Hoài Thanh mở trang viết về ông trong Thi nhân Việt Nam bằng một câu so sánh hiếm thấy: “Thơ in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp.” Nguyễn Nhược Pháp (1914 – 1938) là nhà thơ của phong trào Thơ mới, con trai học giả Nguyễn Văn Vĩnh, tác giả duy nhất một tập thơ in khi còn sống là Ngày xưa (1935) với những bài Chùa Hương, Sơn Tinh – Thủy Tinh được đọc đến tận hôm nay. Ông mất vì bệnh lao khi chưa tròn hai mươi bốn tuổi.
Con trai Nguyễn Văn Vĩnh và cái tên “nước Pháp yếu”

| Tên | Nguyễn Nhược Pháp (tên thật, cũng là tên dùng khi in thơ) |
| Năm sinh – năm mất | 12/12/1914 – 19/11/1938 |
| Quê | Sinh và lớn lên ở Hà Nội; quê nội làng Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên (nay thuộc Hà Nội) |
| Gia đình | Con học giả, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh; em cùng cha khác mẹ của nhà thơ, họa sĩ Nguyễn Giang |
| Thể loại | Thơ, kịch, truyện ngắn, phê bình (viết bằng tiếng Pháp) |
| Tác phẩm tiêu biểu | Tập thơ Ngày xưa (1935): Chùa Hương, Sơn Tinh Thủy Tinh, Tay ngà, Mỵ Châu, Một buổi chiều xuân…; kịch Người học vẽ (1936) |
| Trong SGK | Sơn Tinh – Thủy Tinh: Ngữ văn 9 Kết nối tri thức (Bài 1), Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo (Bài 4) |
Ông sinh ngày 12/12/1914 ở Hà Nội. Theo bài viết về tuổi thơ của ông trên báo Tiền Phong (2012), dựa vào tư liệu gia đình, nơi ông chào đời là khách sạn Trung Bắc ở số 50 phố Hàng Trống, do chính cha ông làm chủ. Mẹ ông, người phụ nữ gốc Lạng Sơn thường được gọi là bà Hai Lựu, mất năm 1916, khi cậu con trai mới lên hai; bà vợ cả của Nguyễn Văn Vĩnh đón cậu về nuôi như con đẻ.
Cái tên Nhược Pháp có nghĩa là “nước Pháp yếu”. Tương truyền, Nguyễn Văn Vĩnh đặt tên con như vậy vì cậu bé ra đời cuối năm 1914, đúng lúc nước Pháp đang núng thế trong những tháng đầu của Thế chiến thứ nhất. Cũng có người giải thích theo lẽ “nhu thắng cương”, nhưng nhà báo Xuân Ba, người phỏng vấn con cháu dòng họ, không đồng tình với cách hiểu ấy.
Năm 1923, gia đình dọn về phố Thụy Khuê, ngay trước cổng trường Bưởi. Nguyễn Nhược Pháp học trường Trí Tri, Trung Bắc học hiệu, năm mười bốn tuổi đỗ vào trường trung học Albert Sarraut, nơi ông kết bạn văn chương với Phạm Huy Thông. Năm 1935 ông đỗ tú tài phần hai, rồi vào học Trường Cao đẳng Luật. Nhưng cũng như cha, ông không mấy mặn mà với chuyện làm quan; từ khoảng năm 1932 ông đã làm thơ và viết cho L’Annam nouveau, Hà Nội báo, Tinh hoa, Đông Dương tạp chí.
Ngày xưa (1935): mười bài thơ cho cả một đời thơ
Tập Ngày xưa do Nguyễn Dương xuất bản ở Hà Nội năm 1935, có mấy bức tranh phụ bản của Nguyễn Giang. Sách mỏng, đúng mười bài. Bản chép trên Wikisource còn giữ ngày tháng viết từng bài, ghi bằng tiếng Pháp theo thói quen của một học sinh trường Tây:
| Bài thơ | Thời điểm viết (theo bản Wikisource) | Thể |
|---|---|---|
| Nguyễn Thị Kim khóc Lê Chiêu Thống | 30/12/1932 | Thất ngôn bát cú |
| Mỵ Châu | 1/1933 | Bảy chữ |
| Giếng Trọng Thủy | 1/1933 | Bảy chữ |
| Sơn Tinh Thủy Tinh | 4/1933 | Bảy chữ |
| Mỵ Ê | 5/1933 | Thất ngôn bát cú |
| Một buổi chiều xuân | 6/5/1933 | Năm chữ |
| Đi cống | 10/5/1933 | Bảy chữ |
| Mây | 25/1/1934 | Năm chữ |
| Tay ngà | 2/5/1934 | Năm chữ |
| Chùa Hương | 8/1934 | Năm chữ |
Nhìn danh sách sẽ thấy ngay một điều: gần như bài nào cũng quay về quá khứ. Có truyền thuyết thời Hùng Vương, có Mỵ Châu – Trọng Thủy, có chuyện hậu Lê, có cảnh trẩy hội. Tên tập thơ vì thế không phải một chữ đặt cho đẹp. Nguyễn Nhược Pháp không hoài cổ theo lối ngậm ngùi của các nhà nho; ông kể lại chuyện xưa bằng con mắt của một chàng trai thành thị những năm 1930, vừa trìu mến vừa tinh nghịch.
