Tập làm một bài thơ lục bát là bài Viết sáng tác đầu tiên của học sinh lớp 6. Đề này nằm ở tập một trong cả ba bộ: Bài 4 Quê hương yêu dấu của Ngữ văn 6 Kết nối tri thức, Bài 3 Vẻ đẹp quê hương của Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo (mục Làm một bài thơ lục bát) và Bài 2 Thơ lục bát của Ngữ văn 6 Cánh diều. Trang này tóm lại luật thơ cần nhớ, các bước làm một bài thơ và 13 bài thơ mẫu tự sáng tác, dài từ bốn đến mười hai dòng. Bài nào cũng đã được đếm tiếng, dò vần và kiểm thanh bằng trắc từng dòng, kèm một đoạn ngắn kể lại người viết đã làm bài thơ ấy như thế nào.

Yêu cầu khi tập làm một bài thơ lục bát
Đề bài không chấm em có thành nhà thơ hay chưa. Điều thầy cô cần thấy là em nắm được luật của thể thơ và dùng luật ấy để nói một cảm xúc thật của mình. Một bài làm đạt yêu cầu gồm hai phần: bài thơ lục bát (ít nhất hai cặp lục – bát, tức bốn dòng) và, khi đề yêu cầu chia sẻ, vài câu nói về đề tài, ý tưởng và cách em gieo vần.
| Tiêu chí | Bài thơ đạt khi |
|---|---|
| Số tiếng | Dòng lục 6 tiếng, dòng bát 8 tiếng, xếp xen kẽ; bài thơ bắt đầu bằng dòng lục, kết thúc bằng dòng bát. |
| Vần | Vần lưng: tiếng 6 của câu lục hiệp vần với tiếng 6 của câu bát đi liền. Vần chân: tiếng 8 câu bát hiệp vần với tiếng 6 câu lục kế tiếp. Tiếng mang vần đều là thanh bằng. |
| Thanh điệu | Dòng lục: tiếng 2 – 4 – 6 là bằng – trắc – bằng. Dòng bát: tiếng 2 – 4 – 6 – 8 là bằng – trắc – bằng – bằng. Các tiếng 1, 3, 5, 7 được tự do. |
| Nhịp | Phần lớn các dòng chia nhịp đôi, mỗi nhịp hai tiếng; dòng bát có khi chia làm hai nửa bốn tiếng. Được đổi nhịp ở dòng cần nhấn mạnh. |
| Nội dung | Có một đề tài rõ (người thân, thầy cô, cảnh vật, một việc em chứng kiến…), có hình ảnh cụ thể và một cảm xúc em thật sự có. |
| Từ ngữ | Từ gợi hình, gợi âm thanh; ít nhất một biện pháp tu từ (so sánh, nhân hóa, điệp từ…); không vì ép vần mà dùng từ sai nghĩa. |
| Bộ sách | Vị trí | Đề và điểm cần lưu ý |
|---|---|---|
| Kết nối tri thức | Tập 1, Bài 4 Quê hương yêu dấu (trang 100–101) | Làm thử một bài thơ lục bát về đề tài em yêu thích. Sách cho khởi động bằng bài tập điền tiếng hợp vần vào chỗ trống, rồi chọn đề tài (thiên nhiên, quê hương, gia đình, bạn bè, mái trường…), viết, sau cùng đọc diễn cảm để tự soát số tiếng, vần, thanh điệu. |
| Chân trời sáng tạo | Tập 1, Bài 3 Vẻ đẹp quê hương | Làm một bài thơ lục bát nói lên cảm xúc và điều em nghĩ về một cảnh đẹp, hay một việc em đã tận mắt thấy. Sách phân tích bài thơ mẫu Chăn trâu đốt lửa (Đồng Đức Bốn) rồi hướng dẫn bốn bước: xác định đề tài, tìm ý tưởng, làm thơ, chỉnh sửa và chia sẻ. |
| Cánh diều | Tập 1, Bài 2 Thơ lục bát (trang 43–45) | Phần định hướng cho điền từ hợp vần, ghi kí hiệu B, T vào từng tiếng để tự rút ra luật; phần thực hành cho viết tiếp dòng bát và làm một bài thơ lục bát độ dài tự chọn, viết về cha mẹ, ông bà hay thầy cô. |
Một ví dụ cho thấy luật nhịp không cứng nhắc: dòng cuối bài thơ mẫu của sách Chân trời sáng tạo, “Củ khoai nướng để cả chiều thành tro”, ngắt nhịp 3/3/2 chứ không chia đôi đều như thường lệ. Nhịp lạ ấy làm câu thơ chậm lại đúng lúc buổi chiều tàn. Vậy nên em cứ giữ chặt luật vần và luật bằng trắc ở các tiếng chẵn, còn nhịp thì được phép đổi khi muốn nhấn một ý.
