Soạn bài Phải coi luật pháp như khí trời để thở gợi ý trả lời phần chuẩn bị, tám câu hỏi đọc hiểu bên lề và sáu câu hỏi sau khi đọc ở trang 104 – 107, Bài 4 (Văn bản thông tin), sách Ngữ văn 11 Cánh diều tập một. Đây là văn bản đọc thứ nhất của bài học, một bài viết dựa trên những câu chuyện có thật để nhắc người đọc về ý thức tuân thủ pháp luật trong đời sống hằng ngày.
Tìm hiểu chung về văn bản Phải coi luật pháp như khí trời để thở
Trước khi làm từng câu hỏi, em nên nắm vài thông tin cơ bản về người viết, nguồn in và cách tổ chức của bài viết.

- Tác giả: SGK ghi nguồn “Theo Lê Quang Dũng”. Bài viết được kể ở ngôi thứ nhất, người viết từng giữ vai trò đốc công và phiên dịch ở Vũng Tàu nên nhiều chuyện trong bài là trải nghiệm của chính ông.
- Xuất xứ: in trong cuốn Người Việt: Phẩm chất và thói hư tật xấu (NXB Thanh niên, Hà Nội, 2009).
- Thể loại: văn bản thông tin có tính tổng hợp: vừa kể chuyện thật, vừa đưa số liệu, vừa bình luận và bày tỏ thái độ.
- Bố cục: một đoạn mở đầu (sa-pô) và bốn tiểu mục in đậm: chuyện an toàn lao động, chuyện tai nạn giao thông, những trò đùa tai hại, và phần kết luận về việc coi pháp luật quan trọng như khí trời.
- Nội dung: từ những vụ việc cụ thể, bài viết chỉ ra rằng ý thức pháp luật còn kém gây nhiều hậu quả đau lòng, từ đó khẳng định muốn xã hội văn minh thì mọi người phải tôn trọng và sống theo pháp luật.
- Nghệ thuật: đề mục rõ ràng, nối nhau bằng các từ “Từ”, “Đến”, “Và”; thông tin được đưa ra qua câu chuyện có thật và con số thống kê; giọng văn vừa khách quan vừa thẳng thắn, có lúc xót xa, có lúc phê phán gay gắt.
Soạn bài Phải coi luật pháp như khí trời để thở – Chuẩn bị (trang 104)
Phần chuẩn bị nhắc em xem lại Kiến thức ngữ văn về văn bản thông tin, sau đó đọc trước bài và tự tìm thêm tư liệu cho chủ đề.
Câu 1: Đọc trước văn bản, tìm thêm bài viết về tôn trọng và chấp hành pháp luật (trang 104)
Đọc trước văn bản Phải coi luật pháp như khí trời để thở và tìm hiểu thêm các bài viết về vấn đề tôn trọng và chấp hành pháp luật trong cuộc sống.
Trả lời:
Em có thể tìm trên báo in, báo điện tử hoặc cổng thông tin phổ biến pháp luật những bài thuộc các nhóm sau:
- Bài về ý thức chấp hành luật giao thông: đội mũ bảo hiểm, không lái xe sau khi uống rượu bia, không vượt đèn đỏ.
- Bài về an toàn lao động ở công trường, nhà máy, nơi chỉ một phút lơ là có thể gây tai nạn chết người.
- Bài về văn hóa ứng xử nơi công cộng và trên mạng xã hội: xả rác, phá hoại tài sản chung, tung tin sai sự thật.
- Bài giới thiệu các phong trào tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong trường học.
Khi đọc, em nên ghi lại một hai ví dụ cụ thể để đối chiếu với các câu chuyện trong văn bản.
Câu 2: Từ nhan đề cuốn sách, dự đoán nội dung chính của văn bản (trang 104)
Văn bản được in trong cuốn sách Người Việt: Phẩm chất và thói hư tật xấu. Từ nhan đề cuốn sách, hãy dự đoán nội dung chính của văn bản này.
