Những chiều vác củi trên núi về, cô bé ấy hay dừng lại nhìn xuống thung lũng: thấy khói bếp nhà mình bay lên là biết mẹ đã nhóm lửa nấu cơm. Đỗ Bích Thúy (sinh năm 1974) là nhà văn quân đội, người Kinh sinh ra và lớn lên trong một bản Tày ở Hà Giang, tác giả truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá mà bộ phim Chuyện của Pao chuyển thể. Làn khói chiều năm ấy về sau thành tản văn Và tôi nhớ khói trong sách Ngữ văn 6. Hơn ba mươi năm cầm bút, chị viết gần như trọn vẹn về miền núi phía Bắc, nhiều nhất là về những người phụ nữ Mông, Tày, Dao.
Cô bé người Kinh trong một bản Tày gần sông Lô

| Tên khai sinh | Đỗ Thị Bích Thúy |
| Năm sinh | 13/4/1974 (theo hồ sơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội); một số báo ghi năm 1975 |
| Quê quán | Xã Xuân Bắc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; sinh ra và lớn lên ở Hà Giang |
| Học vấn | Khoa Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền |
| Nơi công tác | Báo Hà Giang; từ năm 2001 là Tạp chí Văn nghệ Quân đội (Phó Tổng biên tập 2009 – 2019), quân hàm Thượng tá |
| Thể loại | Truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, tản văn, kịch bản phim |
| Tác phẩm tiêu biểu | Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, Bóng của cây sồi, Chúa đất, Lặng yên dưới vực sâu, Cửa hiệu giặt là, Tôi đã trở về trên núi cao |
| Giải thưởng | Giải Nhất truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội (1999 – 2000); giải Nhất tiểu thuyết Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam (2013); giải thưởng Văn học nghệ thuật Thủ đô (2014) |
| Trong SGK | Và tôi nhớ khói (Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo); Chuỗi hạt cườm màu xám (Ngữ văn 8 Cánh diều) |
Gia đình gốc Nam Định, nhưng Thúy chào đời và lớn lên ở Hà Giang, trong một thung lũng của người Tày cách trung tâm tỉnh chừng mười cây số. Chị kể với báo Phụ nữ Việt Nam rằng bốn phía thung lũng là rừng, đi hết thung lũng thì gặp sông Lô, bên kia sông lại là núi nối núi. Bố mẹ làm nông. Trẻ con trong bản chỉ đi học một buổi, buổi còn lại giúp việc nhà: lên rừng lấy củi, cắt cỏ, chặt chuối rừng về nấu cám lợn. Chi tiết này chị nhắc lại gần như y nguyên trong nhiều cuộc phỏng vấn, và nó cũng chính là chất liệu của những trang tản văn về khói bếp.
Bố mẹ không làm nghề chữ nghĩa nhưng chịu mua sách cho con. Theo lời chị kể với Tạp chí Xây dựng Đảng, niềm vui lớn nhất thuở bé là theo mẹ đi chợ phiên bán cam, chờ mẹ bán hết hàng để được vào hiệu sách. Những cuốn sách mỏng được cô bé đóng thành tập, đề tên mình lên bìa và cấm người khác đụng vào. Năm 2023, trả lời báo Thể thao và Văn hóa, chị còn nhớ những cuốn sách thiếu nhi Nga từng làm mình mơ mộng, như Chó hoang Dingo, và cái ý nghĩ rất nghiêm túc của một đứa trẻ: liệu mình có thể trở thành nhà văn không.
Truyện ngắn trên báo Tiền Phong và những năm làm phóng viên vùng cao
Con đường đến với nghề viết của Đỗ Bích Thúy đi một đoạn vòng. Học hết phổ thông, chị theo học ngành tài chính – kế toán và nghĩ đời mình sẽ gắn với những con số. Nhưng việc viết thì không dừng: năm 1994, bài tản văn Con của rừng được in trên tạp chí Tuổi Xanh, nhuận bút mười nghìn đồng. Chị gọi khoản tiền nhỏ ấy là cú hích khiến mình viết liền mấy năm, gửi bài đi khắp các báo. Hồ sơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội cũng lấy năm 1994 làm năm bắt đầu sáng tác.