Dàn ý các bước làm một bài thơ lục bát
1. Trước khi viết
– Chọn một đề tài nhỏ và gần: không viết “về mẹ” chung chung mà viết về một việc mẹ làm, một giờ phút cụ thể.
– Ghi ra giấy ba đến năm hình ảnh, âm thanh gắn với đề tài (tiếng còi, sợi chỉ, mùi đất sau mưa…).
– Gạch dưới cảm xúc chính: thương, nhớ, biết ơn, vui, ngạc nhiên, áy náy…
2. Viết bài thơ
– Hai dòng đầu: đưa người đọc vào cảnh hoặc giới thiệu người em viết, nên mở bằng hình ảnh, thời gian, nơi chốn.
– Các dòng giữa: kể, tả vài chi tiết đắt nhất; mỗi cặp lục – bát nên có một ý.
– Hai dòng cuối: để cảm xúc bật ra bằng một hình ảnh, một câu nói, một phát hiện, tránh câu hô khẩu hiệu.
– Viết đến đâu, đếm tiếng và dò vần đến đó: tiếng 6 dòng bát phải “bắt” được vần của tiếng 6 dòng lục trên nó.
3. Sau khi viết
– Đọc to cả bài, chỗ nào vấp là chỗ cần sửa.
– Kiểm từng dòng theo bảng: tiếng 2 bằng, tiếng 4 trắc, tiếng 6 bằng, tiếng 8 (dòng bát) bằng.
– Viết đoạn chia sẻ ngắn: em chọn đề tài gì, vì sao, hình ảnh nào em thích nhất, dòng nào em phải sửa nhiều lần.
Mẹo tìm vần: khi đã có tiếng thứ 6 của dòng lục, hãy liệt kê nhanh mọi tiếng bằng cùng vần (xe – che – nghe – tre – hè…) rồi chọn tiếng hợp ý nhất. Đặt tiếng ấy vào vị trí 6 của dòng bát trước, sau đó mới lấp các tiếng còn lại.
Thơ lục bát về cha mẹ, ông bà, thầy cô
Đây là đề tài sách Cánh diều nêu, cũng là đề tài nhiều bạn chọn nhất. Bốn bài dưới đây tránh lối khen chung “công cha nghĩa mẹ” mà đi vào một công việc, một thói quen cụ thể của người được viết.
Mẫu 1: Mẹ đi ca sớm (8 dòng)
Năm giờ mẹ đã dắt xe
Ngoài hiên sương vẫn còn che ngọn bàng.
Con nằm nghe cửa khẽ khàng
Bóng lưng mẹ khuất sau hàng keo non.
Chiều về túi áo mẹ còn
Vương vài sợi chỉ trắng tròn như tơ.
Mẹ rằng: áo ấm ai chờ
Mỗi đường kim chạy kịp giờ gió đông.
Chia sẻ cách làm: Mẹ em làm công nhân may, tuần nào đến ca sáng cũng ra khỏi nhà lúc trời chưa sáng. Em không muốn viết “mẹ vất vả” nên chỉ giữ hai hình ảnh: tiếng cửa khép rất nhẹ lúc năm giờ và mấy sợi chỉ trắng mắc trong túi áo mẹ buổi chiều. Câu khó nhất là dòng thứ tám. Tiếng thứ sáu phải vần với “chờ”, em thử “mơ”, “thơ”, “tờ” đều không hợp, đến khi nghĩ ra “kịp giờ” thì cả câu có nghĩa: mẹ may cho kịp trước khi gió mùa về. Em cũng để ý chữ thứ sáu và thứ tám ở mỗi dòng bát có một chữ thanh huyền, một chữ thanh ngang, đọc lên nghe êm hơn.
