Phong cách sáng tác của Tô Hoài đa dạng và có sự chuyển biến rõ từ trước sang sau Cách mạng tháng Tám, nhưng một nét không đổi là con mắt quan sát tinh tường và giọng kể hóm hỉnh. Ông viết cho thiếu nhi cũng như người lớn suốt hơn bảy mươi năm, đến mức năm 2020, nhân 100 năm ngày sinh của ông, Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức một tọa đàm mang tên “Tô Hoài – nhà văn của mọi lứa tuổi”.
Tìm hiểu phong cách sáng tác của Tô Hoài
Phong cách sáng tác Tô Hoài chuyển biến theo từng chặng đường đời ông.
Trước Cách mạng tháng Tám, ông viết hai mạch song song: truyện loài vật, nổi tiếng nhất là Dế Mèn phiêu lưu ký (1941), O chuột (1942); và truyện về người dân nghèo vùng ven đô quê ông như Giăng thề, Quê người, Nhà nghèo. Các tác phẩm của Tô Hoài thời kỳ này cho thấy một vốn sống phong phú về cuộc đời nghèo khó, lam lũ của những người lao động quanh mình.
Sau Cách mạng, ông làm phóng viên báo Cứu quốc suốt kháng chiến chống Pháp. Những chuyến đi lên Tây Bắc mở ra một vùng đất văn chương mới: Truyện Tây Bắc (1953) với Vợ chồng A Phủ, rồi tiểu thuyết Miền Tây (1967). Về sau, ông trở thành người kể chuyện Hà Nội với Chuyện cũ Hà Nội, và từ tuổi bảy mươi chuyển sang hồi ký với Cát bụi chân ai (1992), Chiều chiều. Cái nhìn về con người, cuộc đời ngày càng sâu sắc, từng trải hơn.

Quan điểm sáng tác của Tô Hoài là gì?
Tô Hoài là một trong số ít nhà văn Việt Nam viết nhiều sách về chính nghề viết: Một số kinh nghiệm viết văn của tôi (1959), Người bạn đọc ấy (1963), Sổ tay viết văn (1977), Nghệ thuật và phương pháp viết văn (1997). Qua những trang sách ấy và qua chính tác phẩm của ông, có thể thấy mấy điểm ông coi trọng:
- Viết văn là một nghề lao động thực thụ. Trong Sổ tay viết văn, ông coi sáng tác là một hình thái lao động, dù là hình thái có phần đặc biệt.
- Muốn viết phải sống và quan sát. Phần lớn tác phẩm của ông ra đời từ những gì ông tận mắt thấy: làng Nghĩa Đô thời trai trẻ, những bản làng Tây Bắc trong kháng chiến, phố phường Hà Nội nơi ông sống gần trọn đời.
- Coi trọng chi tiết đời thường và phong tục. Từ cách ăn mặc, lễ tết đến tiếng nói của từng vùng, chi tiết là thứ làm nên sức sống cho trang văn của ông.
- Học ở ngôn ngữ của quần chúng. Lời văn Tô Hoài giàu khẩu ngữ, nhiều từ ngữ dân dã, nhưng đã được chọn lọc kỹ.

Bàn luận phong cách nghệ thuật Tô Hoài
Phong cách nghệ thuật của Tô Hoài hấp dẫn người đọc bởi lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động của người từng trải. Ông có vốn từ vựng giàu có, khi bình dân, thông tục, khi tinh tế, sâu sắc, và biết dùng chữ đúng chỗ. Ông đặc biệt giỏi miêu tả loài vật và phong tục: chú Dế Mèn “cường tráng” kiêu căng hay những tập tục của người Mông trong Vợ chồng A Phủ đều được tả sống động như thật.
Học sinh lớp 6 gặp phong cách ấy qua đoạn trích Bài học đường đời đầu tiên.
Lời kết
Phong cách sáng tác của Tô Hoài làm nên một trong những nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại, được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật ngay đợt đầu năm 1996. Khả năng quan sát tinh tế cùng cái nhìn hiện thực sắc sảo là điểm đặc biệt trong phong cách nghệ thuật cũng như quan điểm sáng tác của ông.
Ai cần thông tin nền về tác phẩm để viết mở bài có thể tham khảo hoàn cảnh ra đời của Vợ chồng A Phủ.