Bước ngoặt đến từ một truyện ngắn. Theo lời chị trong bài phỏng vấn đăng trên Tạp chí Xây dựng Đảng (2011), nhờ truyện Chuỗi hạt cườm màu xám đăng trên báo Tiền Phong, chị được mời về Hội Văn nghệ Hà Giang ngay khi vừa ra trường. Chính lãnh đạo Hội lại khuyên chị chuyển sang làm báo cho có điều kiện đi thực tế. Thế là cô sinh viên kế toán vừa ra trường thành phóng viên báo Hà Giang.
Những năm làm báo ấy về sau thành vốn liếng. Chị kể với Tuổi Trẻ rằng mỗi chuyến công tác vào bản, lên biên giới thường kéo dài cả nửa tháng, ăn ở cùng bà con để lấy tư liệu; bao nhiêu chuyện nghe được khi ấy chị chưa nghĩ sẽ dùng để viết văn. Về độ dài quãng làm báo, hai bài phỏng vấn ghi khác nhau, bốn năm hoặc năm năm. Trong thời gian đó, cơ quan động viên chị đi học bài bản, và chị tốt nghiệp khoa Báo chí của Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Giải nhất năm 1999 và hai mươi năm ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội
Cái tên Đỗ Bích Thúy được giới văn chương chú ý từ cuộc thi truyện ngắn 1999 – 2000 của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, cuộc thi mang tên Hướng tới giao thừa thế kỷ (báo Tin tức ghi là giao thừa thiên niên kỷ). Chị đoạt giải Nhất với chùm ba truyện Ngải đắng ở trên núi, Sau những mùa trăng và Đêm cá nổi. Báo Nhân Dân về sau gọi đó là lần chị “bất ngờ xuất hiện trên văn đàn”.
Năm 2001, chị rời Hà Giang về Hà Nội, vào Ban Văn xuôi của tạp chí, tòa soạn từng là nơi làm việc của những cây bút như Nguyễn Minh Châu. Niên giám của tạp chí ghi các bước tiếp theo: năm 2007 làm Thư ký tòa soạn, năm 2009 được đề bạt Phó Tổng biên tập. Chị giữ cương vị này mười năm, đến 2019, rồi chuyển về Ban Sáng tác, mang quân hàm Thượng tá. Tạp chí Xây dựng Đảng năm 2011 giới thiệu chị là nữ Phó Tổng biên tập đầu tiên trong lịch sử hơn nửa thế kỷ của tạp chí.

Có một chuyện nhỏ mà chị kể với Tuổi Trẻ năm 2011. Nhà văn Nguyễn Khải từng viết thư nhận xét: đọc riêng từng truyện của Đỗ Bích Thúy thì hay, nhưng đọc liền cả chục truyện thì mệt. Chị thú nhận mình bị sốc, vì trước đó chưa ai nói thẳng như vậy. Từ lá thư ấy, chị viết chậm lại, cân nhắc từng câu hơn khi làm truyện vừa Lặng yên dưới vực sâu. Chị gói gọn trong một câu: viết ít đi vì biết sợ, sợ nhất là làm người đọc thất vọng.
Pao, Súa, Xính: những người đàn bà sau bờ rào đá
Hỏi chị vì sao truyện nào cũng có bóng người phụ nữ miền núi, câu trả lời trong bài phỏng vấn năm 2023 với Thể thao và Văn hóa khá thẳng: trong 23 cuốn sách đã in khi ấy, phần lớn lấy bối cảnh Hà Giang và phần lớn nhân vật chính là phụ nữ. Chị nói phụ nữ Mông đặc biệt vất vả, có rất ít năm tháng được vô lo, nhiều bé gái bị gả chồng sớm vì nhà nghèo, vì tục lệ. Chị viết về họ bằng lòng thương, và vì chính mình là phụ nữ nên nghĩ mình hiểu phụ nữ hơn.
Ba cuốn sách cho thấy rõ thế giới nhân vật ấy:
- Tiếng đàn môi sau bờ rào đá: truyện ngắn về cô gái Mông tên Pao, viết dựa trên những số phận có thật; nguyên mẫu là một người bạn gái của tác giả.
- Lặng yên dưới vực sâu: theo bài giới thiệu trên báo Nhân Dân, đây là chuyện tình rối rắm của những người trẻ Mông ở vùng U Khố Sủ: Vừ và Súa yêu nhau, nhưng Phống cướp Súa về làm vợ, còn Xí, bạn thân của Súa, lại thầm yêu Vừ.