Mẫu 2: Ông đan rổ (6 dòng)
Ông ngồi chẻ lạt gốc cau
Sợi tre mỏng mảnh qua mau bàn tay.
Nan đan ngang dọc từng ngày
Rổ thưa đựng nắng, rổ dày đựng rau.
Ông cười, chòm tóc trắng phau:
Rổ ông đan để mai sau cháu dùng.
Chia sẻ cách làm: Bài này bắt đầu từ một câu em nghĩ ra trước tiên: rổ thưa đựng nắng, rổ dày đựng rau. Ông nội em đan rổ rá để dùng trong nhà, cái rổ thưa thường được đem phơi ngoài sân nên em tưởng tượng nó đựng nắng. Có câu ấy rồi em mới viết ngược lên hai dòng đầu và xuôi xuống hai dòng cuối. Vần “au” khá nhiều chữ (cau, mau, rau, phau, sau) nên em gieo vần này hai lần, xen giữa là vần “ay” (tay, ngày, dày), đọc nghe như một chuỗi. Em chỉ viết sáu dòng vì thấy câu nói của ông ở cuối đã đủ ý, viết thêm sẽ thành giải thích.
Mẫu 3: Thầy dạy Thể dục (8 dòng)
Còi thầy vang giữa sân trường
Hàng dài xếp thẳng như đường chỉ may.
Thầy rằng: chạy chậm cũng hay
Miễn là không bỏ, mỗi ngày một hơn.
Mưa phùn sân ướt, đất trơn
Thầy đi phía trước, áo sờn vai xanh.
Hôm thi, em chạy về nhanh
Ngoảnh nhìn, thầy vỗ tay thành nhịp vui.
Chia sẻ cách làm: Bạn bè trong lớp hay làm thơ về cô giáo dạy Văn, dạy Toán, nên em chọn thầy dạy Thể dục cho khác. Lúc đầu em định viết tên môn học vào dòng đầu, nhưng chữ “dục” thanh nặng, đặt ở vị trí 6 là sai luật, nên em thay bằng tiếng còi, thứ ai cũng nhớ khi nghĩ đến giờ Thể dục. Bài có ba cảnh: buổi xếp hàng, một sáng mưa phùn, ngày kiểm tra chạy. Em giữ lời dặn của thầy nguyên ý ở dòng ba và bốn, chỉ sửa chữ cho vừa sáu – tám tiếng.
Mẫu 4: Bố làm thợ xây (12 dòng)
Bố em xây những ngôi nhà
Tầng cao tầng thấp, xa xa phố phường.
Sáng đi khi mới mờ sương
Tối về áo bố còn vương bụi hồ.
Tay chai như vỏ cây khô
Bố khoe: chai ấy là đồ nghề riêng.
Trên cao giàn giáo nghiêng nghiêng
Gió lùa, bố vẫn tay siêng trát tường.
Mai sau qua những con đường
Nhìn bao cửa sáng, con thương bố nhiều.
Nhà người xây được bao nhiêu
Nhà mình nhỏ, bữa cơm chiều đủ vui.
Chia sẻ cách làm: Mười hai dòng là bài dài nhất em từng làm. Để không bị lạc ý, em chia trước thành ba phần, mỗi phần bốn dòng: công việc của bố, đôi tay và giàn giáo, rồi điều em nghĩ khi đi qua những ngôi nhà bố xây. Chữ “bụi hồ” ở dòng bốn là từ bố hay dùng, hồ tức là vữa trộn từ xi măng và cát. Câu bố đùa về vết chai em nghe thật ở nhà, chỉ cần đổi vài chữ cho đúng luật. Dòng cuối em sửa nhiều nhất, có lúc định kết bằng một lời hứa học giỏi, nhưng đọc lại thấy giống khẩu hiệu nên đổi sang bữa cơm chiều của nhà mình. Hai dòng mười một và mười hai đặt cạnh nhau hai ngôi nhà: những ngôi nhà bố xây cho người khác và căn nhà nhỏ của nhà em. Em không muốn than nhà mình nhỏ, chỉ muốn nói nhà nhỏ mà vẫn ấm. Bài dài nên em đọc to nhiều lần để nghe nhịp có đều không; đến dòng tám em thấy hơi vấp ở chữ “trát”, nhưng đó là tiếng thứ bảy, không cần theo luật, và em giữ vì nó đúng là việc bố làm.
