Tháng 8 năm 1945, phái đoàn ba người của Chính phủ lâm thời vào Huế nhận lễ thoái vị của vua Bảo Đại có một nhà thơ mới hai mươi sáu tuổi. Huy Cận (1919 – 2005), tên thật Cù Huy Cận, là nhà thơ hàng đầu của phong trào Thơ mới với tập Lửa thiêng và bài Tràng giang, đồng thời là người giữ nhiều cương vị trong bộ máy nhà nước suốt hơn bốn mươi năm. Sau 1945, ông viết Đoàn thuyền đánh cá cùng hàng chục tập thơ khác; năm 1996, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I.
Ân Phú, Quốc học Huế và căn gác 40 Hàng Than

| Tên thật | Cù Huy Cận |
| Bút danh | Huy Cận |
| Năm sinh – năm mất | 31/5/1919 – 19/2/2005 (ngày sinh trên giấy tờ; ngày sinh thật được ghi là 22/1/1917) |
| Quê quán | Làng Ân Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (về sau địa danh này lần lượt thuộc huyện Đức Thọ, huyện Vũ Quang) |
| Thể loại | Thơ trữ tình, truyện thơ, tráng ca, tiểu luận |
| Tác phẩm tiêu biểu | Lửa thiêng (1940), Vũ trụ ca (1940 – 1942), Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Hạt lại gieo (1984) |
| Giải thưởng | Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I, 1996); truy tặng Huân chương Sao Vàng (2005) |
| Trong SGK hiện hành | Tràng giang, Con chim chiền chiện, Thương nhớ bầy ong |
Cù Huy Cận lớn lên trong một gia đình nhà nho nghèo gốc nông dân, dưới chân núi Mồng Gà, bên dòng Ngàn Sâu. Theo báo Đại biểu Nhân dân, mẹ ông quê Tùng Ảnh, và cả cha lẫn mẹ đều mê Truyện Kiều. Ngày 31/5/1919 ghi trong giấy tờ là do người ông khai khi cháu vào học ở Huế. Theo gia đình, cậu sinh ngày 29 tháng Chạp năm Bính Thìn, tức 22/1/1917, vì thế có tài liệu tính ông thọ 88 tuổi chứ không phải 86.
Học xong bậc tiểu học ở quê, cậu thi vào Quốc học Huế, đậu tú tài và gặp Ngô Xuân Diệu, người bạn sẽ gắn bó với ông gần nửa thế kỷ. Ra Hà Nội học trường Cao đẳng Canh nông, hai người thuê chung căn gác số 40 phố Hàng Than. Chính trong những năm ấy, chàng sinh viên nông học viết phần lớn các bài thơ làm nên tên tuổi mình.
Lửa thiêng và nỗi buồn mênh mang của một thế hệ
Huy Cận có thơ đăng báo từ năm 1936. Năm 1940, ông in tập đầu tay Lửa thiêng, gom những bài đã đăng trong bốn năm trước đó, và lập tức đứng vào hàng đầu của Thơ mới. Bao trùm tập thơ là nỗi buồn rộng như trời đất: thiên nhiên hiu quạnh, con người bơ vơ, một nỗi sầu tưởng như vô cớ nhưng thật ra là nỗi buồn về kiếp người và quê hương trong cảnh mất nước. Bài Tràng giang, viết năm 1939, mở đầu bằng hai câu mà nhiều thế hệ học trò thuộc lòng:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Hai năm sau, ông viết Kinh cầu tự (1942), một tập văn xuôi triết lý, và đăng báo chùm Vũ trụ ca (1940 – 1942), nơi nhà thơ đi tìm niềm vui sống trong vũ trụ vô biên. Huy Cận cũng cộng tác với nhóm Tự lực văn đoàn; thơ ông có mặt trong Thi nhân Việt Nam (1942) của Hoài Thanh và Hoài Chân.
Về giọng thơ, nói gọn: trước 1945 là nỗi sầu vũ trụ, sau 1945 là niềm vui của đời sống mới; phần phân tích chi tiết có trong bài phong cách sáng tác của Huy Cận. Những bài thơ được yêu thích nhất của cả hai chặng được tập hợp ở trang thơ Huy Cận.
Hai mươi sáu tuổi làm Bộ trưởng: hơn bốn mươi năm việc công
Từ năm 1942, vừa học nông lâm, Huy Cận vừa tham gia phong trào sinh viên yêu nước và Mặt trận Việt Minh. Tháng 8 năm 1945, ông dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào, được bầu vào Ủy ban Dân tộc giải phóng, rồi cùng Trần Huy Liệu và Nguyễn Lương Bằng vào kinh đô Huế nhận lễ thoái vị của Bảo Đại. Ở tuổi hai mươi sáu, ông là Bộ trưởng Bộ Canh nông trong chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
| Thời gian | Cương vị chính |
|---|---|
| 1945 – 1946 | Bộ trưởng Bộ Canh nông; ủy viên Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ |
| 1946 – 1949 | Thứ trưởng Bộ Nội vụ, rồi Thứ trưởng Bộ Canh nông, Bộ Kinh tế |
| 1949 – 1955 | Thứ trưởng, Tổng thư ký Hội đồng Chính phủ |
| 1955 – đầu thập niên 1980 | Thứ trưởng Bộ Văn hóa |
| Từ 1984 | Bộ trưởng đặc trách công tác văn hóa thông tin tại Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng; Chủ tịch Ủy ban Trung ương Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam (1984 – 1995) |
| 2001 | Được bầu làm viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ thế giới |
Ông là đại biểu Quốc hội các khóa I, II và VII (Bảo tàng Văn học Việt Nam và báo Đại biểu Nhân dân ghi thêm khóa VIII), hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957. Ít nhà thơ Việt Nam nào ở lâu trong bộ máy nhà nước như vậy mà vẫn in đều đặn gần ba chục đầu sách.
Từ Trời mỗi ngày lại sáng đến Hạt lại gieo
Sau Cách mạng, thơ Huy Cận đổi giọng. Giữa năm 1958, ông có chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh và viết Đoàn thuyền đánh cá, in trong tập Trời mỗi ngày lại sáng cùng năm. Người đọc quen với “nỗi buồn điệp điệp” của Lửa thiêng bỗng gặp một bức tranh biển đêm rộn ràng nhịp lao động:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa,
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Từ đó, gần như mỗi vài năm ông lại có một tập thơ mới. Ngoài thơ trữ tình, ông viết thơ thiếu nhi, truyện thơ, tráng ca và cả thơ tiếng Pháp:
- Thơ: Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời (1963), Những năm sáu mươi (1968), Chiến trường gần đến chiến trường xa (1973), Những người mẹ, những người vợ (1974), Ngày hằng sống ngày hằng thơ (1975), Ngôi nhà giữa nắng (1978), Hạt lại gieo (1984), Lửa hồng muối mặn (2001).
- Thơ thiếu nhi, truyện thơ, tráng ca: Hai bàn tay em (1967), Cô gái Mèo (1972), Cha ông nghìn thuở (2002).
- Thơ tiếng Pháp: Nước triều Đông (1994), Thông điệp từ vừng sao và từ mặt đất (1996).
- Tiểu luận, hồi ký: Suy nghĩ về nghệ thuật (1980 – 1982), Suy nghĩ về bản sắc dân tộc (1994), Hồi ký song đôi (1997); chủ biên Một cuộc cách mạng trong thi ca (cùng Hà Minh Đức, 1993) và Các vùng văn hóa Việt Nam (cùng Đinh Gia Khánh, 1995).
Một số bài thơ cũ của ông đi vào âm nhạc: Ngậm ngùi do Phạm Duy phổ nhạc, Buồn đêm mưa có bản của Phạm Đình Chương. Điều thú vị là cả hai đều thuộc chặng thơ trước 1945, chặng mà chính ông về sau đã đi rất xa.
Huy Cận và Xuân Diệu: gần năm mươi năm chung một mái nhà
Hai chàng trai Hà Tĩnh gặp nhau ở Quốc học Huế, cùng ra Hà Nội, cùng đứng trong hàng ngũ Thơ mới nhưng mang hai giọng khác hẳn: một người sôi nổi, vồ vập, một người trầm và buồn. Năm 1951, Huy Cận kết hôn với bà Ngô Thị Xuân Như, em gái Xuân Diệu. Người vợ thứ hai của ông là bà Trần Lệ Thu, giảng viên tiếng Nga, kết hôn năm 1960.
Xuân Diệu sống cùng gia đình Huy Cận cho đến cuối đời, trong ngôi nhà số 24 phố Cột Cờ (nay là đường Điện Biên Phủ), Hà Nội. Mười hai năm sau khi bạn mất, Huy Cận in Hồi ký song đôi; cái tên cuốn sách đã nói gần hết về tình bạn ấy.
Ông mất ngày 19/2/2005 tại Hà Nội, an táng ở nghĩa trang Mai Dịch. Cùng năm, Nhà nước truy tặng ông Huân chương Sao Vàng. Ở quê ông nay có trường trung học phổ thông mang tên Cù Huy Cận.
Thơ Huy Cận trong sách giáo khoa Ngữ văn mới
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Thương nhớ bầy ong | Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 5 | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Tóm tắt |
| Con chim chiền chiện | Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 1 (đọc mở rộng) | Soạn bài · Phân tích |
| Tràng giang | Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 2; Ngữ văn 11 Cánh diều, tập 2 – Bài 6 (tự đánh giá); Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 1 | Soạn bài · Phân tích · Mở bài, kết bài |
| Đoàn thuyền đánh cá | Ngữ văn 9 chương trình cũ; Tiếng Việt 4 Cánh diều, Tiếng Việt 5 Kết nối tri thức | Mở bài · Kết bài |
Tràng giang là bài được ra đề nhiều nhất, thường xoay quanh cấu tứ và hình ảnh của bài thơ. Học sinh lớp 11 có thể đọc thêm bài cấu tứ của bài thơ Tràng giang trước khi làm văn.
Những dữ kiện hay bị chép sai về Huy Cận
Không ít bài giới thiệu trên mạng có những chỗ lệch với tư liệu gốc. Đối chiếu với Bảo tàng Văn học Việt Nam, báo Đại biểu Nhân dân và Wikipedia, có thể chỉnh lại như sau:
- Ông mất ngày 19/2/2005, không phải năm 2006.
- Năm 2001, ông được bầu làm viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ thế giới, không phải viện trưởng.
- Tập văn xuôi năm 1942 tên là Kinh cầu tự, không phải “Kinh cầu tư”.
- Lửa thiêng in năm 1940 nhưng gồm các bài đã đăng báo từ khoảng 1936.
- Đoàn thuyền đánh cá ra đời sau chuyến đi vùng mỏ Quảng Ninh năm 1958; một số bài viết ghi nhầm là vùng biển Nghệ An.
- Những danh xưng như “kiện tướng Thơ mới” hay “nhà thơ đa tài” thường được gán cho ông nhưng chúng tôi chưa tìm thấy nguồn đáng tin nào ghi người đặt ra.
Còn một điểm chưa ngã ngũ là ngày sinh: giấy tờ ghi 31/5/1919, còn gia đình xác định ngày 22/1/1917. Bài này dùng mốc 1919 theo hồ sơ chính thức và ghi chú thêm năm 1917.