- Chúa đất: theo Tạp chí Văn nghệ Quân đội, tiểu thuyết lấy cảm hứng từ truyền thuyết về Sùng Chúa Đà, một chúa đất người Mông khét tiếng tàn ác, và cây cột đá hành hình ở Đường Thượng, huyện Yên Minh. Cô gái Xính lọt vào mắt chúa đất là trung tâm của câu chuyện. Tạp chí còn cho biết chị viết cuốn này chỉ trong 17 ngày.
Giới nghiên cứu cũng chú ý tới mảng nhân vật này. Một bài trên Tạp chí Khoa học Đại học Cửu Long năm 2023 khảo sát nhân vật nữ trong truyện miền núi của chị, cho rằng họ thường bị đè nặng bởi định kiến, hủ tục và cái nghèo, nhưng ý thức được thân phận và căn nguyên nỗi khổ của mình. Đó cũng là cảm giác chung khi đọc chị: buồn, nhưng không phải nỗi buồn cam chịu.
Từ trang sách lên màn ảnh: Chuyện của Pao và những kịch bản tự viết
Ít nhà văn cùng thế hệ có quan hệ với điện ảnh gắn bó như Đỗ Bích Thúy. Mọi chuyện bắt đầu khi đạo diễn Ngô Quang Hải chuyển truyện Tiếng đàn môi sau bờ rào đá thành phim Chuyện của Pao, với Đỗ Thị Hải Yến trong vai Pao. Phim đoạt giải Cánh diều vàng 2005. Sau đó, chị tự tay viết kịch bản cho chính tác phẩm của mình, và đi theo một trình tự ngược thông lệ.
| Tác phẩm gốc | Đời sống trên màn ảnh | Sau đó |
|---|---|---|
| Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (truyện ngắn, in trong tập cùng tên năm 2005) | Phim điện ảnh Chuyện của Pao, đạo diễn Ngô Quang Hải | Cánh diều vàng 2005 |
| Lặng yên dưới vực sâu (truyện vừa, in trên báo Văn nghệ) | Phim truyền hình 32 tập, Đỗ Bích Thúy viết kịch bản | Viết thành tiểu thuyết, ra mắt tháng 4/2017 |
| Người yêu ơi (truyện ngắn, in trên báo Nhân Dân hằng tháng) | Kịch bản phim điện ảnh cùng tên | Viết thành tiểu thuyết, in năm 2021 |
Người ta thường viết tiểu thuyết trước rồi mới chuyển thành kịch bản. Chị làm ngược lại và giải thích với báo Nhân Dân lẫn Phụ nữ Việt Nam: viết cái gì trước không quan trọng, có những điều chỉ kịch bản làm được, có những điều chỉ văn chương làm được, nên đã có kịch bản rồi chị vẫn muốn có tiểu thuyết.
Chuyện của Pao còn có một đoạn hậu trường buồn. Trong tập tản văn Trên căn gác áp mái và khi trả lời Tuổi Trẻ, chị kể đã cùng đạo diễn Ngô Quang Hải đi gặp lại người bạn gái là nguyên mẫu của Pao. Đời thật của cô ấy khác xa những gì chị tưởng tượng, chẳng có cái kết đẹp nào. Chị bảo nếu gặp lại bạn trước khi viết, có lẽ đã không có nhân vật Pao như trên màn ảnh.
Rời núi về phố: Cửa hiệu giặt là và năm tập tản văn
Khi chị chuyển về Hà Nội năm 2001, nhiều người lo rằng xa đất cũ thì chất liệu miền núi sẽ cạn. Báo Tin tức nhận xét thực tế diễn ra ngược lại. Chị lý giải với báo Phụ nữ Việt Nam: lùi xa một vùng đất, có khoảng cách không gian và thời gian để nhìn lại, cảm xúc về nó sẽ mạnh hơn, nhiều chiều hơn.
Hà Nội cũng bước vào trang viết của chị, dù muộn. Cửa hiệu giặt là là tiểu thuyết đầu tiên chị viết về đời sống thị dân Hà Nội, được Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội trao giải năm 2014. Báo Nhân Dân coi đây là cuốn hơi tách khỏi dòng đề tài chính của chị.
Bên cạnh tiểu thuyết là tản văn, thể loại chị nói mình rất đắm đuối vì nó cho phép viết thật nhất về bản thân. Đến nay chị có năm tập:
- Trên căn gác áp mái (2011): 31 bài, từ tuổi thơ ở Hà Giang đến những ngày lập nghiệp ở Hà Nội.