Thơ lục bát về cảnh đẹp và sự việc em chứng kiến
Nhóm này hợp với đề của sách Chân trời sáng tạo. Cảnh có thể rất gần, như một cơn mưa trên phố, cũng có thể là nơi em mới đến một lần. Sự việc thì chọn việc em tận mắt thấy, có diễn biến, để bài thơ vừa kể vừa tả.
Mẫu 5: Mưa đầu mùa (4 dòng)
Chiều nay mưa đến bất ngờ
Mái tôn đánh trống, hàng cờ reo vang.
Lá me rũ bụi nhẹ nhàng
Phố quen như mới sang trang sáng bừng.
Chia sẻ cách làm: Bốn dòng là độ dài tối thiểu của một bài lục bát, nên mỗi chữ phải làm việc. Em ghi lại thanh điệu để tự kiểm tra:
| Dòng | Tiếng 2 | Tiếng 4 | Tiếng 6 | Tiếng 8 |
|---|---|---|---|---|
| Lục 1 | nay (B) | đến (T) | ngờ (B) | |
| Bát 1 | tôn (B) | trống (T) | cờ (B, vần với ngờ) | vang (B) |
| Lục 2 | me (B) | bụi (T) | nhàng (B, vần với vang) | |
| Bát 2 | quen (B) | mới (T) | trang (B, vần với nhàng) | bừng (B) |
Mưa trên mái tôn nghe như ai đánh trống, đó là chỗ em dùng phép nhân hóa. Dòng cuối em so sánh con phố sau mưa với một trang vở mới lật, vì mọi thứ bỗng sạch và sáng hẳn lên.
Mẫu 6: Ruộng bậc thang mùa nước đổ (8 dòng)
Tháng năm theo bố lên đèo
Ruộng thang nước đổ trong veo lưng đồi.
Mây bay xuống tắm, rồi trôi
Người đi cấy đứng giữa nôi mây trời.
Ngước nhìn, núi biếc xa vời
Bậc thang ai đắp mấy đời cha ông?
Lúc về ngoảnh lại mênh mông
Mang theo cả một cánh đồng treo mây.
Chia sẻ cách làm: Hè năm ngoái em theo bố lên một bản vùng cao Tây Bắc đúng lúc người ta dẫn nước vào ruộng bậc thang để cấy. Mỗi thửa ruộng như một mảnh gương, mây in xuống đó, nên em viết mây xuống tắm. Dòng sáu em đặt thành câu hỏi vì lúc đứng trên đèo em thật sự tự hỏi những bậc ruộng ấy được đắp từ bao giờ. Hình ảnh cánh đồng treo mây ở cuối bài em nghĩ ra trên xe lúc về, khi ngoái lại chỉ còn thấy ruộng lẫn vào mây. Cảm xúc của bài là ngạc nhiên rồi biết ơn, em không nói thẳng mà để trong câu hỏi.
Mẫu 7: Cây gạo đầu làng (8 dòng)
Tháng ba cây gạo đầu làng
Thắp trăm ngọn lửa rực sang bờ ao.
Đàn chim sáo sậu lao xao
Hoa rơi lả tả, đỏ chao mặt bèo.
Bà rằng: thuở ấy làng nghèo
Nhìn hoa mà đợi lúa reo ngoài đồng.
Giờ em học phố, gió đông
Khăn quàng bay đỏ như bông gạo về.
Chia sẻ cách làm: Em dựng bài thơ theo hai thời: bốn dòng đầu là cây gạo ở quê, bốn dòng sau là lời bà kể và chính em bây giờ. So sánh hoa gạo với ngọn lửa thì nhiều người đã viết, nên em cố tìm thêm một hình ảnh của riêng mình. Một sáng chào cờ, chiếc khăn quàng đỏ của bạn đứng trước bay lên trong gió, em chợt nhớ đến bông gạo, thế là có dòng kết. Vần ở bài này đổi liên tục (ang, ao, eo, ông), em thấy đọc lên không bị đơn điệu.
Mẫu 8: Trên sân thượng (8 dòng)
Tối nay bố dắt lên tầng
Tìm sao, lại thấy đèn dâng khắp trời.
Phố như dải lụa ai phơi
Đèn xe nối chuyến sáng ngời đường xa.
