Xướng ca vô loài là câu thành ngữ cũ dành cho người làm nghề ca hát, diễn trò, ý nói họ “không thuộc loài nào” trong xã hội phong kiến, tức bị gạt ra ngoài bốn hạng sĩ, nông, công, thương. Đó là một lời miệt thị, phản ánh định kiến xưa với nghề hát xướng. Hiện nay người ta nhắc lại bốn chữ này chủ yếu khi kể chuyện lịch sử hoặc để phê phán chính thành kiến ấy.
| Nghĩa | Người theo nghề hát xướng bị coi rẻ, không được xếp vào hạng nào trong xã hội |
| Cấu tạo | xướng ca (hát, ca hát) + vô (không) + loài (loại, hạng) |
| Sắc thái | Miệt thị, mang dấu ấn tư tưởng phong kiến |
| Cách dùng hiện nay | Nhắc lại khi nói về lịch sử, hoặc để phê phán định kiến nghề nghiệp |

Xướng ca vô loài nói về ai?
Chữ xướng ca gom tất cả những người sống bằng tiếng hát và sân khấu: đào, kép hát tuồng, phường chèo, ả đào hát ca trù, người làm trò mua vui ở hội làng. Chữ vô loài là cái nhãn người xưa dán lên họ: không ra loài nào, không đứng vào hạng nào. Đặt cạnh nhau, bốn chữ thành một lời phán xét cả một nghề.
Wikipedia tiếng Việt, ở mục từ về tứ dân, giải thích đây là quan niệm thành kiến, sai lầm của thời phong kiến, cho rằng người làm nghề ca hát bị khinh rẻ và không thuộc tầng lớp nào. Thành kiến ấy sống rất dai. Không ít ca sĩ, nghệ sĩ cải lương sinh vào giữa thế kỷ XX vẫn kể lại chuyện từng bị cha mẹ ngăn đi hát vì sợ mang tiếng “xướng ca vô loài”.
Ngoài sĩ, nông, công, thương là chỗ nào?
Xã hội xưa xếp dân thành bốn hạng gọi là tứ dân: sĩ (người có học), nông (người làm ruộng), công (thợ thủ công), thương (người buôn bán). Bốn hạng ấy cao thấp khác nhau nhưng đều có chỗ đứng. Người hát xướng thì không được kể vào đâu cả. “Vô loài” mang đúng nghĩa đó: đứng ngoài bảng phân hạng.
Thiệt thòi lớn nhất là con đường học hành. Dưới triều Lê có lệ cấm con nhà hát xướng đi thi, nghĩa là cánh cửa làm quan bị đóng lại từ khi đứa trẻ chưa biết chữ. Chuyện của Đào Duy Từ cho thấy rõ cái giá ấy. Cha ông làm nghề hát xướng, nên muốn đi thi ông phải khai theo họ mẹ; chuyện vỡ lở thì con đường khoa cử ở Đàng Ngoài cũng khép lại. Về sau ông vào Nam giúp chúa Nguyễn và trở thành một danh thần nổi tiếng.
Vì sao nghề hát bị coi rẻ đến vậy? Có cách giải thích dựa vào chuyện vai diễn. Trên chiếu chèo, sân tuồng, người trong một nhà có thể phải đóng những vai trái hẳn thứ bậc ngoài đời: người trẻ làm vua, người già làm bề tôi, người thân đóng thành đôi lứa. Với lễ giáo xưa, như thế là đảo lộn tôn ti, dù chỉ trong lúc diễn.