Cổ tích qua giọng cười khúc khích
Câu nhận xét được trích nhiều nhất về thơ ông cũng của Hoài Thanh: “Đọc thơ Nguyễn Nhược Pháp, lúc nào hình như cũng thoáng thấy bóng một người đương khúc khích cười.” Không đâu nụ cười ấy rõ hơn trong Sơn Tinh Thủy Tinh, bài thơ ông viết tặng người anh Nguyễn Giang. Truyền thuyết quen thuộc vẫn giữ nguyên các nút chính: vua Hùng kén rể, hai thần cùng đến, cuộc thi sính lễ, trận nước dâng. Cái khác nằm ở những chỗ người kể chen lời bình, như khi tả hai vị thần đứng chờ trước cửa thành:
Hai thần bên cửa thành thi lễ,
Hùng Vương âu yếm nhìn con yêu.
Nhưng có một nàng mà hai rể,
Vua cho rằng thế cũng hơi nhiều!
Câu cuối nghe như lời một ông bố thời nay than thở, đặt vào miệng vị vua huyền thoại. Mị Nương cũng không còn là nhân vật im lặng của truyện cổ: nàng biết sợ, biết khóc, biết thốt lên một câu nửa kiêu hãnh nửa xót xa khi thấy hai thần đánh nhau vì mình. Đến khổ kết, người kể khép chuyện bằng một cách lý giải rất riêng cho cơn lũ hằng năm:
Thủy Tinh năm năm dâng nước bể,
Đục núi hò reo đòi Mỵ Nương.
Trần gian đâu có người dai thế,
Cũng bởi thần yêu nên khác thường!
Truyền thuyết dân gian giải thích lũ lụt bằng mối thù; Nguyễn Nhược Pháp giải thích bằng tình yêu. Chi tiết ấy làm bài thơ được chọn vào chủ đề “Thế giới kì ảo” của sách Ngữ văn 9: cùng một cốt truyện, người đọc thấy rõ một nhà thơ đã viết lại truyện cổ ra sao. Muốn so hai bản, có thể đọc lại tóm tắt truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh dân gian rồi đọc bài phân tích bài thơ Sơn Tinh – Thủy Tinh.
Chùa Hương và cô gái quê bỏ dở câu niệm Phật
Bài thơ làm nên tên tuổi Nguyễn Nhược Pháp có một lai lịch được kể lại khá kỹ. Nhà thơ Nguyễn Vỹ, bạn của ông, viết trong hồi ký Văn thi sĩ tiền chiến rằng hai người cùng hai cô bạn nữ sinh đi chùa Hương. Lên đến rừng mơ, họ gặp một bà cụ vừa leo dốc vừa niệm Quán Thế Âm; cô con gái đi cùng cũng đang niệm, thấy hai chàng trai nhìn mình thì đỏ mặt, bỏ lửng câu kinh. Hai hôm sau, Nguyễn Nhược Pháp đưa bạn xem bài thơ, bản chép đầu tiên đề là Cô gái chùa Hương.
Bài thơ in ra có tiêu đề phụ “Thiên ký sự của một cô bé ngày xưa”: cô gái mười lăm tuổi theo thầy me đi hội, gặp một chàng thư sinh, rồi suốt đường đi chỉ để ý đến chàng. Đoạn được nhiều người thuộc nhất có lẽ là chỗ cô bé trả lời lời giục của mẹ:
Em ư? Em không cầu,
Đường vẫn thấy đi mau.
Chàng cũng cho như thế.
(Ra ta hợp tâm đầu).
Cũng theo Nguyễn Vỹ, gom đủ bài cho một tập rồi, Nguyễn Nhược Pháp ngại xin tiền in của cha, sợ ông cụ vứt bản thảo vào sọt rác, nên xin bà mẹ cả; khoảng một tháng sau, Ngày xưa ra đời. Chùa Hương sau đó được nhạc sĩ Trung Đức phổ thành ca khúc Em đi chùa Hương (lời có rút gọn, thay đổi), và cũng được Trần Văn Khê phổ nhạc. Hoài Thanh chọn hai bài Tay ngà và Chùa Hương vào Thi nhân Việt Nam.