Năm mười hai tuổi, ở nhà
Bố nằm đếm cả ngân hà giữa sân.
Con tìm, chợt thấy rất gần
Một ngôi sao nhỏ trong ngần mắt cha.
Chia sẻ cách làm: Nhà em ở chung cư, buổi tối lên sân thượng gần như không thấy ngôi sao nào vì đèn thành phố quá sáng. Bố kể hồi bằng tuổi em, bố nằm trên sân phơi thóc ở quê mà đếm sao. Em muốn bài thơ có sự đối lập ấy: phố toàn đèn và một bầu trời đầy sao trong lời kể. Ở dòng tám em không chắc có nên dùng “cha” thay “bố” không. Cuối cùng em giữ “cha” vì nghe hợp vần với “xa”, “nhà”, “hà”, lại trang trọng hơn một chút ở câu kết.
Mẫu 9: Ở ngã tư (10 dòng)
Ngã tư đèn đỏ đèn xanh
Một bà chống gậy loanh quanh mép đường.
Dòng xe cuồn cuộn không nhường
Bà nhìn, bà ngại, phố phường như sông.
Có anh lớp chín đứng trông
Giơ tay xin lối, xe đông chậm dần.
Dắt bà từng bước ân cần
Sang bên kia phố, bà lần túi ra…
Anh cười, vội chạy đi xa
Bà nhìn theo mãi, mắt nhòa đèn xanh.
Chia sẻ cách làm: Chuyện này em thấy thật khi đứng chờ mẹ ở cổng trường: một anh khối trên dắt một bà cụ qua đường rồi chạy đi, không nhận gì. Vì là chuyện có diễn biến nên em viết theo đúng thứ tự: bà đứng chờ, anh xuất hiện, hai người qua đường, lúc chia tay. Dấu ba chấm sau chữ “túi ra” để người đọc tự đoán bà định cho anh thứ gì. Em kết bằng chữ “đèn xanh” giống dòng đầu, như một vòng tròn khép lại, nhưng lần này đèn xanh nhòe đi trong mắt bà. Bài dài mười dòng mà em chỉ dùng toàn từ ngữ hằng ngày, không cần chữ cầu kì.
Thơ lục bát đề tài tự chọn
Sách Kết nối tri thức để em tự chọn đề tài, miễn là đề tài ấy khiến em có nhiều điều muốn nói. Bốn bài dưới đây đi bốn hướng: tình bạn, con vật, một lời nhắn và mái trường. Bài cuối có cả bản nháp để em thấy một bài thơ được sửa ra sao.
Mẫu 10: Bạn chuyển vào Nam (8 dòng)
Hè rồi cậu chuyển vào Nam
Ghế bên bỏ trống, vết lam mực nhòe.
Tối nay cậu gọi, em nghe
Đầu dây lẫn tiếng ve hè phương xa.
Cậu khoe trường mới gần nhà
Rồi im một lúc mới ra câu này:
Lớp mình chưa có ai hay
Giành phần cửa sổ, nắm tay đi về.
Chia sẻ cách làm: Điều em muốn giữ lại là khoảng im lặng trong cuộc gọi, khi bạn em đang kể vui rồi bỗng ngừng. Vì vậy dòng sáu kết bằng dấu hai chấm, hai dòng cuối là lời của bạn. Chữ “hay” ở dòng bảy nghĩa là thường làm một việc gì đó, ở đây là chưa có ai quen giành chỗ ngồi cạnh cửa sổ như hai đứa ngày trước. Em không viết chữ “nhớ” lần nào, chỉ để chiếc ghế trống và vết mực nói thay. Lúc đầu dòng hai của em là Bàn bên bỏ trống, mực lam còn nhòe, nhưng chữ “còn” ở giữa câu lại chẳng bắt vần được với “Nam”, nên em đảo lại thành “vết lam mực nhòe”. Tiếng ve ở dòng bốn là chi tiết có thật trong cuộc gọi, bên đó đang mùa hè mà ở đây đã sang thu.
Mẫu 11: Chú mèo mun (6 dòng)
Nhà em có chú mèo mun
Ban ngày ngủ khắp, đêm vun vút trèo.
Chuột nghe tiếng chú meo meo
Rủ nhau trốn biệt, chẳng leo lên xà.
Thế mà cá rán của bà
Hở ra một chút, chỉ ba xương thừa!
Chia sẻ cách làm: Em muốn làm một bài vui, đọc lên giống đồng dao. Bốn dòng đầu khen con mèo giỏi bắt chuột, hai dòng cuối lật lại: chính nó ăn vụng đĩa cá của bà. Cách đặt cái bất ngờ ở cuối bài em học từ những bài ca dao hài hước. Từ láy “vun vút” và tiếng kêu “meo meo” làm bài thơ có nhịp nhanh, hợp với một con mèo nghịch. Dòng cuối em ngắt bằng dấu chấm than để người đọc bật cười. Con mèo mun có thật, nó tên là Than, nhưng em không đưa tên vào vì chữ “Than” khó xếp vào vị trí nào cho đúng vần. Em đọc bài thơ cho bà nghe, bà cười bảo đĩa cá hôm đó đúng là chỉ còn xương.
Mẫu 12: Khóa vòi nước (4 dòng)
Rửa tay xong, nhớ khóa vòi
Giọt rơi tí tách như đòi về sông.
Biết bao ruộng khát, cánh đồng
Đang chờ từng giọt ta không phí hoài.
Chia sẻ cách làm: Em làm bài thơ sau khi học một văn bản về nước ngọt và thấy vòi ở nhà vệ sinh trường hay bị bỏ chảy. Em muốn viết một lời nhắc dán cạnh bồn rửa tay, nên phải ngắn và dễ thuộc. Phép nhân hóa ở dòng hai làm giọt nước như đang đòi về nhà, đỡ khô khan hơn một câu khẩu hiệu. Hai chữ “sông” và “đồng” được gieo vần rồi lại vần tiếp với “không”, ba tiếng cùng vần ông khiến bốn dòng liền một hơi. Bạn lớp trưởng chép bài thơ lên một tờ bìa màu xanh, dán cạnh bồn rửa tay của lớp. Em nghĩ một bài thơ ngắn để nhắc việc thì càng ít chữ càng tốt, nên không thêm dòng nào nữa.
Mẫu 13: Hàng sấu cổng trường, từ bản nháp đến bản sửa (6 dòng)
Cổng trường sấu đứng hai hàng
Tháng tư hoa rụng rải sang lối về.
Tháng năm quả nhỏ chua tê
Ăn vào nhăn mặt, vẫn mê, vẫn thèm.
Mai xa trường cũ, nhớ đem
Chút chua quả sấu, ngọt kem cổng trường.
Chia sẻ cách làm: Bản nháp đầu tiên của em có ba lỗi. Dòng một viết Trước cổng trường có hàng sấu xanh, đếm ra bảy tiếng. Dòng hai viết Tháng tư hoa sấu rụng đầy sân trường, tiếng thứ sáu là “đầy” không vần với “xanh”. Dòng bốn viết Ăn vào nhăn mặt mà thích ghê, lại chỉ có bảy tiếng trong khi dòng bát cần tám. Em sửa dòng một trước, đổi thành “sấu đứng hai hàng” cho đủ sáu tiếng và lấy vần “ang”, sau đó dòng hai chỉ cần tìm một chữ vần “ang” là “sang”. Dòng bốn em thêm điệp từ “vẫn mê, vẫn thèm” vừa đủ tám tiếng vừa nghe giống giọng học trò. Hai chữ “cổng trường” ở đầu và cuối bài em cố ý giữ lại. Sửa xong, em kẻ một bảng nhỏ ở lề vở, ghi thanh của tiếng 2, 4, 6, 8 từng dòng như sách Cánh diều hướng dẫn, thấy dòng nào cũng đúng bằng – trắc – bằng mới chép sạch. Bản nháp có một ý em tiếc phải bỏ: cảnh bác bảo vệ dùng sào khều quả sấu cho cả lớp. Ý ấy cần thêm hai dòng nữa, mà đọc lên thì bài thơ bị loãng, nên em để dành cho một bài văn tả cảnh. Bài học lớn nhất của em là sửa thơ không phải chỉ sửa chữ sai luật, mà còn bỏ bớt những gì không cần.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi | Sửa thế nào |
|---|---|