Đào, kép, con hát và nghệ sĩ
| Cách gọi | Chỉ ai | Sắc thái |
|---|---|---|
| Xướng ca | Người làm nghề hát xướng nói chung | Cũ, trung tính khi đứng một mình |
| Con hát, phường hát | Người đi hát thuê, gánh hát | Cũ, thường hàm ý coi thường |
| Đào, kép | Nữ và nam diễn viên tuồng, chèo, cải lương | Cũ, quen thuộc, không nặng nề |
| Ca nương, ả đào | Người hát ca trù | Gắn với một loại hình cụ thể |
| Nghệ sĩ | Người làm nghệ thuật chuyên nghiệp | Trân trọng |
Đọc từ trên xuống, bảng cũng là một đường đi của sự tôn trọng. Chữ nghệ sĩ ở cuối mang thái độ ngược hẳn với “vô loài”; nghĩa và cách dùng của nó có ở bài ai được gọi là nghệ sĩ. Người hát giỏi được gọi là danh ca, một chữ cho thấy cách nhìn đã đổi đến đâu.
Kép Tư Bền và cô đào trong truyện cổ
Văn chương để lại nhiều chân dung người hát đẹp hơn định kiến. Truyện ngắn Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan (Ngữ văn 11 Cánh diều) kể về một kép hài nổi tiếng phải lên sân khấu làm trò mua vui đúng lúc cha đang hấp hối ở nhà. Khán giả cười, còn anh vừa diễn vừa rối ruột. Bi kịch của người làm nghề hát được đặt ngay trước mắt người đọc; phần đọc hiểu có ở bài soạn truyện Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan.
Truyện cổ tích chuyện cô đào hát giúp anh học trò nghèo lại kể về một cô đào đem bạc giúp chàng học trò mồ côi ăn học. Khi chàng lỡ có cử chỉ suồng sã, cô nghiêm giọng nhắc rằng mình tìm đến vì quý người đứng đắn, không phải hạng người lẳng lơ. Người bị gọi là “vô loài” hóa ra lại là người giữ lễ nhất câu chuyện.
Thành kiến cũ dưới ánh đèn sân khấu hôm nay
Nghệ sĩ bây giờ được đào tạo bài bản trong trường nghệ thuật, được Nhà nước phong danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú. Câu “xướng ca vô loài” vì thế đã mất chỗ đứng trong cách nghĩ chính thống. Nếu gặp đề nghị luận về định kiến nghề nghiệp, có thể dùng nó làm dẫn chứng mở bài: một xã hội từng khinh người hát nay lại tôn vinh họ, cho thấy định kiến có thể đổi.
Dù vậy, chữ này thỉnh thoảng vẫn bật ra trong lời nói, nhất là khi người lớn phản đối con cái theo nghề diễn. Dùng nó với một người làm nghệ thuật cụ thể là xúc phạm. Ai muốn nói về chuyện nghề hát bấp bênh thì nên nói thẳng là bấp bênh, đừng mượn một câu sinh ra để hạ thấp người khác.
Xướng ca vô loài trong lời ăn tiếng nói
“Vô loài” nghĩa là gì?
Là không thuộc loài nào, hạng nào. Trong câu thành ngữ, nó ám chỉ người hát xướng bị đẩy ra ngoài bốn hạng sĩ, nông, công, thương, ở mức nặng hơn còn bị coi như không đáng làm người.
Xướng ca vô loài là thành ngữ hay tục ngữ?
Thường được xếp vào thành ngữ, vì đây là một cụm bốn chữ cố định dùng như lời đánh giá, chưa phải một câu đúc kết kinh nghiệm trọn ý. Cách phân biệt hai loại này có ở bài đặc điểm của thành ngữ tiếng Việt.
Vì sao xưa con nhà hát xướng không được đi thi?
Vì luật lệ thời phong kiến xếp nghề hát vào hạng thấp kém, cấm cả người làm nghề lẫn con cháu họ dự thi. Lệ cấm ấy nay không còn, nhưng thành kiến trong dân gian thì kéo dài rất lâu.
Bây giờ nói “xướng ca vô loài” có được không?
Có thể nhắc khi kể chuyện lịch sử hoặc khi phân tích, phê phán định kiến. Dùng câu này để chê bai một người làm nghệ thuật là thiếu tôn trọng và nên tránh.