gọi nào cũng được, miễn hiểu đúng nội dung.
Bốn đặc điểm của dòng văn hiện thực 1930–1945
- Chân thực đến từng chi tiết. Bữa cơm, món nợ, suất sưu, cái ao, mảnh vườn đều được tả cụ thể. Người đọc tin chuyện vì thấy đúng là cuộc sống mình biết.
- Tố cáo xã hội bất công. Mũi nhọn chĩa vào bọn cường hào, quan lại, chế độ sưu thuế, lối sống giả dối của tầng lớp “văn minh rởm”.
- Nhân vật điển hình. Mỗi nhân vật vừa có số phận riêng vừa đại diện cho một lớp người: chị Dậu cho người nông dân cùng đường, Chí Phèo cho người lương thiện bị đẩy vào con đường lưu manh, Xuân Tóc Đỏ cho kẻ cơ hội leo thang nhờ thời thế.
- Tinh thần nhân đạo. Đằng sau sự tố cáo là lòng xót thương con người nhỏ bé, sự trân trọng phần lương thiện còn sót lại trong họ.
Nam Cao từng phê phán lối văn thoát li, coi đó là thứ “ánh trăng lừa dối”, và cho rằng nghệ thuật phải là tiếng nói của những kiếp lầm than. Quan niệm ấy giải thích vì sao bút pháp hiện thực của ông vừa lạnh lùng vừa thấm đẫm tình người; bài phong cách sáng tác của Nam Cao phân tích kĩ điểm này.
Văn học hiện thực phê phán đi qua mấy chặng?
Nhiều tài liệu chia trào lưu thành ba chặng, gắn với biến động thời cuộc:
| Chặng | Diễn biến | Gương mặt tiêu biểu |
|---|---|---|
| 1930–1935 | Truyện ngắn trào phúng, tả chân phát triển; tiếng cười châm biếm là chính | Nguyễn Công Hoan |
| 1936–1939 | Không khí xã hội cởi mở hơn; xuất hiện hàng loạt tiểu thuyết, phóng sự lớn | Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng |
| 1940–1945 | Văn hiện thực đi sâu vào tâm lí, bi kịch tinh thần con người | Nam Cao |
Cách chia này giúp nhớ dòng chảy, nhưng các nhà văn không viết đúng khung năm: Nguyễn Công Hoan vẫn viết sau 1936, còn Ngô Tất Tố cũng có những tác phẩm trước đó.
Năm cây bút hiện thực và tác phẩm nên đọc
Nguyễn Công Hoan
Bậc thầy truyện ngắn trào phúng. Tiếng cười của ông đặt nhân vật vào những tình huống nghịch lí để lật mặt thói đạo đức giả. Truyện Kép Tư Bền (Nguyễn Công Hoan) là ví dụ: người kép hát phải diễn trò cười trong lúc cha đang hấp hối.
Ngô Tất Tố
Nhà văn của nông thôn. Tắt đèn kể cảnh nhà chị Dậu phải bán con, bán chó để nộp sưu, với đoạn trích quen thuộc mà học sinh gọi là “Tức nước vỡ bờ”. Câu hỏi đọc hiểu của đoạn này có ở bài soạn Tức nước vỡ bờ. Ông còn viết phóng sự Việc làng.
Vũ Trọng Phụng
Mất năm 1939 khi mới ngoài hai mươi lăm tuổi, nhưng để lại Số đỏ, Giông tố và nhiều phóng sự. Tiếng cười của ông sắc lạnh, nhắm vào cái xã hội chạy theo “văn minh” nhố nhăng. Chương trích Hạnh phúc của một tang gia trong Số đỏ là đám tang mà con cháu thì vui như hội.
Nguyên Hồng
Ngòi bút của những người cùng khổ ở thành thị và của tuổi thơ cay đắng. Hồi kí Những ngày thơ ấu, với chương Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng, cho thấy chất trữ tình có thể đi cùng ngòi bút hiện thực.
