Năm 2000, ở tuổi bảy mươi, Nguyễn Khải nhận cùng lúc hai giải thưởng lớn: Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật và Giải thưởng Văn học Đông Nam Á (S.E.A. Write). Nguyễn Khải (1930 – 2008) là nhà văn trưởng thành trong quân đội, người viết Xung đột, Mùa lạc, Gặp gỡ cuối năm và truyện ngắn Một người Hà Nội mà học sinh lớp 11 đang học. Hơn nửa thế kỷ cầm bút, ông đổi đề tài nhiều lần theo thời cuộc, nhưng giữ một thói quen: thích tranh luận với chính nhân vật của mình.
Cậu học trò quê Nam Định vào bộ đội năm mười sáu tuổi

| Tên khai sinh | Nguyễn Mạnh Khải |
| Bút danh | Nguyễn Khải |
| Năm sinh – năm mất | 3/12/1930 – 15/1/2008 |
| Quê quán | Sinh ở Hà Nội; quê gốc phố Hàng Nâu, thành phố Nam Định |
| Thể loại | Tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, kí, kịch, tùy bút |
| Tác phẩm tiêu biểu | Xung đột, Mùa lạc, Chủ tịch huyện, Cha và con và…, Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người, Một người Hà Nội, Thượng đế thì cười |
| Giải thưởng | Giải Hội Nhà văn Việt Nam 1982 (Gặp gỡ cuối năm); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt II (2000); S.E.A. Write (2000) |
| Trong SGK hiện hành | Một người Hà Nội (Ngữ văn 11 Cánh diều, tập 2) |
Kháng chiến toàn quốc nổ ra khi cậu học trò Nguyễn Mạnh Khải đang học dở bậc cao đẳng tiểu học. Năm 1946, mới mười sáu tuổi, ông vào bộ đội. Những năm chống Pháp, ông làm y tá rồi chuyển sang làm báo ở tỉnh đội Hưng Yên. Tiểu thuyết đầu tay Xây dựng đem về cho ông Giải thưởng văn học Lê Thanh Nghị của Liên khu III năm 1951, rồi giải của Hội Văn nghệ Việt Nam (các nguồn ghi năm khác nhau, 1951–1952 hoặc 1952–1953).
Cuộc đời binh nghiệp của ông kéo dài hơn bốn mươi năm. Năm 1988, ông rời quân đội với quân hàm đại tá, về làm việc ở Hội Nhà văn Việt Nam. Ông từng là Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn khóa III và đại biểu Quốc hội khóa VII.
Về xứ đạo Nghĩa Hưng để viết Xung đột
Năm 1955, Nguyễn Khải được cử về trại sáng tác chuyên viết về các anh hùng do Tổng cục Chính trị tổ chức. Theo Bảo tàng Văn học Việt Nam, sau đó ông có mặt trong ban biên tập đầu tiên của tạp chí Văn nghệ quân đội và trở thành cán bộ sáng tác của tạp chí này. Cùng lứa với ông ở “cánh Văn nghệ quân đội” có những cây bút như Nguyễn Minh Châu.
Cách viết của ông khi ấy rất gần với nghề báo: đi thực tế dài ngày, sống cùng người thật. Báo Tiền Phong kể rằng năm 1956, ông về xã Nghĩa Hòa, huyện Nghĩa Hưng (Nam Định), ở nhiều đợt theo lối “ba cùng” để lấy tư liệu cho tiểu thuyết Xung đột. Cuốn sách viết về một vùng công giáo trong những năm đầu hòa bình, in thành hai phần năm 1959 và 1962, và là tác phẩm khiến giới văn chương chú ý tới tên tuổi Nguyễn Khải.
Cũng theo Tiền Phong, nhân vật Nhàn trong truyện lấy từ nguyên mẫu một nữ chủ tịch xã trẻ ở xứ đạo Quỹ Nhất, tên chỉ bị đổi chệch đi một chút. Cuối năm 1995, gần bốn mươi năm sau, ông cùng Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Đức Mậu trở lại Nghĩa Hưng tìm gặp những người từng đi vào trang sách. Người Công giáo về sau còn trở lại nhiều lần trong văn ông, ở Cha và con và…, Thời gian của người, Điều tra về một cái chết.
Mùa lạc, truyện ngắn quen thuộc với nhiều thế hệ học trò
Năm 1960, Nguyễn Khải in tập truyện Mùa lạc. Truyện cùng tên kể về Đào, một người đàn bà nhiều lần lỡ dở, lên nông trường ở Điện Biên và tìm lại niềm vui sống giữa tập thể mới. Câu chuyện giản dị nhưng có chiều sâu tâm lý, nên trong nhiều năm được dạy ở nhà trường và từng xuất hiện trong các đề thi.
Báo Công an nhân dân có kể một giai thoại do nhà văn Ngô Vĩnh Bình thuật lại: con trai Nguyễn Khải nhờ bố giảng giúp về Mùa lạc, nộp bài theo đúng ý bố và chỉ được 2 điểm, kèm lời phê “lạc đề”. Chuyện vui ấy cho thấy khoảng cách quen thuộc giữa điều nhà văn nghĩ và cách nhà trường đọc tác phẩm.
Về sau, chương trình Ngữ văn thay Mùa lạc bằng Một người Hà Nội, một truyện viết sau đó ba mươi năm, với một giọng kể đã khác hẳn.