Kịch, truyện và những bài phê bình bằng tiếng Pháp
Người ta quen gọi ông là nhà thơ của một tập thơ, nhưng gia tài của Nguyễn Nhược Pháp rộng hơn thế. Từ nhỏ ông đã lập đội kịch trong gia đình, tự viết và dựng vở cho anh chị em diễn. Báo Tiền Phong còn kể chuyện cậu bé rủ các anh chị để dành tiền xem chiếu bóng, ra một tờ báo in thạch hai màu tên Tuổi Cười, mỗi tháng một số. Vở kịch Người học vẽ được in năm 1936; ông từng ấp ủ cùng Phạm Huy Thông lập một đoàn kịch không chuyên để dựng vở này.
Năm 2018, nhân tám mươi năm ngày mất, Nhà xuất bản Phụ nữ in cuốn Hoa một mùa do Nguyễn Lân Bình biên soạn, gom lần đầu những gì còn tìm được: mười bài thơ, ba truyện ngắn (Tình trẻ thơ, Mẹ và con, Bức thư), sáu vở kịch và mười bài phê bình viết bằng tiếng Pháp. Cuốn sách ra mắt cùng tọa đàm “Đọc lại Nguyễn Nhược Pháp” ở Hà Nội tháng 11/2018. Văn bản Sơn Tinh – Thủy Tinh in trong sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức chính là lấy từ cuốn sách này.
Bệnh lao hạch và ba bức thư cuối cùng
Những năm cuối đời của ông dồn dập tang tóc: cha ông mất năm 1936, một người chị mất năm 1938, rồi tin một người anh mất ở trong Nam. Nguyễn Nhược Pháp mắc bệnh lao hạch và qua đời ngày 19/11/1938 tại bệnh viện Đồn Thủy, Hà Nội. Các tài liệu thường ghi ông mất năm hai mươi bốn tuổi; tính tròn thì ông còn thiếu chưa đầy một tháng nữa mới tới sinh nhật hai mươi bốn.
Ông để lại ba bức thư: một bức bằng tiếng Pháp cảm ơn các thầy thuốc, một bức vĩnh biệt bà mẹ cả và gia đình, một bức gửi anh Nguyễn Giang, nhờ anh chăm sóc mẹ và các em. Thi hài ông ban đầu chôn ở nghĩa trang Hợp Thiện, về sau được đưa về làng Phượng Dực, quê cha. Bạn văn của ông, nhà thơ Nguyễn Bính, có bài Khóc Nguyễn Nhược Pháp.
Với nhiều người yêu thơ, quãng đời ngắn ấy chỉ còn đọng lại trong mấy bài thơ năm chữ, bảy chữ. Nhưng nếu đọc kỹ Ngày xưa cùng những trang kịch, truyện mới được gom lại sau này, sẽ thấy một người viết đang tìm đường đi riêng: lấy chất liệu dân tộc, kể bằng giọng hiện đại, và không bao giờ chịu nghiêm nghị quá lâu.
Hai bộ sách giáo khoa cùng chọn Sơn Tinh – Thủy Tinh
| Bộ sách | Vị trí văn bản | Bài viết trên Văn VN |
|---|---|---|
| Kết nối tri thức | Ngữ văn 9, tập một – Bài 1 (Thế giới kì ảo), văn bản đọc (trích) | Soạn bài Sơn Tinh – Thủy Tinh |
| Chân trời sáng tạo | Ngữ văn 9, tập một – Bài 4 (Con người trong thế giới kì ảo), đọc kết nối chủ điểm | Sơn Tinh – Thủy Tinh: tác giả, tác phẩm, bố cục |
Cần phân biệt bài thơ này với truyện truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh học ở lớp 6 (bài soạn bài Sơn Tinh, Thủy Tinh dành cho văn bản dân gian). Học sinh lớp 9 ôn nhanh nội dung bài thơ có thể dùng bản tóm tắt bài thơ Sơn Tinh – Thủy Tinh. Khi làm bài, nên nhớ ba ý về tác giả: thuộc phong trào Thơ mới, chỉ để lại một tập thơ, và giọng thơ hóm hỉnh, trong trẻo khi kể lại chuyện xưa. Chân dung người viết Thi nhân Việt Nam có ở trang tác giả Hoài Thanh.
Xem thêm: