Chủ nghĩa hiện thực là trào lưu và phương pháp sáng tác trong văn học, nghệ thuật lấy đời sống xã hội có thật làm đối tượng, tái hiện con người và hoàn cảnh một cách khách quan, cụ thể, thông qua những nhân vật điển hình. Nó thành trào lưu ở châu Âu thế kỉ XIX với Stendhal, Balzac, Flaubert, Dickens, Tolstoy; ở Việt Nam tiêu biểu là văn xuôi hiện thực 1930–1945.
| Khái niệm | Phương pháp sáng tác tái hiện đời sống như nó vốn có, khách quan và điển hình |
| Nghĩa tên gọi | “Hiện thực” (現實) là cái đang có thật; tiếng Pháp réalisme, tiếng Anh realism |
| Ra đời | Thành trào lưu ở Pháp, Nga, Anh vào thế kỉ XIX, sau chủ nghĩa lãng mạn |
| Dấu hiệu nhận biết | Chi tiết chân thực, nhân vật gắn chặt với hoàn cảnh xã hội, giọng kể khách quan, nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn |
| Ở Việt Nam | Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao |

Chủ nghĩa hiện thực: viết đời như vốn có?
Gần như mọi tác phẩm văn học đều lấy chất liệu từ đời sống, nên chữ “hiện thực” được dùng theo hai nghĩa. Nghĩa rộng chỉ tính hiện thực: mối liên hệ của tác phẩm với đời thật, có ở mọi thời, từ sử thi Hi Lạp đến Truyện Kiều. Nghĩa hẹp chỉ chủ nghĩa hiện thực: một trào lưu, một phương pháp sáng tác có nguyên tắc riêng, xuất hiện ở châu Âu thế kỉ XIX.
Trào lưu này lớn lên đúng lúc chủ nghĩa lãng mạn đã đi qua thời đỉnh cao. Xã hội tư sản đã định hình, đồng tiền chi phối các quan hệ, thành phố công nghiệp mọc lên cùng những khu nghèo. Nhà văn không còn muốn trốn vào mộng; họ muốn mổ xẻ xã hội như nhà khoa học mổ xẻ một cơ thể. Balzac, trong lời tựa bộ Tấn trò đời, từng so sánh công việc của nhà tiểu thuyết với công việc của nhà khoa học tự nhiên.
Lí luận văn học thường gọi phương thức của chủ nghĩa hiện thực là tái hiện (tái tạo đời sống theo đúng logic của nó), đối lập với phương thức tái tạo theo mơ ước của chủ nghĩa lãng mạn.
Bốn đặc điểm của chủ nghĩa hiện thực
Chi tiết chân thực
Giá cả, món nợ, căn phòng trọ, bữa ăn, cách ăn mặc đều được kể chính xác như một tư liệu. Đọc tiểu thuyết Balzac, người ta biết cả cách một gia đình Paris tiêu tiền.
Nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất. Trong một bức thư năm 1888 gửi nhà văn Margaret Harkness, Engels viết rằng chủ nghĩa hiện thực, ngoài sự chân thực của chi tiết, còn đòi hỏi tái hiện chân thực những tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình. Nghĩa là nhân vật vừa có cá tính riêng, vừa đại diện cho một lớp người, và tính cách ấy được giải thích bằng chính môi trường xã hội đã sinh ra nó. Khái niệm nhân vật trong tác phẩm văn học sẽ giúp hiểu rõ hơn chữ “điển hình”.
Tính cách phát triển theo hoàn cảnh
Nhân vật hiện thực không đứng yên. Hoàn cảnh đổi thì con người đổi, có khi tốt lên, thường là bị tha hóa. Lão Hạc, Chí Phèo của Nam Cao là những ví dụ người Việt quen thuộc.
Giọng kể khách quan
Tác giả ít khi bộc lộ cảm xúc trực tiếp; thái độ ẩn trong cách lựa chọn chi tiết. Ngôn ngữ gần đời sống, có cả tiếng lóng, giọng nói của từng tầng lớp.
Những tên tuổi lớn của chủ nghĩa hiện thực
| Nước | Nhà văn | Tác phẩm nên biết |
|---|---|---|
| Pháp | Stendhal, Balzac, Flaubert | Đỏ và đen; Tấn trò đời (gồm Lão Goriot, Eugénie Grandet…); Bà Bovary |
| Anh | Charles Dickens | Oliver Twist, David Copperfield |
| Nga | Lev Tolstoy, Anton Chekhov | Chiến tranh và hòa bình, Anna Karenina; các truyện ngắn của Chekhov |
| Việt Nam | Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao… | Tắt đèn, Số đỏ, Chí Phèo, Lão Hạc |
Balzac được xem là đại diện nổi bật nhất của tiểu thuyết hiện thực thế kỉ XIX, nhờ lối tả chi tiết và cách cho nhân vật xuất hiện lại qua nhiều cuốn, tạo nên cả một xã hội Pháp trên trang giấy. Flaubert với Bà Bovary thì kể bi kịch của một người phụ nữ tỉnh lẻ sống bằng những ảo mộng lãng mạn, một cách nhìn rất hiện thực về chính chủ nghĩa lãng mạn.
Ở Việt Nam, học sinh gặp chủ nghĩa hiện thực rõ nhất qua Nam Cao, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng; có thể đọc danh mục tác phẩm tiêu biểu của Nam Cao và các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng. Muốn tập nhận diện chi tiết điển hình, bài soạn Lão Hạc (Cánh diều) là chỗ luyện tốt.
Hiện thực, lãng mạn và tự nhiên chủ nghĩa đặt cạnh nhau
| Tiêu chí | Chủ nghĩa hiện thực | Chủ nghĩa lãng mạn | Chủ nghĩa tự nhiên |
|---|---|---|---|
| Cách nhìn đời | Khách quan, phân tích quan hệ xã hội | Chủ quan, theo cảm xúc và mơ ước | Ghi chép như “chụp ảnh”, nhấn mạnh yếu tố sinh lí, di truyền |
| Nhân vật | Bình thường mà điển hình | Phi thường, khác người | Bị chi phối bởi bản năng, môi trường |
| Chi tiết | Chọn lọc để nói lên bản chất | Phóng đại, tương phản | Dàn trải, đôi khi trần trụi |
| Thể loại mạnh | Tiểu thuyết, truyện ngắn | Thơ trữ tình, tiểu thuyết | Tiểu thuyết |
Chủ nghĩa tự nhiên đôi khi bị dùng lẫn với chủ nghĩa hiện thực, nhưng hai khái niệm không trùng nhau: hiện thực chọn chi tiết để khái quát, tự nhiên thì ghi lại mọi thứ mà ít khái quát.
Chú ý thêm một điều: hiện thực không có nghĩa là “không hư cấu”. Nhà văn hiện thực vẫn bịa ra nhân vật và cốt truyện; cái thật nằm ở quy luật đời sống mà câu chuyện phản ánh. Bài yếu tố hư cấu trong văn học giải thích kĩ chỗ này.
Tự kiểm tra về chủ nghĩa hiện thực
Câu 1: Nêu nghĩa rộng và nghĩa hẹp của “hiện thực” trong văn học.
Đáp án: Nghĩa rộng là tính hiện thực, mối liên hệ của tác phẩm với đời sống, có ở mọi thời kì; nghĩa hẹp là chủ nghĩa hiện thực, một trào lưu và phương pháp sáng tác hình thành ở châu Âu thế kỉ XIX.
Câu 2: “Nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình” nghĩa là gì?
Đáp án: Nhân vật vừa có cá tính riêng vừa tiêu biểu cho một lớp người, và được đặt trong hoàn cảnh xã hội tiêu biểu, giải thích được vì sao nhân vật có tính cách, số phận như vậy.
Câu 3: Trong các tác giả sau, ai thuộc chủ nghĩa hiện thực: Victor Hugo, Balzac, Xuân Diệu, Nam Cao?
Đáp án: Balzac và Nam Cao. Victor Hugo và Xuân Diệu thuộc khuynh hướng lãng mạn.
Câu 4: Vì sao Lão Hạc được xem là tác phẩm hiện thực?
Đáp án: Truyện tái hiện chân thực đời sống người nông dân nghèo trước Cách mạng (đói, nợ, phải bán cậu Vàng), nhân vật lão Hạc tiêu biểu cho lớp người lương thiện bị dồn vào đường cùng, giọng kể tỉnh táo, nhiều chi tiết đời thường.
Nhận diện một trang văn hiện thực, hãy để ý xem mỗi chi tiết có trả lời được câu hỏi “vì sao con người này sống như thế” hay không. Cái món nợ, cái thẻ sưu, con chó vàng đều có lí do của chúng.
Engels, Balzac và những chữ hay đi kèm
Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam bắt đầu từ khi nào?
Yếu tố hiện thực có từ văn học trung đại, nhưng chủ nghĩa hiện thực thành một trào lưu rõ rệt từ đầu thập niên 1930, với văn xuôi của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng và đỉnh cao là Nam Cao.
Chủ nghĩa hiện thực có phải chỉ biết phê phán?
Không. Phê phán xã hội là nét nổi bật ở thế kỉ XIX và ở Việt Nam 1930–1945, nên mới có tên “hiện thực phê phán”. Nhưng chủ nghĩa hiện thực còn mang lòng nhân ái sâu sắc, trân trọng phần lương thiện của con người nhỏ bé.
Realism là gì trong văn học?
Realism là tên tiếng Anh của chủ nghĩa hiện thực. Ngoài văn học, từ này còn dùng cho hội họa hiện thực (như tranh của Gustave Courbet) và cho một số trường phái triết học.
Truyện ngắn có viết theo chủ nghĩa hiện thực được không?
Được. Chekhov ở Nga, Nam Cao ở Việt Nam là bậc thầy truyện ngắn hiện thực: chỉ một lát cắt đời sống mà nói được cả số phận một lớp người.