Trả lời:
Nhan đề cuốn sách cho thấy các bài trong đó vừa nói về điểm mạnh, vừa thẳng thắn chỉ ra những thói quen xấu của người Việt. Đặt cạnh nhan đề bài viết, em có thể đoán văn bản thuộc phần bàn về “thói hư tật xấu”: thói coi nhẹ luật lệ, sống tùy tiện, xem chuyện tuân thủ pháp luật là việc của người khác. Tác giả nêu ra những biểu hiện ấy để cảnh tỉnh và kêu gọi mọi người thay đổi.
Soạn bài Phải coi luật pháp như khí trời để thở – Câu hỏi trong khi đọc (trang 104 – 106)
Tám câu hỏi bên lề giúp em nhận ra cách bài viết được tổ chức và cách người viết đưa thông tin.
Câu 1: Nội dung in đậm có đúng yêu cầu của sa-pô không? (trang 104)
Trả lời:
Có. Sa-pô là đoạn ngắn đặt ngay dưới nhan đề, có nhiệm vụ dẫn dắt và gợi sự tò mò để người đọc muốn đọc tiếp. Phần in đậm ở đầu bài đáp ứng đúng yêu cầu đó: nó ngắn, đứng ở vị trí mở đầu, giới thiệu hoàn cảnh của người viết và hé lộ một sự cố đáng nhớ, từ đó mở đường cho các câu chuyện về ý thức pháp luật ở phía sau.
Câu 2: Văn bản có bao nhiêu tiểu mục được in đậm? (trang 104)
Trả lời:
Văn bản có bốn tiểu mục in đậm:
- Từ chuyện an toàn lao động
- Đến tai nạn giao thông
- Và trò đùa tai hại
- Phải coi pháp luật quan trọng như khí trời để thở
Ba tiểu mục đầu bắt đầu bằng “Từ”, “Đến”, “Và”, đọc liền như một câu, cho thấy các vụ việc được sắp xếp nối tiếp nhau trước khi đi tới kết luận ở tiểu mục cuối.
Câu 3: Nội dung chính của tiểu mục này là gì? (trang 105)
Trả lời:
Tiểu mục đầu tiên nói về tình trạng ý thức an toàn lao động kém của một bộ phận công nhân Việt Nam. Tác giả kể vụ cháy trong phòng nghỉ trên giàn khoan ở mỏ Bạch Hổ do một mẩu thuốc lá chưa dụi tắt, rồi nhắc thêm trường hợp một công nhân đi câu cá sau giờ làm, trượt chân rơi xuống biển. Từ đó, ông đồng tình với nhận xét của các kĩ sư Nga rằng người mình làm được việc nhưng kỉ luật chưa nghiêm: “Tôi cảm thấy lời nhận xét đó không oan uổng một tí nào.”
Câu 4: Chú ý việc nêu thông tin bằng cách kể chuyện (trang 105)
Trả lời:
Thay vì chỉ nhận xét chung chung về ý thức an toàn, tác giả kể lại diễn biến vụ cháy: nhóm thợ hút thuốc lúc giải lao, mười phút sau hai thợ sơn mở cửa thấy khói mù mịt, một người lấy chăn dập lửa, người kia kéo vòi cứu hỏa. Cách đưa tin bằng câu chuyện có ưu điểm:
- Thông tin cụ thể, có thời gian, địa điểm, nhân vật nên đáng tin.
- Người đọc hình dung được tình huống nguy hiểm như đang chứng kiến, vì thế dễ bị thuyết phục hơn.
- Bài viết bớt khô khan, lôi cuốn người đọc theo dõi đến cùng.
Câu 5: Tác dụng của các số liệu ở đây là gì? (trang 105)
Trả lời:
Trong tiểu mục về tai nạn giao thông, tác giả dẫn con số: 276 873 vụ tai nạn trong 15 năm (1990 – 2005), khiến 113 754 người tử vong, 296 592 người mang thương tật, riêng năm 2005 có 12 048 người chết. Những con số này:
- Chứng minh câu chuyện đau lòng của gia đình người bạn không phải là chuyện cá biệt mà là một thực trạng chung.
