Hưng Đạo Đại Vương là một trong những nhân vật huyền thoại của lịch sử Việt Nam. Câu chuyện về ông không chỉ phản ánh tinh thần yêu nước mà còn chứa đựng nhiều bài học quý giá. Những cuộc chiến và chiến công của ông vẫn sống mãi trong lòng dân tộc.
Ngày xưa, về đời nhà Trần, ở đất Nam Định, có An Sinh vương phu nhân, chồng là anh ruột của vua Trần Thái Tông. Một đêm, bà nằm mơ thấy có một vị thiên thần tinh vàng tướng ngọc, tự xưng là Thanh Tiên Đồng Tử, theo lệnh Ngọc Hoàng xuống đầu thai.
Sau đó bà thụ thai, đến lúc lâm bồn, có hào quang toả sáng rực cả nhà, mùi hương thơm ngào ngạt. Bà hạ sinh ra một cậu bé khôi ngô tuấn tú, đặt tên là Trần Quốc Tuấn. Trần Quốc Tuấn thông minh rất sớm. Mới lên 5 tuổi đã biết làm thơ, có óc lãnh đạo, thường bày trò chơi bát trận. Lớn lên, càng học giỏi, tinh thông nhiều sách thánh hiền và cổ nhân, tinh thông lục thao tam lược, văn võ toàn tài.
Thuở ấy, dân tộc Mông Cổ làm bá chủ toàn cõi Trung Hoa, tràn chiếm một phần lớn Đông Âu, thâu tóm cả lục địa Á Châu. Thế lực của quân Mông Cổ mạnh mẽ như vũ bão, cuồng phong. Vó ngựa của quân Mông Cổ phi đến đâu, thì cỏ nơi ấy không mọc được nữa. Đại quân nhà Nguyên mạnh như bão, như lửa, đã tiến về phương Nam của dân tộc Việt, tính thôn tính cả vùng Đông Nam Á, để thực hiện mộng làm bá chủ toàn cầu của lãnh tụ Mông Cổ: Thành Cát Tư Hãn.

Nước Nam bé nhỏ, như con châu chấu chống bánh xe khổng lồ ở phương Bắc. Tuy nhiên, 3 lần quân Nguyên tràn sang đất Việt, đều hoảng hồn quay về. Tướng Trần Quốc Tuấn đã thống lãnh binh sĩ, cùng dân chúng một lòng cương quyết, đánh bật quân ngoại xâm ra khỏi bờ cõi Việt. Quân Mông Cổ từng “trăm trận trăm thắng”, đã thảm bại kéo quân trở về. Họ rất nể sợ uy danh của Trần Quốc Tuấn, không dám nhắc tên ông, chỉ gọi là Hưng Đạo Vương.
Khi tướng nhà Nguyên là Thoát Hoan kéo quân sang đánh nước Việt lần thứ 2, có mang theo một tỳ tướng tên là Bá Linh, tức Phạm Nhan, có tài yêu thuật. Trần Hưng Đạo lập trận cửa cung phá được, bắt sống Phạm Nhan. Kỳ lạ thay, binh sĩ Việt dùng gươm chém thế nào Phạm Nhan cũng không chết. Trần Hưng Đạo phải dùng Thần Kiếm mới giết được hắn.
Tục truyền rằng, khi tên yêu thuật Phạm Nhan chết đi, thường hiện thành ma quỷ về phá rối đàn bà con gái. Dân chúng gọi là “tà Phạm Nhan”, phải nhờ đến uy linh của Hưng Đạo Vương mới trừ khử được.
Về già, Trần Hưng Đạo trí sĩ ở Vạn Kiếp. Ông được vua tôn kính phong làm Thái Sư Thượng Phụ Hưng Đạo Đại Vương, lập miếu sinh từ ở Vạn Kiếp và khắc văn bia để ghi nhớ công đức của Ngài. Hưng Đạo Vương đã soạn ra quyển Binh Thư Yếu Lược, và lập ra cửa đồ cửu cung bát quái thần diệu vô cùng.
Ngoài 70 tuổi, Hưng Đạo Vương mất. Dân chúng ghi nhớ công đức của Ngài, hàng năm đến ngày huý nhật 20.8, thiện nam tín nữ đông đảo đi trảy hội Vạn Kiếp, lễ đền thờ Trần Hưng Đạo rất đông. Ở nhiều nơi khác trong nước, dân chúng cũng lập đền thờ Đức Thánh Trần để cậy uy linh của Ngài trừ tà ma.
Ý nghĩa truyện Hưng Đạo Đại Vương
Lịch sử được kể bằng giọng thần thoại
Bản kể bắt đầu bằng giấc mộng của An Sinh vương phu nhân, hào quang lúc sinh nở, cậu bé năm tuổi đã bày trận. Đó là cách dân gian “thánh hóa” một con người có thật: người có công lớn với nước thì phải là thần tiên giáng thế. Những chi tiết ấy không nhằm thuật lại sử, mà cho thấy lòng tôn kính của nhân dân dành cho vị tướng đã ba lần chứng kiến quân Mông – Nguyên rút chạy.
Từ vị tướng thành vị thánh trừ tà
Phần về Phạm Nhan giải thích vì sao Trần Hưng Đạo được thờ để trừ ma quỷ. Kẻ có yêu thuật chém không chết chỉ khuất phục trước thần kiếm; chết rồi thành “tà Phạm Nhan” vẫn phải sợ uy của ngài. Qua đó, người xưa gửi gắm niềm tin rằng công lao giữ nước còn che chở cho dân cả sau khi người anh hùng đã mất.
Lòng biết ơn thành lễ hội
Truyện khép lại bằng ngày giỗ 20 tháng Tám âm lịch và những đền thờ Đức Thánh Trần khắp nơi. Ghi nhớ người có công bằng lễ hội, đền miếu là truyền thống “uống nước nhớ nguồn” mà truyện muốn trao lại cho người đọc hôm nay.
Nguồn gốc truyện Hưng Đạo Đại Vương
Trần Quốc Tuấn (mất năm 1300) là con An Sinh vương Trần Liễu, anh ruột vua Trần Thái Tông, được phong Hưng Đạo Đại Vương. Ông giữ chức Quốc công tiết chế, chỉ huy quân dân Đại Việt trong hai cuộc kháng chiến năm 1285 và 1287–1288, về già lui về Vạn Kiếp (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương). Đền Kiếp Bạc ở đây là nơi thờ chính, mở hội vào tháng Tám âm lịch; dân gian tôn ông là Đức Thánh Trần.
Truyện trên trang là bản kể dân gian pha lẫn sử và truyền thuyết. Câu nói về “mộng bá chủ của Thành Cát Tư Hãn” chỉ là cách nói khái quát: Thành Cát Tư Hãn mất năm 1227, trước khi quân Mông Cổ lần đầu sang nước ta. Văn bản nổi tiếng nhất của ông là bài hịch được học trong chương trình Ngữ văn 8 và 10; xem Soạn bài Hịch tướng sĩ và tác giả, tác phẩm Hịch tướng sĩ.
Đọc thêm truyện dân gian về các anh hùng khác: Lê Lợi, Lê Lai cứu chúa.
Câu hỏi thường gặp
Phạm Nhan là ai trong truyện Hưng Đạo Đại Vương?
Theo bản kể, Phạm Nhan (Bá Linh) là tỳ tướng có yêu thuật theo Thoát Hoan sang xâm lược, bị Trần Hưng Đạo bắt và dùng thần kiếm chém chết; về sau hiện thành tà quỷ quấy phá phụ nữ.
Ngày giỗ Trần Hưng Đạo là ngày nào?
Ngày 20 tháng Tám âm lịch, dịp hội đền Kiếp Bạc ở Chí Linh, Hải Dương.
Vì sao dân gian gọi Trần Hưng Đạo là Đức Thánh Trần?
Vì sau khi mất, ông được lập đền thờ khắp nơi và được tin là có uy linh trừ tà, bảo hộ dân lành, nên được tôn như một vị thánh.