- Đến độ hoa vàng (2013).
- Tôi đã trở về trên núi cao (2018): cuốn sách thứ 19 của chị, có bài Và tôi nhớ khói sau này vào sách giáo khoa.
- Thương nhau như người thân (2021): viết sau những chuyến đi, in kèm ảnh do tác giả tự chụp.
- Than đỏ dưới tro tàn (2023): tên sách lấy từ chữ người thầy của chị, nhà phê bình Văn Giá, dùng để gọi chị; có 15 minh họa của họa sĩ Lê Thiết Cương.
Chị cũng thử viết cho thiếu nhi. Năm 2011, Tuổi Trẻ giới thiệu tập truyện Hội Cầu vồng sắp in ở NXB Kim Đồng, dựng từ những chuyện cô con gái lớn kể cho mẹ nghe mỗi ngày trên đường đưa đón đi học.
Và tôi nhớ khói, Chuỗi hạt cườm màu xám: Đỗ Bích Thúy trong sách giáo khoa
Học sinh gặp Đỗ Bích Thúy ở hai bộ sách, một lần với tản văn, một lần với truyện ngắn:
| Văn bản | Thể loại | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|---|
| Và tôi nhớ khói | Tản văn, in trong Tôi đã trở về trên núi cao (2018) | Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 9 (Nuôi dưỡng tâm hồn), đọc kết nối chủ điểm | Bài soạn Và tôi nhớ khói |
| Chuỗi hạt cườm màu xám | Truyện ngắn | Ngữ văn 8 Cánh diều, tập 1 – Bài 1 (Truyện ngắn), phần Tự đánh giá | Chưa có bài |
Và tôi nhớ khói viết về ngọn khói trong căn bếp gia đình, mà theo tác giả cũng là ngọn khói của đời sống người miền núi: hơi ấm, sự sống, niềm vui giản dị. Trả lời Thể thao và Văn hóa, chị nói việc bài này được chọn vào sách là ngẫu nhiên, có lẽ người biên soạn thấy nó dễ chạm tới cảm xúc học sinh. Chị cũng lưu ý tản văn là thể loại không hư cấu: những em bé chăn trâu, mải chơi quên giờ cơm trong bài phần lớn mang hình ảnh của chính chị.
Chuỗi hạt cườm màu xám có số phận thú vị hơn: đây chính là truyện từng mở đường cho chị về Hội Văn nghệ Hà Giang. Truyện kể về Na, cô bé nhà nghèo sống cùng ông, và cậu bạn tên Di, người kể chuyện, quanh món quà là một chuỗi hạt cườm. Văn bản nằm ở phần Tự đánh giá cuối Bài 1, học sinh tự đọc và trả lời câu hỏi.
Hơn ba mươi năm cày một thửa ruộng
Tính đến tháng 11/2024, Đỗ Bích Thúy đã in 24 tác phẩm. Tiểu thuyết Chúa đất ra mắt ở Hàn Quốc tháng 1/2022, do Ahn Kyong Hwan dịch, Nhà xuất bản Hanse ấn hành với tài trợ của Hanse Yes 24 Foundation. Năm 2019, chị đoạt giải Nhì cuộc thi viết Quân đội anh hùng, Quốc phòng vững mạnh của Báo Quân đội nhân dân. Tập truyện mới nhất, Hoa xuân trong gió xuân (2024), có cả những truyện về Hà Nội.
Người phỏng vấn hay đặt chị cạnh Nguyễn Ngọc Tư: cùng thế hệ 7X, cùng khởi nghiệp bằng truyện ngắn, mỗi người gắn với một vùng đất. Chị không nhận đó là công thức. Theo chị, chọn hay không chọn một đề tài là quyền của mỗi người viết, còn cày xới một vùng văn hóa thì không thể làm trong ngày một ngày hai.
Chị từng nói với báo Tin tức rằng chỉ riêng vùng văn hóa Mông, viết cả đời cũng không hết; chị mới đi được một góc nhỏ, góc mình nhìn thấy và hiểu nhất. Ai muốn đọc thêm về miền núi phía Bắc qua thơ có thể tìm đến nhà thơ người Tày Y Phương, một giọng khác nhưng cùng tình yêu với núi.