| Dòng thơ thừa hoặc thiếu tiếng (dòng lục 7 tiếng, dòng bát 7 hay 9 tiếng) | Đếm bằng ngón tay khi đọc. Thừa thì bỏ hư từ (thì, là, mà, đã); thiếu thì thêm một từ láy hoặc một từ chỉ thời gian, nơi chốn. |
| Gieo vần sai chỗ: tiếng 8 dòng bát vần với tiếng 8 dòng bát sau | Nhớ hai điểm nối: 6 với 6 (trong một cặp), 8 với 6 (sang cặp sau). Gạch chân các tiếng ấy trên bản nháp để soát. |
| Tiếng mang vần là thanh trắc (kết dòng bát bằng “hết”, “mãi”, “lắm”) | Tiếng 6, 8 phải là thanh bằng (không dấu hoặc dấu huyền). Đổi từ cùng nghĩa: “mãi” có thể đổi thành “hoài”. |
| Tiếng 2 hoặc 4 sai thanh, đọc lên trúc trắc | Thay một từ cùng nghĩa khác thanh hoặc đảo trật tự từ. Ví dụ dòng lục Mẹ em hiền như bà tiên có tiếng 4 “như” là thanh bằng nên sai luật; sửa thành Mẹ em hiền dịu như tiên thì tiếng 4 “dịu” là trắc, tiếng 6 “tiên” là bằng. |
| Ép vần làm câu sai nghĩa hoặc khó hiểu | Liệt kê nhiều tiếng cùng vần rồi chọn tiếng hợp ý; nếu không có, sửa luôn tiếng 6 của dòng lục phía trên để đổi sang vần khác dễ hơn. |
| Chép lại hoặc ghép ca dao quen thuộc (“công cha như núi…”) | Đề yêu cầu em tự làm. Mượn hình ảnh của ca dao cũng được, nhưng câu chữ phải là của em và gắn với người, việc cụ thể. |
| Bài thơ toàn lời khen, lời hứa chung chung | Thay mỗi lời khen bằng một chi tiết: thay vì “mẹ em vất vả”, hãy viết mẹ đi làm lúc mấy giờ, tay mẹ ra sao. |
| Quên phần chia sẻ hoặc chia sẻ một câu | Viết một đoạn ngắn: đề tài, lí do chọn, hình ảnh em thích nhất, dòng nào em sửa và vì sao. |
Mẹo nâng điểm: ở dòng bát, nếu tiếng thứ 6 mang thanh huyền thì cho tiếng thứ 8 mang thanh ngang, hoặc ngược lại, câu thơ sẽ có độ trầm bổng. Đây không phải lỗi nếu em chưa làm được, nhưng nhiều câu lục bát hay đều như vậy, như các dòng bát trong Mẫu 1 và Mẫu 4 ở trên.
Chọn bài mẫu nào để tập làm thơ?
Nếu đề yêu cầu viết về người thân hay thầy cô (Cánh diều), hãy đọc Mẫu 1 đến Mẫu 4 và chú ý cách mỗi bài chỉ chọn một công việc của người được viết. Nếu đề là cảnh đẹp hoặc sự việc em chứng kiến (Chân trời sáng tạo), Mẫu 5 đến Mẫu 9 cho thấy cách vừa kể vừa tả trong khuôn sáu – tám. Với đề tự chọn (Kết nối tri thức), Mẫu 13 là bài nên đọc kĩ nhất, vì có cả bản nháp và cách sửa. Các bài thơ mẫu chỉ để em học cách gieo vần và chọn hình ảnh; bài của em nên kể chuyện nhà mình, trường mình.
Xem thêm:
- Soạn bài Chùm ca dao về quê hương đất nước, Soạn bài Chuyện cổ nước mình, Soạn bài Cây tre Việt Nam (Bài 4, Kết nối tri thức 6)
- Soạn bài Những câu hát dân gian về vẻ đẹp quê hương, Soạn bài Việt Nam quê hương ta, Soạn bài Hoa bìm (Bài 3, Chân trời sáng tạo 6)
- Soạn bài À ơi tay mẹ, Soạn bài Về thăm mẹ (Bài 2, Cánh diều 6)
- Đoạn văn ghi lại cảm xúc về một bài thơ lục bát (bài Viết đi cùng ở lớp 6)
- Cách làm thơ lục bát và những bài lục bát hay
- Bài văn mẫu khác của lớp 6: Kể lại một trải nghiệm của em, Tả cảnh sinh hoạt