- Cho thấy quy mô khủng khiếp của tai nạn giao thông, khiến lời cảnh báo có sức nặng.
- Tăng tính khách quan, chính xác, đúng với đặc trưng của văn bản thông tin.
Câu 6: Câu văn nào thể hiện thái độ của tác giả? (trang 105)
Trả lời:
Đó là câu: “Hãy thử tưởng tượng, mỗi năm tai nạn giao thông xoá số dân số của hai xã cỡ trung bình thì mới thấy nó khủng khiếp biết chừng nào.” Phép so sánh với dân số hai xã biến con số trừu tượng thành hình ảnh cụ thể. Câu cảm thán cho thấy sự bàng hoàng, xót xa của người viết trước những mất mát mà tai nạn giao thông gây ra, qua đó ngầm lên án thói coi thường luật lệ khi tham gia giao thông.
Câu 7: Nhan đề tiểu mục này cho biết thái độ gì của tác giả? (trang 106)
Trả lời:
Tiểu mục “Và trò đùa tai hại” thể hiện thái độ phê phán, không đồng tình. Chữ “tai hại” cho thấy tác giả coi việc dọa có lựu đạn trên máy bay là hành vi gây hậu quả thật, chứ không phải chuyện đùa vô hại. Ông còn mỉa mai rằng những người đùa như vậy lại là người có học, làm nghề văn hóa: “Họ là những người làm văn hoá mà không hiểu cái tối thiểu của văn hóa pháp luật.”
Câu 8: Nội dung tiểu mục này liên quan với nhan đề như thế nào? (trang 106)
Trả lời:
Tiểu mục cuối gần như nhắc lại nhan đề, và cũng là nơi tác giả nói thẳng thông điệp của cả bài. Mẩu chuyện mà nhà văn hóa Phan Ngọc từng thuật lại giải thích vì sao lại ví pháp luật với khí trời: vị học giả người Pháp ngạc nhiên trước khẩu hiệu “Sống và làm việc theo pháp luật”, vì với ông, tuân theo pháp luật cũng tự nhiên như việc phải thở. Ví dụ về công viên Đầm Sen sạch sẽ nhờ xử phạt nghiêm cho thấy luật được thực thi thì con người tự điều chỉnh hành vi. Như vậy, tiểu mục này giải thích và khẳng định ý nghĩa của nhan đề.
Soạn bài Phải coi luật pháp như khí trời để thở – Câu hỏi sau khi đọc (trang 107)
Sáu câu hỏi sau khi đọc yêu cầu em khái quát vấn đề, bố cục, đặc điểm của văn bản thông tin và liên hệ với thực tế.
Câu 1: Văn bản viết về vấn đề gì và ý nghĩa của vấn đề ấy hôm nay (trang 107)
Văn bản Phải coi luật pháp như khí trời để thở viết về vấn đề gì? Vấn đề ấy có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống hiện nay?
Trả lời:
- Vấn đề: ý thức tôn trọng và tự giác tuân theo pháp luật của mỗi người. Tác giả cho rằng pháp luật phải trở thành điều tự nhiên, thiết yếu như khí trời; chỉ khi mỗi người tự giác sống theo luật thì xã hội mới văn minh.
- Ý nghĩa hiện nay: vấn đề vẫn còn nguyên tính thời sự. Vi phạm giao thông, coi nhẹ an toàn lao động, đùa cợt thiếu suy nghĩ trên mạng xã hội hay gian lận trong kinh doanh vẫn xảy ra. Bài viết nhắc mỗi người, nhất là người trẻ, rằng hiểu luật và tuân thủ luật là điều kiện để bảo vệ chính mình, gia đình và cộng đồng.
Câu 2: Bố cục, cách trình bày và tóm tắt từng phần (trang 107)
Bố cục và cách trình bày của văn bản có gì đáng chú ý? Tóm tắt nội dung chính của từng phần bằng một vài câu ngắn gọn.