Nam Cao
Thường được xem là đỉnh cao của trào lưu. Ông viết về người nông dân (truyện Chí Phèo của Nam Cao, tác phẩm Lão Hạc) và về người trí thức tiểu tư sản nghèo (Đời thừa, Sống mòn). Nét đặc sắc là ông đi vào bên trong nhân vật, chỉ ra quá trình tha hóa của con người dưới sức ép của hoàn cảnh.
Hiện thực và lãng mạn cùng thời khác nhau ra sao?
| Tiêu chí | Hiện thực phê phán | Lãng mạn (Thơ mới, Tự lực văn đoàn) |
|---|---|---|
| Thái độ với thực tại | Nhìn thẳng, phơi bày, tố cáo | Thoát li, mơ ước, lí tưởng hóa |
| Nhân vật | Người nông dân, dân nghèo, trí thức nghèo | Thanh niên trí thức, người có tâm hồn khác thường |
| Thể loại mạnh | Tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự | Thơ, tiểu thuyết luận đề, truyện ngắn trữ tình |
| Giọng điệu | Lạnh, châm biếm, xót xa | Say mê, buồn, bay bổng |
Ranh giới không tuyệt đối. Thạch Lam đứng trong nhóm lãng mạn nhưng nhiều trang viết rất hiện thực về phố huyện nghèo; Nguyên Hồng thì hiện thực mà đầm đìa trữ tình.
Một chi tiết nên nhớ khi viết bài nghị luận: Chí Phèo không sinh ra đã là “con quỷ dữ làng Vũ Đại”. Anh từng là người hiền lành, ước mơ một gia đình nhỏ. Thấy được điều ấy là thấy được chiều sâu nhân đạo của cả dòng văn hiện thực.
Bài tập về văn học hiện thực phê phán
Câu 1: Xếp các tác phẩm sau vào đúng dòng văn: Tắt đèn, Đoạn tuyệt, Số đỏ, Hai đứa trẻ, Chí Phèo.
Đáp án: Hiện thực phê phán: Tắt đèn, Số đỏ, Chí Phèo. Lãng mạn: Đoạn tuyệt (Nhất Linh), Hai đứa trẻ (Thạch Lam, thuộc Tự lực văn đoàn, nhiều nhà nghiên cứu xem là truyện trữ tình pha hiện thực).
Câu 2: Nêu hai đặc điểm của văn học hiện thực phê phán 1930–1945.
Đáp án: Phản ánh chân thực, cụ thể đời sống xã hội; xây dựng nhân vật điển hình; tố cáo bất công; giàu tinh thần nhân đạo (nêu hai trong các ý trên).
Câu 3: Vì sao Chí Phèo được coi là nhân vật điển hình?
Đáp án: Vì Chí Phèo vừa có số phận, tính cách riêng, vừa tiêu biểu cho số phận người nông dân lương thiện bị xã hội cũ đẩy vào con đường lưu manh hóa, mất cả nhân hình lẫn nhân tính.
Nam Cao, Vũ Trọng Phụng và những tên gọi khác
Văn học hiện thực phê phán 1930–1945 gồm những tác giả nào?
Năm tên tuổi lớn nhất là Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng và Nam Cao. Ngoài ra còn nhiều cây bút khác viết truyện, phóng sự theo hướng tả chân.
Văn học hiện thực phê phán có từ bao giờ?
Trên thế giới, chủ nghĩa hiện thực thành trào lưu ở châu Âu thế kỉ XIX. Ở Việt Nam, yếu tố hiện thực đã có trong văn học trung đại, nhưng thành một trào lưu rõ rệt từ đầu thập niên 1930.
Văn học hiện thực khác văn học hiện thực phê phán không?
“Văn học hiện thực” là cách gọi rộng hơn, chỉ chung các tác phẩm theo phương pháp hiện thực. “Hiện thực phê phán” nhấn vào thái độ lên án xã hội đương thời. Với văn học Việt Nam 1930–1945, hai cách gọi thường dùng thay cho nhau.