Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) là nhà thơ và nhà viết kịch, tác giả Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Tôi và chúng ta, Lời thề thứ 9. Ông chỉ viết kịch chưa tròn mười năm, từ 1979 đến ngày mất trong tai nạn giao thông cùng vợ là nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai út, nhưng để lại khoảng năm mươi vở, nhiều vở đến nay vẫn được dựng lại. Năm 2000, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Con trai nhà viết kịch Lưu Quang Thuận

| Tên | Lưu Quang Vũ |
| Năm sinh – năm mất | 17/4/1948 – 29/8/1988 |
| Nơi sinh | Xã Thiệu Cơ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ |
| Quê gốc | Hải Châu, Đà Nẵng |
| Gia đình | Cha: nhà thơ, nhà soạn kịch Lưu Quang Thuận; vợ sau: nhà thơ Xuân Quỳnh |
| Thể loại | Kịch nói, thơ, truyện ngắn |
| Tác phẩm tiêu biểu | Hồn Trương Ba, da hàng thịt; Tôi và chúng ta; Lời thề thứ 9; Bệnh sĩ; tập thơ Hương cây, Mây trắng của đời tôi |
| Giải thưởng | Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật, đợt II (2000, truy tặng) |
| Trong SGK | Tiếng Việt (Ngữ văn 9), Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Ngữ văn 12), Đổi tên cho xã (Ngữ văn 8)… |
Cha ông, Lưu Quang Thuận (1921 – 1981), người Đà Nẵng, viết kịch thơ, kịch nói và chèo, nhiều năm làm việc ở Nhà hát Chèo Việt Nam. Lưu Quang Vũ sinh ở Phú Thọ trong những năm kháng chiến, tuổi nhỏ theo gia đình ở chiến khu Việt Bắc, đến năm 1954 mới về Hà Nội. Lớn lên trong một gia đình làm sân khấu, nhưng phải đến khi ngoài ba mươi tuổi ông mới viết vở kịch dài đầu tiên; những năm trước đó, ông được biết đến là một nhà thơ.
Năm năm lính phòng không và tập Hương cây
Năm 1965, mười bảy tuổi, ông xung phong vào bộ đội, phục vụ trong Quân chủng Phòng không – Không quân đến cuối năm 1970. Theo Wikipedia, ông học ngành vô tuyến điện tử máy bay ở Trường Hàng không Cát Bi rồi về đơn vị ở sân bay Nội Bài; chi tiết đơn vị chưa thấy ở nguồn khác.
Chính thời lính, thơ ông được biết đến rộng rãi. Năm 1968, tập Hương cây của ông được in chung với tập Bếp lửa của Bằng Việt thành cuốn Hương cây – Bếp lửa. Báo Đà Nẵng dẫn lời Vương Trí Nhàn nhớ lại thời ấy đi đâu cũng nghe nói đến thơ Lưu Quang Vũ; những bậc đàn anh như Hoài Thanh, Chế Lan Viên cũng có lời khen.
Những năm làm thuê và thơ viết cho ngăn kéo
Xuất ngũ cuối 1970, ông không có việc làm ổn định suốt gần chục năm: vẽ tranh, vẽ pa-nô áp-phích, viết báo, làm hợp đồng cho nhà xuất bản, theo Wikipedia có cả thời làm ở xưởng cao su và chấm công cho một đội cầu đường. Đây cũng là quãng thơ ông chuyển giọng, nhiều bài u uất, hoài nghi, không in được vào thời ấy.
Phần lớn thơ của ông vì thế ra mắt sau khi ông mất: Mây trắng của đời tôi (1989), Bầy ong trong đêm sâu (1993), Thơ tình Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ (1994), Gửi tới các anh (1998), Di cảo và Những bông hoa không chết (cùng năm 2008). Bài Tiếng Việt mà học sinh lớp 9 đang học nằm trong tập Mây trắng của đời tôi. Ông còn viết truyện: tập Mùa hè đang đến (1983), Người kép đóng hổ (1984), truyện vừa Một vùng mặt trận. Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên từng nói trên VietNamNet rằng phần cốt lõi của Lưu Quang Vũ nằm ở thơ.
Các bài thơ tình, thơ thế sự của ông được tập hợp trong tuyển tập thơ Lưu Quang Vũ.
Tố Uyên, Xuân Quỳnh và căn phòng sáu mét vuông
Cuối năm 1969, ông cưới diễn viên Tố Uyên, cô bé Nga của phim Con chim vành khuyên; hai người có con trai Lưu Minh Vũ, sau đó chia tay vào đầu thập niên 1970. Năm 1973, ông kết hôn với nhà thơ Xuân Quỳnh; con trai chung là Lưu Quỳnh Thơ, sinh năm 1975. Mười lăm năm bên nhau của hai nhà thơ được kể lại trong bài tình yêu của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ.
Gia đình sống trong một căn phòng chừng 6 m² ở số 96A phố Huế, Hà Nội, có gác xép và thang gỗ. Theo lời em gái ông, nhà nghiên cứu Lưu Khánh Thơ, do Bảo tàng Văn học ghi lại, ông tự đóng tủ từ thùng gỗ đựng hàng gửi từ nước ngoài về, cái bàn nhỏ chỉ đủ kê một cuốn sách. Hàng chục vở kịch đã được viết ở đó. Gia đình sau này hiến hàng trăm hiện vật cho Bảo tàng Văn học Việt Nam.
Chín năm, khoảng năm mươi vở kịch
Khoảng 1978 – 1979, ông về làm ở Tạp chí Sân khấu (Wikipedia ghi biên tập viên từ 1978, Bảo tàng Văn học ghi phóng viên từ tháng 8/1979) và gắn bó ở đó đến cuối đời. Vở đầu tay Sống mãi tuổi 17 được dựng năm 1979; Nhà hát Tuổi Trẻ là đơn vị đầu tiên và cũng dựng nhiều kịch của ông nhất, mười hai vở. Từ đó, kịch Lưu Quang Vũ phủ kín các sân khấu. Bảo tàng Văn học ghi khoảng năm mươi vở; Hội Nghệ sĩ Sân khấu thống kê 53 vở ngắn dài.
| Năm (theo Bảo tàng Văn học) | Vở kịch |
|---|---|
| 1979 | Sống mãi tuổi 17 (vở đầu tay) |
| 1981 – 1982 | Người tốt nhà số 5; Nàng Sita; Người trong cõi nhớ |
| 1984 | Hồn Trương Ba, da hàng thịt (năm ra mắt); Tôi và chúng ta; Ngọc Hân công chúa |
| 1986 | Khoảnh khắc và vô tận; Tin ở hoa hồng |
| 1988 | Lời thề thứ 9; Điều không thể mất; Bệnh sĩ |
| Không rõ năm | Hẹn ngày trở lại; Nếu anh không đốt lửa; Linh hồn của đá; Ông vua hóa hổ; Lời nói dối cuối cùng… |
Vở Nàng Sita vốn do Lưu Quang Thuận khởi thảo, ông mất khi còn dang dở và con trai viết tiếp; vì thế sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo ghi tên cả hai cha con dưới đoạn trích. Nhà viết kịch Lê Quý Hiền kể với báo Nhân Dân rằng có vở của Lưu Quang Vũ bị yêu cầu sửa tới mười một lần, và bản cuối cùng giống hệt bản đầu tiên. Đề tài thời sự, chất triết lý và cách mượn cổ tích để nói chuyện hôm nay là những nét được phân tích kỹ ở bài phong cách sáng tác của Lưu Quang Vũ.
Hồn Trương Ba, da hàng thịt: năm năm trong ngăn kéo
Vở kịch được viết năm 1981 từ một truyện cổ tích cùng tên: hồn ông Trương Ba hiền lành, giỏi đánh cờ, bị bắt nhầm lên trời rồi được trả về trong xác anh hàng thịt. Cổ tích kết thúc khi Trương Ba sống lại; Lưu Quang Vũ viết tiếp chuyện một linh hồn phải sống nhờ trong thân xác người khác và dần bị nó làm cho thay đổi, đến khi hồn quyết định trả xác, chấp nhận cái chết.
VnExpress và Tuổi Trẻ cùng kể kịch bản nằm trong ngăn kéo vài năm vì bị cho là có vấn đề. Năm 1984 vở mới ra mắt khán giả; năm 1986, đạo diễn Nguyễn Đình Nghi dựng ở Nhà hát Kịch Việt Nam. Vở đoạt Huy chương vàng Hội diễn toàn quốc năm 1990 và là vở kịch nói Việt Nam đầu tiên được công diễn ở nước ngoài; năm 2002, một êkíp người Anh dựng lại với tên The Butcher’s Skin. Nhà phê bình Nguyễn Thị Minh Thái gọi đây là vở diễn đã đạt tới một “số phận văn hóa”.
Nhà nghiên cứu Phan Ngọc, trong bài Kịch pháp Lưu Quang Vũ, nhận xét không ai có biệt tài bằng ông trong việc tìm ra cái muôn đời trong cái bình thường, biến cổ tích, huyền thoại thành chuyện thời sự.
Sáu văn bản của Lưu Quang Vũ trong sách Ngữ văn chương trình 2018
Ít tác giả hiện đại có mặt ở cả ba cấp lớp như ông: thơ ở lớp 9, hài kịch ở lớp 8, bi kịch ở lớp 11 và 12.
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Thuyền trưởng tàu viễn dương | Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo, tập 1, Bài 5 (đọc mở rộng) | Bài học |
| Đổi tên cho xã | Ngữ văn 8 Cánh diều, tập 1, Bài 4 | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm · Tóm tắt |
| Tiếng Việt | Ngữ văn 9 Kết nối tri thức, tập 2, Bài 7 | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm · Phân tích |
| Pơ-liêm, quỷ Riếp và Ha-nu-man (trích Nàng Si-ta, viết chung với Lưu Quang Thuận) | Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo, tập 2, Bài 9 | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm |
| Tôi muốn được là tôi toàn vẹn (trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt) | Ngữ văn 11 Cánh diều, tập 2, Bài 8 (thực hành đọc hiểu) | Xem các bài về vở kịch ở dòng dưới |
| Hồn Trương Ba, da hàng thịt | Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập 2, Bài 9 | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm · Tóm tắt · Phân tích · Mở bài · Kết bài |
Chiều 29/8/1988 và Giải thưởng Hồ Chí Minh
Ngày 29/8/1988, chiếc xe chở Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh và Lưu Quỳnh Thơ gặp tai nạn trên quốc lộ 5, đoạn qua Hải Dương. Cả ba cùng mất; cậu con trai út mới mười ba tuổi. Năm ấy ông bốn mươi tuổi, ba vở mới vừa ra đời, vở Chim sâm cầm không chết còn dang dở.
Năm 1986 ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Kịch của ông nhiều lần đoạt Huy chương vàng hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc; con số được ghi khác nhau giữa các tiểu sử. Năm 2000, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt II. Báo chí sau này thường gọi ông là người tiên phong của sân khấu thời đổi mới, một cách gọi gắn với những vở như Tôi và chúng ta hay Bệnh sĩ, nơi khán giả nhận ra ngay những chuyện đang diễn ra quanh mình.