Trả lời:
Điểm đáng chú ý: văn bản có nhan đề nêu thẳng quan điểm, đoạn sa-pô in đậm dẫn dắt, bốn tiểu mục in đậm chia bài thành các phần rõ ràng; ba tiểu mục đầu nối với nhau bằng các chữ Từ, Đến, Và, tạo thành một chuỗi, tiểu mục cuối là kết luận. Cuối bài có ghi tên tác giả và nguồn in. Cách trình bày này giúp người đọc lướt nhanh vẫn nắm được ý chính.
Tóm tắt từng phần:
- Mở đầu (sa-pô): người viết nhắc lại năm 1996, khi ông vừa là đốc công vừa là phiên dịch ở Vũng Tàu, và nhắc tới một sự cố khó quên trên giàn khoan.
- Từ chuyện an toàn lao động: vụ cháy do mẩu thuốc lá trên giàn khoan, một công nhân rơi xuống biển khi câu cá; nhận xét của người Nga về kỉ luật lao động của công nhân Việt Nam.
- Đến tai nạn giao thông: cái chết của con trai người bạn sau buổi liên hoan có rượu bia; số liệu tai nạn giao thông giai đoạn 1990 – 2005; nguyên nhân chính là ý thức pháp luật kém.
- Và trò đùa tai hại: hành khách dọa có lựu đạn trên máy bay, lặp lại nhiều lần; thêm các vụ vi phạm trong kinh doanh như mua bán hóa đơn, khai gian thuế.
- Phải coi pháp luật quan trọng như khí trời để thở: chuyện Giáo sư Phan Ngọc với vị khách người Pháp, chuyện công viên Đầm Sen; kết luận rằng thượng tôn pháp luật là con đường đi tới văn minh.
Câu 3: Chỉ ra tính chất tổng hợp của văn bản thông tin (trang 107)
Trả lời:
Tính tổng hợp thể hiện ở chỗ văn bản kết hợp nhiều cách đưa tin và nhiều phương thức biểu đạt:
- Tự sự: kể các câu chuyện có thật (vụ cháy trên giàn khoan, tai nạn ở Vinh, vụ dọa lựu đạn, cuộc trò chuyện giữa Phan Ngọc và vị khách người Pháp).
- Thuyết minh bằng số liệu: những con số về các vụ tai nạn giao thông, người tử vong và người bị thương trong mười lăm năm.
- Nghị luận: sau mỗi câu chuyện là lời bình, lời phân tích nguyên nhân, cuối bài là kết luận “Để tiến đến văn minh, phải thượng tôn pháp luật.”
- Biểu cảm: những câu cảm thán, câu hỏi tu từ bộc lộ nỗi xót xa và sự bức xúc của người viết.
- Hình thức: nhan đề, sa-pô, tiểu mục, ghi nguồn rõ ràng như một bài báo.
Câu 4: Mục đích của văn bản, cách làm sáng tỏ và thái độ người viết (trang 107)
Theo em, văn bản này nhằm mục đích gì? Mục đích ấy đã được làm sáng tỏ như thế nào? Em có nhận xét gì về thái độ và tình cảm của người viết thể hiện trong văn bản?
Trả lời:
- Mục đích: cảnh tỉnh người đọc về hậu quả của lối sống coi thường luật lệ và kêu gọi mọi người coi việc tuân thủ pháp luật là nhu cầu tự nhiên, thiết yếu của đời sống.
- Cách làm sáng tỏ: tác giả đi từ những lĩnh vực gần gũi (lao động, giao thông, đi lại bằng máy bay, kinh doanh) đến kết luận chung. Mỗi lĩnh vực có câu chuyện thật, có người thật, có khi kèm số liệu; tác giả còn dẫn nhận xét của kĩ sư Nga, lời kể của Giáo sư Phan Ngọc để tăng tính khách quan. Vụ việc nào cũng dẫn tới cùng một nguyên nhân là ý thức pháp luật yếu, nên kết luận cuối bài đến một cách tự nhiên.