Những trang viết thời chống Mỹ
Thập niên 1960–1970, Nguyễn Khải đi nhiều mặt trận và viết liên tục. Theo danh mục của Bảo tàng Văn học Việt Nam và Wikipedia tiếng Việt, đây là giai đoạn ông in nhiều sách nhất:
| Năm | Tác phẩm | Thể loại |
|---|---|---|
| 1966 | Họ sống và chiến đấu | Kí |
| 1970 | Đường trong mây; Ra đảo | Truyện |
| 1972 | Chủ tịch huyện | Truyện vừa |
| 1973 | Chiến sĩ | Tiểu thuyết |
| 1976 | Tháng Ba ở Tây Nguyên | Kí |
| 1978 | Cách mạng | Kịch |
Ngay ở những trang viết về chiến tranh, nhân vật của Nguyễn Khải đã hay nói, hay lý lẽ, có khi tranh cãi với nhau hàng trang. Đó là dấu hiệu sớm của lối văn mà sau này người ta nhận ra ngay khi đọc vài đoạn.
Đời riêng thì vất vả. Nhà phê bình Vương Trí Nhàn kể rằng đến khoảng năm 1980, cả gia đình ông vẫn ở một căn phòng 14 m² ngoài bãi Phúc Xá, mùa nước sông Hồng lên lại phải dọn đi. Sau năm 1975, Nguyễn Khải chuyển hẳn vào sống ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Cha và con và…, Gặp gỡ cuối năm: khi nhân vật bắt đầu tự vấn
Cuối thập niên 1970, văn Nguyễn Khải rẽ sang một hướng mới. Thay vì những tập thể và phong trào, ông viết về con người trong đời thường, về đức tin, về những câu hỏi mà một cá nhân phải tự trả lời. Tiểu thuyết Cha và con và… (1979) viết về đời sống một xứ đạo và những người làm linh mục giữa thời cuộc đổi thay. Gặp gỡ cuối năm (1982) để những con người thuộc nhiều phía gặp nhau trong một dịp cuối năm ở Sài Gòn sau chiến tranh, cùng nhìn lại quá khứ; cuốn này đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1982. Tiếp đó là Thời gian của người (1985) và Điều tra về một cái chết (in năm 1984 theo Bảo tàng Văn học, Wikipedia ghi 1986).
Đọc những cuốn này, người ta dễ thấy cái giọng triết luận của ông: nhân vật tranh biện, người kể chen vào bình luận, câu văn nhiều khi như một lập luận thu nhỏ. Vương Trí Nhàn, người theo dõi ông nhiều năm, gọi đó là lối “hay lý sự hay khái quát”. Cũng theo ông Nhàn, từ sau năm 1986 chất tự truyện trong văn Nguyễn Khải đậm dần: nhà văn hiện ra trực tiếp, kể chuyện chính mình.
Một người Hà Nội và cô Hiền
Truyện ngắn Một người Hà Nội được viết xong ngày 19/1/1990, sau đó trở thành tên một tập truyện; văn bản trong sách giáo khoa lấy theo tập Hà Nội trong mắt tôi (NXB Hà Nội, 1995). Người kể xưng “tôi”, một cán bộ kháng chiến về Hà Nội năm 1955, ban đầu nghi ngại gia đình bà cô họ sống quá nền nếp, sang trọng. Qua mấy chục năm, từ thời cải tạo đến chiến tranh rồi đổi mới, anh hiểu dần cô Hiền: tỉnh táo, biết thời, dạy con lòng tự trọng và để các con ra trận khi đất nước cần.
Truyện khép lại bằng chuyện cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn bị bão quật đổ rồi được cứu sống, và hình ảnh những “hạt bụi vàng” của đất kinh kỳ. Bài Một người Hà Nội: tác giả, tác phẩm có bố cục, giá trị nội dung và sơ đồ tư duy; nếu cần bài văn hoàn chỉnh, xem phân tích Một người Hà Nội.
Truyện Nguyễn Khải trong chương trình Ngữ văn
| Văn bản | Sách – bài học | Bài trên Văn VN |
|---|---|---|
| Một người Hà Nội | Ngữ văn 11 Cánh diều, tập 2 – Bài 5 (Truyện ngắn) | Soạn bài Một người Hà Nội |
| Một người Hà Nội | Ôn tập, tóm tắt | Tóm tắt Một người Hà Nội |
| Một người Hà Nội | Viết đoạn mở bài | Mở bài Một người Hà Nội |
| Mùa lạc (trích) | Chương trình Ngữ văn cũ, không còn trong ba bộ sách hiện hành | — |
Khi học Một người Hà Nội, nên để ý vai trò của người kể chuyện: anh vừa là nhân chứng vừa tự sửa dần cách nhìn của mình. Đó cũng là kiểu người kể quen thuộc trong văn Nguyễn Khải giai đoạn sau.
Thượng đế thì cười và những trang viết cuối đời
Năm 2003, Nguyễn Khải in tiểu thuyết Thượng đế thì cười, viết với giọng gần như hồi ký về chính đời viết văn của mình. Tác phẩm cuối cùng của ông là tùy bút Đi tìm cái tôi đã mất (khoảng năm 2006), những trang tự vấn của một người cầm bút nhìn lại hơn nửa thế kỷ. Ngoài nước, tuyển truyện của ông có bản tiếng Anh Past Continuous (2001) do Phan Thanh Hảo và Wayne Karlin dịch.
Nguyễn Khải mất lúc 19 giờ 25 ngày 15/1/2008 tại Bệnh viện Nhân dân 115, Thành phố Hồ Chí Minh, sau khoảng một tháng nằm viện. Ai muốn nghe ông nói về nghề có thể đọc bài Người viết sau mình có là thầy mình?, những câu chuyện về cách học viết mà một người làm báo ghi lại sau nhiều lần đến nhà ông lấy bài.