- Thái độ, tình cảm: người viết thẳng thắn, không né tránh khuyết điểm của người Việt; xót thương trước những cái chết đáng tiếc; phê phán gay gắt những trò đùa vô ý thức và những vụ gian lận. Đằng sau sự phê phán là mong muốn tha thiết về một xã hội văn minh, có kỉ cương.
Câu 5: Thông tin, nhận thức bổ ích và hiện tượng vi phạm pháp luật em biết (trang 107)
Nội dung văn bản mang lại cho em những thông tin và nhận thức bổ ích gì? Hãy kể lại một vài hiện tượng vi phạm pháp luật mà em biết trong cuộc sống (được chứng kiến, nghe kể hoặc qua các phương tiện thông tin đại chúng).
Trả lời:
Những điều em học được:
- Em biết thêm những con số đáng sợ về tai nạn giao thông và thấy rõ nhiều tai nạn bắt nguồn từ những hành vi tưởng nhỏ như uống rượu rồi lái xe, hút thuốc nơi dễ cháy.
- Em hiểu rằng vi phạm pháp luật không chỉ là những tội lớn, mà còn là những thói quen tùy tiện hằng ngày.
- Em nhận ra người có học vấn chưa chắc đã có văn hóa pháp luật; hiểu biết luật phải đi cùng hành động tự giác.
- Pháp luật được thực thi nghiêm thì con người sẽ dần hình thành thói quen tốt, như ở công viên Đầm Sen.
Ví dụ về hành vi trái luật (em có thể thay bằng ví dụ mình biết):
- Học sinh đi xe máy điện, xe đạp điện không đội mũ bảo hiểm, đi hàng ba, hàng bốn trên đường đến trường.
- Có người đăng tin thất thiệt trên mạng xã hội về dịch bệnh hay thiên tai, gây hoang mang và bị cơ quan chức năng xử phạt.
- Một số quán ăn vỉa hè lấn chiếm lòng đường, xả nước thải và rác ra cống chung.
- Báo chí nhiều lần đưa tin tài xế có nồng độ cồn vượt mức cho phép gây tai nạn liên hoàn.
Câu 6: Viết đoạn văn trả lời câu hỏi: Vì sao phải coi luật pháp như khí trời để thở? (trang 107)
Viết một đoạn văn (khoảng 8 – 10 dòng) để trả lời câu hỏi: Vì sao phải coi luật pháp như khí trời để thở?
Trả lời:
Đoạn văn tham khảo:
Con người không thể sống thiếu khí trời, và một xã hội cũng không thể tồn tại bình yên nếu thiếu pháp luật. Pháp luật vạch ra ranh giới giữa điều được làm và điều bị cấm, nhờ đó quyền lợi, sức khỏe, tính mạng của mỗi người được bảo vệ. Khi ai cũng tự giác chấp hành, ta không phải lo người khác phóng nhanh vượt ẩu, không sợ bị lừa trong mua bán, không phải chứng kiến những cái chết oan uổng như các câu chuyện trong bài viết của Lê Quang Dũng. Ngược lại, chỉ một người coi thường luật lệ cũng có thể gây tai họa cho nhiều người vô tội. Gọi pháp luật là khí trời còn có nghĩa là tuân thủ nó phải trở thành thói quen tự nhiên, không cần ai nhắc nhở hay cưỡng ép. Vì vậy, mỗi học sinh nên bắt đầu từ việc nhỏ: đội mũ bảo hiểm, đi đúng làn đường, giữ gìn của công, cư xử văn minh trên mạng, để chính mình góp phần làm nên một xã hội an toàn và văn minh.
Kết luận
Văn bản Phải coi luật pháp như khí trời để thở là một bài viết thông tin tổng hợp tiêu biểu: nhan đề nêu rõ quan điểm, các tiểu mục sắp xếp chặt chẽ, thông tin đưa ra qua chuyện thật và số liệu, kèm lời bình thẳng thắn. Khi soạn bài, em cần nắm bố cục bốn tiểu mục, cách người viết kết hợp kể chuyện, số liệu và nghị luận, cùng thông điệp chính: thượng tôn pháp luật là con đường dẫn tới văn minh.
Xem thêm: